Luận văn thạc sĩ về quy trình nấu luyện hợp kim nhôm và ứng dụng biến tính

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quy trình nấu luyện hợp kim trung gian áb và ứng dụng biến tính nhôm, hợp kim nhôm trong kỹ thuật vật liệu.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

94
6
2

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quy trình nấu luyện hợp kim nhôm

Quy trình nấu luyện hợp kim nhôm là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Hợp kim nhôm được sản xuất từ các nguyên liệu như nhôm thương phẩm và các hợp chất borit. Quy trình này bao gồm các bước như nấu chảy, trộn lẫn và làm nguội. Việc sử dụng hợp kim trung gian Al-B trong quy trình nấu luyện giúp cải thiện đáng kể tính chất cơ lý của nhôm. Theo nghiên cứu, tỉ lệ Na3AlF6: H3BO3 = 6.6:1, thực hiện ở nhiệt độ 1200°C trong thời gian 15-30-60 phút cho thấy hiệu quả cao trong việc tạo ra hợp kim AlB1. Hợp kim này không chỉ giảm thiểu khói bụi mà còn cải thiện điều kiện làm việc trong nhà máy. Kết quả phân tích cho thấy thành phần %B trong hợp kim AlB1 đạt khoảng 0.98%, tương đương với tiêu chuẩn quốc tế.

1.1. Nguyên liệu nấu luyện

Nguyên liệu nấu luyện hợp kim nhôm bao gồm nhôm thương phẩm và các hợp chất như axit boric và cryolit. Việc lựa chọn nguyên liệu chất lượng cao là rất quan trọng để đảm bảo tính đồng nhất và ổn định của hợp kim. Hợp kim trung gian Al-B được sản xuất từ bột axit boric H3BO3 và cryolit Na3AlF6, giúp tạo ra các pha borit nhôm AlB2 và AlB12. Quá trình này không chỉ giúp cải thiện độ dẫn điện mà còn nâng cao tính chất cơ lý của nhôm. Việc sử dụng các nguyên liệu này trong quy trình nấu luyện cũng giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo ra sản phẩm an toàn hơn cho người sử dụng.

II. Ứng dụng biến tính hợp kim nhôm

Biến tính hợp kim nhôm là một quy trình quan trọng nhằm cải thiện các tính chất cơ lý của nhôm và hợp kim nhôm. Hợp kim trung gian AlB1 và AlTi5B1 được sử dụng để biến tính cho nhôm sạch và các hợp kim nhôm như 6201 và 413. Kết quả nghiên cứu cho thấy hợp kim AlTi5B1 có khả năng biến tính tốt hơn cho nhôm sạch và hợp kim 6201, trong khi hợp kim AlB1 lại cho kết quả tốt hơn với hợp kim 413. Việc so sánh khả năng biến tính giữa các hợp kim này giúp xác định được ứng dụng phù hợp cho từng loại hợp kim, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.

2.1. Khả năng biến tính của hợp kim

Khả năng biến tính của hợp kim nhôm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm thành phần hóa học và quy trình nấu luyện. Hợp kim AlB1 cho thấy khả năng biến tính tốt khi được sử dụng với nhôm sạch và hợp kim 413. Ngược lại, AlTi5B1 lại tỏ ra ưu việt hơn khi áp dụng cho hợp kim 6201. Việc nghiên cứu và so sánh khả năng biến tính này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn tối ưu hóa quy trình sản xuất. Các kết quả phân tích cho thấy rằng, việc sử dụng hợp kim trung gian trong quy trình nấu luyện có thể làm giảm đáng kể tạp chất trong nhôm, từ đó nâng cao độ dẫn điện và tính chất cơ lý của sản phẩm cuối cùng.

III. Đánh giá và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu quy trình nấu luyện hợp kim nhôm và ứng dụng biến tính không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn trong ngành công nghiệp. Việc phát triển quy trình sản xuất hợp kim trung gian Al-B trong nước sẽ giúp giảm thiểu chi phí và tăng tính chủ động trong sản xuất. Hợp kim nhôm biến tính có thể được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất dây điện, cáp điện và các sản phẩm khác. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp nhôm tại Việt Nam.

