Luận án về chế tạo và nghiên cứu tính chất vật lý của hệ vật liệu xbzt 1 x bct pha tạp

Chuyên khảo vật lý phân tích Luận án chế tạo và nghiên cứu các tính chất vật lý của hệ vật liệu xbzt 1 x bct pha tạp, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Chuyên ngành

Vật Liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

149
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

1.1. CẤU TRÚC KIỂU PEROVSKITE

1.2. TÍNH CHẤT SẮT ĐIỆN TRONG CÁC VẬT LIỆU CÓ CẤU TRÚC KIỂU PEROVSKITE

1.3. SẮT ĐIỆN RELAXOR

1.3.1. Tính chất điện môi của sắt điện relaxor

2. CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM TỔNG HỢP HỆ VẬT LIỆU ÁP ĐIỆN xBZT  (1  x )BCT

3. CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC, VI CẤU TRÚC VÀ CÁC TÍNH CHẤT ĐIỆN CỦA HỆ VẬT LIỆU xBZT  (1  x )BCT

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA HỆ VẬT LIỆU ÁP ĐIỆN 0.52BCT PHA TẠP ZnO CÓ CẤU TRÚC NANO

5. CHƯƠNG 5: NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CỘNG HƯỞNG ÁP ĐIỆN BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vật liệu xbzt và bct pha tạp

Vật liệu xbztbct pha tạp đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực vật liệu áp điện. Cấu trúc perovskite ABO3 của chúng cho phép điều chỉnh các tính chất vật lý thông qua việc thay thế các nguyên tố trong cấu trúc. Nghiên cứu cho thấy rằng việc pha tạp có thể cải thiện đáng kể các tính chất điện của vật liệu, từ đó mở ra nhiều ứng dụng trong công nghệ hiện đại. Đặc biệt, việc phát triển các vật liệu không chứa chì như BaTiO3 và các hợp chất của nó đã trở thành một xu hướng quan trọng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe con người và môi trường. Theo các nghiên cứu, hệ số áp điện d33 của các vật liệu này có thể đạt giá trị cao hơn so với các vật liệu chứa chì, điều này cho thấy tiềm năng lớn trong việc phát triển các ứng dụng mới.

1.1. Tính chất vật lý của vật liệu xbzt và bct

Các tính chất vật lý của vật liệu xbztbct pha tạp được xác định bởi cấu trúc tinh thể và thành phần hóa học của chúng. Nghiên cứu cho thấy rằng việc thay thế các nguyên tố trong cấu trúc ABO3 có thể dẫn đến sự thay đổi trong tính chất điện, từ đó ảnh hưởng đến khả năng áp điện và điện môi. Các vật liệu này có thể được điều chỉnh để đạt được các thông số tối ưu cho các ứng dụng cụ thể. Việc nghiên cứu các tính chất này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của vật liệu mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các vật liệu áp điện thân thiện với môi trường.

II. Phương pháp nghiên cứu và chế tạo vật liệu

Quy trình chế tạo vật liệu xbztbct pha tạp bao gồm nhiều bước quan trọng, từ việc lựa chọn nguyên liệu đến các phương pháp tổng hợp. Các phương pháp như nhiễu xạ tia X, phổ tán xạ Raman và kính hiển vi điện tử quét được sử dụng để phân tích cấu trúc và vi cấu trúc của vật liệu. Hệ thống đo tự động hóa hiện đại cũng được áp dụng để nghiên cứu các đặc tính điện môi và áp điện. Việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ trong phân tích giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong nghiên cứu. Các kết quả thu được từ nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về các tính chất vật lý của vật liệu mà còn tạo cơ sở cho việc phát triển các ứng dụng thực tiễn trong công nghệ.

