Chương 1. Tổng quan Chương 2. Thực nghiệm Chương 3. Kết quả và thảo luận Kết luận z 8 Chƣơng 1: Tổng quan 1.
Vật liệu sắt điện Vật liệu sắt điện thường được mô tả là vật liệu không có tâm đối xứng, có độ phân cực tự phát và độ phân cực này có thể thay đổi (đảo chiều được) dưới tác dụng của điện trường ngoài. Về mặt cấu trúc tinh thể, vật liệu sắt điện khá giống với vật liệu hoả điện tức là có cùng nhóm đối xứng điểm, chỉ có một trục phân cực và không có mặt đối xứng nào vuông góc với trục phân cực. Để độ phân cực trong vật liệu sắt điện có thể bị đảo chiều dưới tác dụng của điện trường ngoài, cấu trúc tinh thể của vật liệu sắt điện thường có tính đối xứng cao và trong tinh thể xảy ra những sự phá vỡ đối xứng nhỏ, điển hình là cấu trúc perovskite, khiến cho tâm của hệ các điện tích âm và hệ các điện tích dương không trùng nhau. Sự phá vỡ tính đối xứng này bao gồm sự chuyển dời có cực của các ion trong ô cơ sở.
Đường cong điện trễ của 1 số gốm sắt điện điển hình: thuận điện (a), sắt điện (b), relaxor(c), phản sắt điện (d) Các đặc tính của những vật liệu sắt điện là tính áp điện, hoả điện và sắt điện. Nổi bật trong các tính chất này là đặc trưng trễ của độ phân cực như là một hàm của điện trường ngoài (xem hình 1. Phân cực tự phát và sự chuyển pha trong BaTiO3 1.1 Phân cực tự phát a, Các cơ chế phân cực [1]: Độ phân cực tự phát được định nghĩa là giá trị mô men lưỡng cực điện trên một đơn vị thể tích, hoặc là giá trị của điện tích trên một đơn vị điện tích bề mặt vuông góc với trục của phân cực tự phát. Bản thân các tính chất điện liên quan rất mạnh đến cấu trúc tinh thể.
z 9 Trục phân cực tự phát thường là các trục tinh thể. Nhìn chung, các tinh thể có trục cực đều tồn tại hiệu ứng áp điện. Mọi phân tử trong chất điện môi đều trung hoà điện: Tổng các điện tích âm của các điện tử và điện tích dương của các hạt nhân nguyên tử bằng không. Nếu các điện tích dương có các tọa độ tương ứng là x+, y+, z+ thì cũng có thể định nghĩa “trọng tâm” chung của các điện tích dương G+ với toạ độ X+, Y+, Z+.
Tương tự, trong toạ độ “trọng tâm” chung của tất cả các điện tích âm G- với tạo độ X-, Y- Z-. Do chuyển động nhiệt, toạ độ của các điện tích riêng rẽ cũng như tạo độ của các “trọng tâm” G+ và G- thay đổi theo thời gian. Trong trường hợp này, ta cân xem xét vị trí trung bình của chúng. Nếu vị trí trung bình <G-> và <G+> của hai tâm điện trùng nhau, phân tử được xem như không phân cực.
Ngược lại, nếu vị trí trung bình bình <G-> và <G+> của hai tâm điện không trùng nhau, phân tử được coi là phân cực. Khi đó, các phân tử mang một mômen lưỡng cực tự phát hay độ phân cực tự phát. Có 3 cơ chế phân cực cơ bản sau: - Phân cực điện tử cảm ứng: Khi đặt một phân tử không phân cực (ví dụ như các phân tử H2, O2,.) trong một điện trường ngoài E , quỹ đạo của các điện tử bị biến dạng. Vị trí trung bình bình bình <G+> sẽ chuyển dịch tới <G‟+> với véc tơ G+G‟+ cùng chiều với véctơ E.