3.1. Tính ứng dụng trong công nghiệp

Tính ứng dụng của hợp kim nhôm biến tính trong công nghiệp rất đa dạng. Hợp kim nhôm sau khi được biến tính có thể được sử dụng trong sản xuất dây điện, cáp điện, và các sản phẩm yêu cầu độ dẫn điện cao. Việc sử dụng hợp kim trung gian Al-B giúp cải thiện đáng kể độ dẫn điện và tính chất cơ lý của nhôm, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất. Các nhà máy sản xuất dây điện có thể chủ động hơn trong việc kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào, giảm thiểu chi phí và tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo tìm hiểu tại một số nhà máy và xưởng sản xuất dây điện và cáp điện bằng nhôm như CADIVI, Nexan, Tín Thành,… thì để xử lý nhôm thương phẩm có hàm lượng tạp chất cao, không đạt các chỉ tiêu về độ dẫn điện, các nhà sản xuất thường dùng biện pháp là mua thêm nhôm có độ sạch cao rồi phối trộn với nhôm có hàm lượng tạp chất cao để giảm hàm lượng tạp chất trong nhôm từ đó cải thiện độ dẫn điện của nhôm thương phẩm. Phương pháp này tuy đơn giản, nhưng chi phí không rẻ, không chủ động về thời gian, phải chờ nhập được nhôm sạch về mới sản xuất tiếp được. Có một cách khác để giải quyết vấn đề này là một vài nhà máy đã mua hợp kim trung gian Al-B của Trung Quốc, Ấn Độ,… và đưa vào quá trình nấu lại nhôm thương phẩm nhằm cải thiện độ dẫn điện của nhôm. Tuy nhiên, chất lượng hợp kim trung gian thường không ổn định làm ảnh hưởng đến chất lượng sản xuất của xí nghiệp.

Việc sử dụng hợp kim trung gian Al-B trong sản xuất dây điện chưa được phổ biến do giá cả hợp kim trung gian Al-B nhập ngoại khá cao, khan hiếm nên không chủ động được nguồn cung phục vụ sản xuất. Mà bên cạnh đó, cho đến hiện nay thì vẫn chưa có cơ sở nào trong nước sản xuất được hợp kim trung gian Al-B để cung cấp cho thị trường trong nước và cũng chỉ có vài công trình nghiên cứu về công nghệ chế tạo hợp kim trung gian Al-B và sử dụng hợp kim trung gian Al-B vào quá trình biến tính nhôm và hợp kim nhôm. Hiện tại, với hai dự án khai thác nhôm là dự án Nhân Cơ, Đak Nông, công suất 600.000 tấn alumin/năm, dự án thứ hai là dự án Tân Rai, Lâm Đồng, công suất 630.000 tấn alumin/năm đã vận hành thử vào giữa tháng 11/2011, ngành công nghiệp nhôm nước ta sẽ phát triển và nhu cầu sử dụng hợp kim trung gian Al-B sẽ ngày càng tăng. Nếu ta chủ động và kiểm soát được nguồn cung Al-B sẽ giúp ích được rất nhiều cho các nhà máy sản xuất dây điện và cáp điện trong việc tự chủ nguồn nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và tăng sức cạnh tranh trên thị trường.1 Các phương pháp chế tạo hợp kim trung gian Al-B 1.1 Sản xuất hợp kim trung gian Al-B từ muối halogen KBF4 [29] Hợp kim trung gian Al-B được sản xuất từ nhôm thương phẩm 99,7% được nung nóng trước tới 3500C trước khi cho vào lò cảm ứng tần số 50 Hz nấu chảy ở 8500C.

Nhôm lỏng được trộn với muối bột kali floruaborat (KBF4) tạo thành hợp chất Al-B cộng với muối kali aluminum florit (dạng hợp chất xỉ), sau đó khối kim loại được khuấy trộn bằng một máy trộn cơ. Phản ứng giữa muối và nhôm tại bề mặt kim loại lỏng theo phản ứng sau: 3(Al) +2(KBF4) → AlB2 + 2(KAlF4) (1.1) Xỉ được lấy ra từ lò ở bề mặt kim loại lỏng. Hợp kim rót ra từ lò lấy làm mẫu và đi soi kim tương xem tổ chức. Kết quả đạt được sau khi soi kim tương ở độ phóng đại 100 lần là tất cả các mẫu đều chứa hợp chất AlB2 dạng hình tấm mỏng.

Các mẫu cũng có một tỷ lệ muối kali aluminum florit bao bọc xung quanh AlB2. Phương pháp này có ưu điểm là việc nấu luyện được thực hiện dễ dàng ở nhiệt độ tương đối thấp. Tuy nhiên giá thành của hợp kim trung gian Al-B sẽ khá cao do giá của KBF4 cao và khan hiếm.2 Sản xuất hợp kim trung gian Al-B từ borax (Na2B4O7.nH2O) hay từ oxit boric [28] Nhôm lỏng sẽ hoàn nguyên borax hay oxit boric khi đưa chúng vào ở nhiệt độ đủ cao. Khoảng 50gam borax được cho vào nối nấu oxit nhôm với 100g nhôm tinh khiết 99,99%.