2.1. Quy trình chế tạo vật liệu

Quy trình chế tạo vật liệu xbztbct pha tạp được thực hiện thông qua các bước như trộn nguyên liệu, nung và làm nguội. Việc lựa chọn nguyên liệu phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng của vật liệu cuối cùng. Các điều kiện nung như nhiệt độ và thời gian cũng ảnh hưởng lớn đến cấu trúc và tính chất của vật liệu. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa quy trình chế tạo có thể dẫn đến sự cải thiện đáng kể trong các tính chất điện của vật liệu, từ đó mở ra nhiều cơ hội ứng dụng trong các lĩnh vực như cảm biến và thiết bị điện tử.

III. Ứng dụng của vật liệu xbzt và bct pha tạp

Vật liệu xbztbct pha tạp có nhiều ứng dụng tiềm năng trong các lĩnh vực công nghệ hiện đại. Chúng có thể được sử dụng trong các thiết bị cảm biến, biến tần và các linh kiện điện tử khác. Đặc biệt, với khả năng áp điện cao, các vật liệu này có thể được ứng dụng trong các thiết bị MEMS và NEMS, nơi yêu cầu tính nhạy và độ chính xác cao. Nghiên cứu cho thấy rằng việc phát triển các vật liệu này không chỉ giúp cải thiện hiệu suất của các thiết bị mà còn góp phần vào việc phát triển các công nghệ mới thân thiện với môi trường.

3.1. Tiềm năng ứng dụng trong công nghệ

Tiềm năng ứng dụng của vật liệu xbztbct pha tạp trong công nghệ là rất lớn. Chúng có thể được sử dụng trong các thiết bị cảm biến áp suất, cảm biến nhiệt độ và các thiết bị điện tử khác. Việc phát triển các vật liệu này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất của các thiết bị mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các công nghệ xanh, giảm thiểu tác động đến môi trường. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tối ưu hóa các tính chất của vật liệu để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu trong ứng dụng thực tiễn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. CẤU TRÚC KIỂU PEROVSKITE Cấu trúc kiểu perovskite có sự thay đổi lớn trong đối xứng và đóng vai trò quan trọng trong khoa học vật liệu [11]. Cấu trúc perovskite lý tưởng có dạng tổng quát ABX 3 , trong đó, A và B là các cation, X là anion. Trong hầu hết các trường hợp, ion O2 chiếm vị trí của anion (hình 1.

Các cation A liên hệ với 12 anion O2, trong khi các cation B nằm ở tâm khối bát diện sinh bởi 6 anion O2. Cấu trúc perovskite lý tưởng dạng ABO3 Tuy nhiên, cũng có những vật liệu kiểu perovskite mà ở vị trí anion không phải O2, chẳng hạn như NaMgF3. Ví dụ này minh chứng một ưu điểm nổi bật của cấu trúc kiểu perovskite. Nó cho phép thay đổi thành phần, bao gồm khả năng tích hợp nhiều ion ở một vị trí dẫn đến các tính chất vật lý nổi bật như hiệu ứng từ trở khổng lồ, tính chất sắt điện, siêu dẫn đặc biệt [11].

Sự méo dạng của ô cơ sở làm thay đổi đối xứng tinh thể. Khi một hay nhiều cation dịch chuyển từ các vị trí có tính đối xứng cao sang vị trí có tính đối xứng thấp hơn gây ra trạng thái sắt điện hoặc phản sắt điện. Nói cách 6 khác, tâm điện tích âm và tâm điện tích dương lệch nhau làm phát sinh phân cực tự phát. Tuy nhiên, trong một vật liệu sắt điện, phân cực tự phát là cần nhưng chưa đủ, vì nó đòi hỏi sự tái định hướng bởi điện trường.