Vị trí trung bình <G-> sẽ dịch chuyển đến <G‟-> với véc tơ G-G‟- ngược chiều với véc tơ E. Lúc này, vị trí của các tâm điện G‟+ và G‟- sẽ lệch nhau và phân tử có mômen lưỡng cực p e gọi là mômen lưỡng cực cảm ứng điện tử. Nếu phân tử đã có mômen lưỡng cực tự phát, hiện tượng tương tự cũng sẽ xảy ra: điện trường ngoài làm biến đổi mômen lưỡng cực tự phát bằng cách bổ sung thêm mômen lưỡng cực cảm ứng làm định hướng các mômen này theo điện trường ngoài. - Phân cực ion cảm ứng: Hãy xét đến một tinh thể có cấu trúc “lưới tinh thể ion” (như BaTiO3, NaCl…).
Các tinh thể như vậy có thể được xem là một phân tử khổng lồ, trong đó các mạng ion dương và ion âm lồng vào nhau với điện tích tổng cộng trong một ô mạng bằng không, đồng thời các trọng tâm của các điện dương và âm trùng nhau. Dưới tác dụng của điện trường ngoài, các mạng ion dịch chuyển tương đối với nhau và làm xuất hiện điện tích liên kết trên các bề mặt tinh thể. Nếu một ion dương mang điện tích q+ dịch chuyển một khoảng l+ và một ion âm mang điện tích q- dịch chuyển một khoảng l-, một cặp ion đối dấu có một mômen lưỡng cực: pi = q+l+ - q-l- (1.1) Gọi N+ và N- là số ion dương và âm trên một đơn vị thể tích tương ứng, véc tơ phân cực ion Pi được viết như sau: Pi = N+q+l+ - N-q-l- (1.2) z 10 Chú ý rằng, sự phân cực ion vừa trình bày cũng được bổ sung bởi sự phân cực điện tử của từng ion. Do đó, sự phân cực tổng cộng sẽ là: P = Pe+Pi (1.3) - Phân cực định hướng: Trong các chất điện môi phân cực tự phát, mỗi phân tử điện môi được coi là một mômen lưỡng cực điện.
Do chuyển động nhiệt hỗn loạn, các lưỡng cực phân tử sắp xếp hỗn loạn theo mọi phương. Vì vậy, tổng mômen điện của các mômen điện bằng không. Khi tác dụng điện trường ngoài, các mômen định hướng theo trường ngoài. Điện trường ngoài càng lớn thì sự định hướng càng mạnh.
Trong trường hợp này, độ phân cực được tính bằng công thức sau: P = Np0L(a) (1.4) trong đó N là số phân tử của hệ, p0 mômen của một lưỡng cực điện, L(a) là hàm Langevin. Trong nhiều trường hợp, độ phân cực tự phát có thể xuất hiện trong một số hợp chất và ở dưới một nhiệt độ nào đó (gọi là nhiệt độ chuyển pha T0) ngay cả khi không có điện trường tác dụng. Sự xuất hiện của độ phân cực tự phát như vậy có thể liên quan đến sự thay đổi trật tự của các ion. Khi đó, sự biến đổi theo nhiệt độ của độ cảm điện môi chỉ quan sát thấy ở nhiệt độ T > T0.
Ở nhiệt độ T < T0 độ phân cực xuất hiện và tăng lên khi nhiệt độ giảm. Sắt điện là một tinh thể có cực, nó có tính chất đặc biệt là chiều phân cực tự phát khi không có trường ngoài. Trạng thái sắt điện chỉ tồn tại dưới một nhiệt độ tới hạn To nào đó. b, Sự phân cực của perovskite sắt điện: Trong vật liệu perovskite sắt điện, xét tương tác giữa ion O2- ở đỉnh bát diện và ion B4+ nằm trong hốc bát diện.
Do sự cạnh tranh giữa hai tương tác đẩy Pauli và hút Coulomb nên xuất hiện một cực tiểu năng lượng (hố thế). Xét tương tác của một ion O2- khác nằm ở phía đối diện với ion O2- đã xét so với B4+ ta cũng có một hố thế khác. Hai hố thế này không trùng khít lên nhau nên tạo thành hai hố nằm về hai phía tâm điện tích của hai ion O2- đã xét. Ion B4+ có thể nằm tại một trong hai hố thế trên mà hố thế này lại không phải là tâm điện tích âm nên xuất hiện một lưỡng cực điện tự phát P.