Nồi nấu được đặt trong một lò ống và được đun nóng tới 13600C dưới dòng khí Argon. Khi borax tan chảy, nước trong hydrat được giải phóng ở 2000C. Nồi nấu được chuyển đến khu vực nhiệt độ 6000C của lò sau khi giữ nhiệt ở 13600C trong 30 phút. Lò được phép cân bằng khoảng10 phút và sau đó làm nguội tới nhiệt độ phòng với tốc độ 10C/phút.

3 Như mô tả, AlB2 có tỷ lệ cao được tổng hợp bằng các phản ứng hóa học của borax hay oxit boric nóng chảy với nhôm ở 13600C. Ở nhiệt độ này, cả borax và oxit boric dạng chất lỏng nhớt thủy tinh không thể trộn lẫn với nhôm lỏng. Cả hai nhẹ hơn nhôm và nổi trên bề mặt nhôm lỏng (Al: 2,7g/cm3, B2O3:1,844g/cm3, Na2B4O7: 2,367g/cm3). Phản ứng hóa học xảy ra tại bề mặt phân pha giữa nhôm lỏng và hợp chất chứa Bo ở dạng thủy tinh.

Đối với oxit boric có thể biểu hiện bằng phản ứng: 3Al(lỏng) + B2O3(lỏng) = AlB2(rắn) + Al2O3 (1.2) Tương tự đối với borax 20Al(lỏng) + 3Na2B4O7 (lỏng) = 6AlB2(rắn) + 7Al2O3(rắn) + 6Na(lỏng) (1.3) Cả hai phản ứng này không hoàn toàn vì Al2O3 sinh ra trên bề mặt phân cách giữa kim loại lỏng và dạng thủy tinh làm chậm quá trình phản ứng. Xỉ này cùng với oxit dạng thủy tinh tạo một cơ chế bảo vệ nhôm và AlB2 hiệu quả từ môi trường. Natri được giải phóng từ quá trình hoàn nguyên borax. Một lượng nhỏ (khoảng 0.18%) được hòa tan vào nhôm lỏng, phần còn lại bị giữ ở trong lớp xỉ.3 Sản xuất hợp kim trung gian Al-B từ bột Bo và nhôm sạch trong môi trường khí trơ [3] Theo Deppisch và Kisly [3] thì khi nung nóng hỗn hợp bột Bo vô định hình với nhôm sạch ở nhiệt độ 1400-18000C trong môi trường khí trơ, Bo sẽ hòa tan vào nhôm lỏng và phản ứng với nhôm để tạo thành boric nhôm AlB2 theo phản ứng: Al + 2Bvdh = AlB2 (1.4) Các phương pháp trên đòi hỏi phả có bột bo và tiến hành ở nhiệt độ cao nhưng hiện nay bột bo trên thị trường Việt Nam rất khan hiếm nên phương pháp này khó thực hiện được.4 Sản xuất hợp kim trung gian Al-B từ oxit boric và bột cryolit [18] Theo GB Patent 915693 [18], có thể sản xuất hợp kim trung gian Al-B bằng cách đưa hỗn hợp bột oxit boric B2O3 và criolit Na3AlF6 vào nhôm lỏng ở 9700C trong môi trường khí Argon.

Sau khi phản ứng 2Al + B2O3 = 2B + Al2O3 xảy ra, Al2O3 tạo thành hòa tan trong criolit nóng chảy và B đi vào nhôm lỏng để tạo thành hợp kim Al-B. Hợp kim được nung nóng đến 1120oC để phân tách kim loại lỏng với xỉ. Tỉ lệ Al2O3 tạo thành và Na3AlF6 có thể từ 1:2. Đây là phương pháp chế tạo hợp kim trung gian Al-B từ oxit boric có giá rẻ hơn so với KBF4 và không khan hiếm trên thị trường Việt Nam.

Tuy nhiên, khí Argon khá đắt và đòi hỏi cần có thiết bị dẫn khí vào lò nấu luyện.2 Ảnh hưởng của Bo đến độ dẫn điện của nhôm Về mặt lý thuyết Bo có ảnh hưởng rất mạnh đến tính chất của nhôm và hợp kim của chúng về độ bền cũng như độ dẫn điện. Tuy Bo có nhiệt độ nóng chảy cao 0 0 0 0 gấp 3 lần Al ( t ncAl = 660 C, t ncB = 2075 C), khả năng hòa tan của B vào nhôm rất thấp nhưng nó lại gây ảnh hưởng rất đáng kể. Với đặc điểm Bo là nguyên tố dùng để biến tính làm nhỏ hạt, thêm Bo vào nhôm với khối lượng cần thiết để tạo hợp chất hóa học với các tạp chất có trong nhôm. Nhưng trên thực tế lượng B thêm vào phải lớn hơn do đó nó có khả năng tạo ra các pha liên kim loại AlB2, AlB12 và nó sẽ kết hợp với các nguyên tố tạp chất như Ti, V, Cr, Fe, Mn… tạo ra các pha liên kim và trong quá trình nấu luyện cần tăng thời gian để cho những pha này lắng xuống đáy nồi và loại bỏ chúng.