Một đại lượng quan trọng dùng để đánh giá sự biến dạng của cấu trúc kiểu perovskite lập phương lý tưởng gây bởi các ion thành phần là thừa số bền vững,  , do Goldschmidt đề xuất năm 1927 [68] ra  ro  , (1.1) 2(rb  ro ) trong đó, ra , rb , ro lần lượt là bán kính của các ion ở vị trí A, B, và O. Thừa số này phản ảnh sự biến dạng cấu trúc (biến dạng ô cơ sở) - yếu tố ảnh hưởng mạnh đến các tính chất vật lý của vật liệu. Trong trường hợp lý tưởng (  1) kích thước của các cation ở vị trí A và B phù hợp hoàn toàn với các lỗ trống tạo ra bởi khung anion O. Nếu   1, các cation ở vị trí B quá lớn so với khoảng trống của nó nên làm thay đổi các tham số của ô cơ sở, trong khi các cation ở vị trí A có thể di chuyển.

Điều ngược lại xảy ra khi   1. Để duy trì hợp thức và cân bằng điện tích, các cation A và B phải kết hợp sao cho tổng hóa trị của chúng bằng điện tích của 3 anion O2. Điều này cho phép hình thành các cấu trúc peroskite phức hợp, ở đó có hai hoặc nhiều ion cùng tồn tại ở các vị trí tương đương. Tùy thuộc vào vị trí tích hợp mà công thức tổng quát của cấu trúc perovskite phức có dạng (AA.

TÍNH CHẤT SẮT ĐIỆN TRONG CÁC VẬT LIỆU CÓ CẤU TRÚC KIỂU PEROVSKITE Ferroic là các vật liệu có chuyển pha tự phát tại điểm chuyển pha TC (sau này gọi là nhiệt độ Curie) trong quá trình hạ nhiệt độ. Tùy thuộc vào tính chất vật lý, người ta phân biệt 3 loại ferroic: sắt điện, sắt từ, và sắt điện đàn 7 hồi tương ứng với phân cực tự phát, PS , từ hóa tự phát, M S, và biến dạng tự phát, SS, xảy ra tại TC khi làm lạnh. Phân cực, từ hóa và biến dạng tự phát chịu tác động bởi điện trường, E , từ trường, H , và ứng suất, T , (gọi chung là trường ngoài) tương ứng. Các mối quan hệ P(E ), M (H ), và S(T ) gọi chung là các đường trễ.

Trong trường hợp sắt điện, phân cực P liên hệ với điện trường E thông qua một tensor hạng 2, gọi là tensor độ cảm điện môi, ij , như (1.85  1012 F/m là hằng số điện môi của môi trường chân không. Hằng số điện môi tương đối   o (1  ) liên hệ với độ dịch chuyển điện, D , và điện trường E như sau Di  ij E j  oEi Pi (1.3) Theo quan điểm nhiệt động học, trong các hợp chất perovskite, sự dịch chuyển từ pha lập phương thuận điện không phân cực sang pha sắt điện kèm theo sự chuyển pha cấu trúc sang đối xứng thấp hơn (pha tứ giác, chẳng hạn) (hình 1. (a ) Mạng lập phương thuận điện, (b ) Sự méo dạng tứ giác của cấu trúc perovskite 8 Sự thay đổi trong cấu trúc làm mở rộng kích thước của khối bát diện BO6 gây ra sự dịch chuyển lệch tâm của các cation ở vị trí B so với các anion O2, tạo ra các mômen lưỡng cực trong ô cơ sở gây ra phân cực tự phát. Pha lập phương không phân cực ở nhiệt độ cao được đặc trưng bởi thế đơn trên đường cong biểu diễn sự phụ thuộc của năng lượng tự do, G, theo độ phân cực, với thế năng cực tiểu tại P  0 (hình 1.