Do hàng rào thế ranh giới giữa 2 hố thế trên là khá cao, cỡ một vài eV, nên phân cực điện này rất bền vững ngay cả khi có điện trường ngoài. Hai hố thế này hình thành càng rõ rệt và chiều cao của hàng rào thế càng lớn khi khoảng cách giữa các ion O2- nằm trên các đỉnh của khối bát diện càng lớn. Hiện tượng phân cực tự phát liên quan rất chặt chẽ tới chuyển pha cấu trúc. z 11 Hãy xét trường hợp phân cực tự phát của vật liệu perovskite BaTiO3 tại các pha cấu trúc khác nhau.
Tại nhiệt độ lớn hơn 120°C của BaTiO3 có cấu trúc lập phương (hình 1. Lúc này cấu trúc là xếp chặt hoàn hảo nên không có sự phân cực tự phát trong ô mạng. Khi nhiệt độ giảm xuống dưới 120°C BaTiO3 có 3 pha cấu trúc khác. Bằng phương pháp nhiễu xạ nơtron, người ta đã xác định được độ dịch chuyển của các ion trong ô mang BaTiO3 sắt điện.
Chính sự dịch chuyển này đã làm thay đổi sự phân bố các ion trong mạng BaTiO3 tạo nên sự nén mạng và chuyển cấu trúc từ lập phương sang tứ giác. Như vậy, nguyên nhân của hiện tượng phân cực tự phát trong BaTiO3 là do độ linh động lớn của Ti trong khối bát diện oxy. Pha cấu trúc và phân cực tự phát BaTiO3 Tương tự, ở pha đơn tà, hai cạnh đối diện của ô mạng perovskite bị “kéo giãn” làm xuất hiện véc-tơ phân cực tự phát song song với đường chéo của mặt bị kéo giãn của ô mạng. Với pha trực thoi, 2 đỉnh đối diện của ô cơ sở bị “kéo giãn” làm xuất hiện véc – tơ phân cực tự phát dọc theo đường chéo chính của ô mạng.
Hiện tƣợng điện trễ - Cấu trúc domain 1.1 Hiện tƣợng điện trễ Vật liệu sắt điện là vật liệu có độ phân cực tự phát dưới tác dụng của điện trường ngoài độ phân cực này sẽ thay đổi về độ lớn và hướng. Tính chất đặc trưng này của vật liệu sắt điện được thể hiện bằng đường cong điện trễ mô tả sự phụ thuộc của độ phân cực vào cường độ điện trường ngoài (xem hình 1. Đường cong điện trễ của vật liệu sắt điện Đường cong điện trễ P-E cho các thông tin sau về vật liệu: độ phân cực bão hòa Ps, độ phân cực dư PR, lực kháng điện EC. Qua đường cong điện trễ, ta thấy với vật liệu sắt điện, độ phân cực không tỉ lệ bậc nhất với cường độ điện trường ngoài.
Do đó, độ cảm điện môi χ và hằng số điện môi ε không phải là hằng số mà phụ thuộc vào cường độ điện trường ngoài. Độ phân cực ban đầu khi chưa có tác dụng của điện trường ngoài được chọn bằng 0. Khi đặt trong một điện trường ngoài với cường độ tăng dần, độ phân cực của khối sắt điện cũng tăng dần (đoạn BC) lên đến một giá trị bão hoà Ps (đoạn CD), lúc đó cường độ điện trường nếu tiếp tục tăng thì độ phân cực cũng không tăng lên nữa. Nếu giảm cường độ điện trường thì độ phân cực cũng giảm theo nhưng không về đúng giá trị 0 ban đầu.
Khi cường độ điện trường bằng 0 thì trong vật liệu vẫn còn một độ phân cực nhất định hay còn gọi là độ phân cực dư Pr (điểm E).