Do đó làm giảm được sai lệch mạng và làm giảm được điện trở. Nguyên nhân làm cho các pha liên kim có thể tách khỏi nhôm lỏng là do khi kết hợp với Bo thì bản thân những pha này có khối lượng riêng khá cao so với nhôm nguyên chất nên lắng xuống đáy và được loại bỏ (Bảng 1. Khối lượng riêng của các hợp chất bori ,[18] Hợp chất borit Khối lượng riêng, kg/m3 TiB 44,5.103 Al nguyên chất 2,7.103 Sau khi kết hợp với Bo thì thành phần của Ti, V, Cr sẽ giảm đi từ 60 đến 70% và nhôm sẽ được làm sạch tạp chất. Trước khi cho Al-B Sau khi đưa B vào Sau khi borit lắng xuống Độ dẫn điện thấp Độ dẫn điện cao hơn Độ dẫn điện cao nhất Hình 1.

Các giai đoạn biến tính hình thành pha boric [18] 1.3 Lý do hình thành đề tài Với mục tiêu hoàn thiện quy trình chế tạo hợp kim trung gian AlB1, tác giả đã định hướng sử dụng phản ứng hoàn nguyên Bo từ hợp chất trong lòng nhôm lỏng để tạo thành hợp kim AlB1. Từ thực tế quan sát và tìm hiểu quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu chế tạo hợp kim trung gian Al-B nhằm cải thiện độ dẫn điện của nhôm làm cáp điện” của Thạc sĩ Nguyễn Minh Hoàng Sơn [2], tác giả nhận thấy rằng công nghệ sử dụng axit boric H3BO3 và cryolit Na3AlF6 để chế tạo hợp kim trung gian AlB1 là khả thi và có tính ứng dụng cao, bằng cách cho hỗn hợp bột H3BO3 và Na3AlF6 đã được sấy khô vào trong nhôm chảy lỏng, được che phủ dưới lớp trợ dụng Na3AlF6 để ngăn ngừa oxi hóa nhôm và Bo sau khi hoàn nguyên. 6 Tuy nhiên, khi cho hỗn hợp bột sấy khô vào nhôm lỏng ở nhiệt độ cao sinh ra khói bụi do hơi ẩm bốc lên kéo theo bụi là các hạt bột axit boric và cryolit khiến cho điều kiện làm việc vô cùng ô nhiễm, tiêu hao nguyên liệu, hiệu suất thu hồi Bo thấp và chất lượng hợp kim trung gian AlB1 thu được không cao. Cho nên tác giả nhận thấy cần phải tìm cách hoàn thiện quy trình nấu luyện chế tạo hợp kim trung gian AlB1 từ axit boric và cryolit để có thể cải thiện được môi trường làm việc và nâng cao hiệu suất thu hồi hợp kim trung gian AlB1 mà vẫn đảm bảo được tỉ lệ % Bo trong hợp kim trung gian thu được (0.

Hợp kim trung gian AlB1 chế tạo được sẽ dùng biến tính làm nhỏ hạt cho nhôm và hợp kim nhôm bao gồm : nhôm kỹ thuật, hợp kim nhôm biến dạng 6201 và hợp kim nhôm đúc 413.0 để khảo sát khả năng biến tính làm nhỏ mịn hạt và khả năng cải thiện độ dẫn điện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu quy trình nấu luyện hợp kim nhôm và ứng dụng biến tính" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình chế tạo hợp kim nhôm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tối ưu hóa các thông số nấu luyện để cải thiện tính chất cơ học và khả năng ứng dụng của vật liệu. Qua đó, bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về công nghệ chế tạo hợp kim nhôm mà còn mở ra những cơ hội ứng dụng trong các lĩnh vực như sản xuất dây cáp điện và các sản phẩm công nghiệp khác.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu hợp kim nhôm chịu nhiệt alzr cho sản xuất dây cáp điện, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về các hợp kim nhôm chuyên dụng trong ngành điện. Ngoài ra, bài viết Nghiên cứu chế tạo vật liệu sắt điện batio3 và tổ hợp batio3 fe3o4 cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về các vật liệu điện tử tiên tiến. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu chế tạo vật liệu cao su chống rung giảm chấn trên cơ sở cao su thiên nhiên sẽ giúp bạn hiểu thêm về các vật liệu giảm chấn, có thể liên quan đến ứng dụng của hợp kim nhôm trong các sản phẩm công nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực vật liệu.