Do sự mở rộng của khối bát diện BO6 trong pha tứ giác, năng lượng tự do cục bộ của các cation ở vị trí B nằm tại tâm đạt giá trị cực đại tạo ra một thế năng kép cho hai trạng thái phân cực ổn định (hình 1. Tại điểm chuyển pha giữa pha lập phương (không có cực) và pha sắt điện (có cực), đường cong thế năng trở nên phẳng (hình 1.3b ) gây ra sự biến đổi dị thường theo nhiệt độ của các tính chất vật lý ở gần điểm chuyển pha. Biểu diễn 2 chiều của sự phụ thuộc G(P ) đối với vật liệu sắt điện ở (a ) dưới TC , (b ) tại TC , (c ) trên TC , (d ) Hồi đáp điện môi theo nhiệt độ Hình 1.3d mô tả tính dị thường của hằng số điện môi ở gần TC. Đây là hệ quả của trạng thái phân cực rất lớn do đường cong năng lượng tự do gần như phẳng.

Sự phụ thuộc của hằng số điện môi tương đối theo nhiệt độ, (T ) có đỉnh sắc nhọn gần TC trong quá trình giảm nhiệt độ chứng tỏ có sự chuyển 9 pha từ thuận điện sang sắt điện (hình 1. Ở trạng thái thuận điện trên TC, (T ) tuân theo định luật Curie – Weiss dạng (1.4) T  To trong đó, CC là hằng số Curie, phản ánh bản chất chuyển pha sắt điện của vật liệu, To là nhiệt độ Curie - Weiss. Chú ý rằng, To là một tham số hình thức thu được bằng phép ngoại suy, trong khi TC là nhiệt độ mà tại đó xảy ra sự chuyển pha cấu trúc. Nếu To  TC , sự chuyển pha từ trạng thái thuận điện sang trạng thái sắt điện thường là chuyển pha loại một.

Tuy nhiên, nếu TC trùng với To , ở đó, 1/  0 , thì xảy ra chuyển pha loại hai khi T dần tới TC từ phía trên. Hằng số điện môi và phân cực tự phát là hàm của nhiệt độ [37] Khi nhiệt độ của một vật liệu sắt điện ở dưới TC, sự phân cực không được định hướng đồng nhất trong toàn bộ tinh thể. Thay vào đó, các vùng phân cực đồng nhất, còn gọi là các đômen sắt điện, được hình thành sao cho phân cực vĩ mô bằng không. Sự xuất hiện của các đômen để đảm bảo điều kiện cực tiểu hóa năng lượng đàn hồi của trường khử phân cực và giảm năng lượng đàn hồi sinh ra trong quá trình nén cơ học.5 minh họa giản đồ năng lượng tự do của quá trình chuyển phân cực trong vật liệu sắt điện với thế năng kép.

Biểu diễn 2 chiều của đường cong G(P ) của một vật liệu sắt điện trong quá trình chuyển phân cực dưới tác động của điện trường E Khi có một điện trường áp đặt lên tinh thể, các đômen, mà ở đó phân cực không cùng hướng, sẽ ở trong trạng thái năng lượng cao hơn so với các đômen có phân cực cùng hướng. Khi tăng điện trường đến một giá trị, gọi là điện trường kháng (EC ), phân cực trong tất cả các đômen sẽ định hướng theo chiều điện trường để cực tiểu hóa năng lượng. Tiếp tục tăng điện trường đến một giá trị nào đó, sự phân cực không tăng nữa, và đạt đến giá trị bão hòa, Psat. Khi loại bỏ điện trường, hầu hết các đômen vẫn có các phân cực duy trì cùng hướng như khi còn điện trường áp đặt.

Lúc này, vật liệu tồn tại phân cực dư, Pr , tức là trạng thái phân cực. Khi đảo chiều điện trường, phân cực sẽ quay theo chiều ngược lại, tạo thành một đường cong mô tả sự phụ thuộc điện trường của phân cực, P(E ), hay đường trễ sắt điện. SẮT ĐIỆN RELAXOR 1. Tính chất điện môi của sắt điện relaxor Sắt điện relaxor là loại vật liệu có các tính chất và cấu trúc dị thường do tính bất trật tự trong tinh thể.

Ở vùng nhiệt độ cao, chúng ở pha thuận điện không phân cực tương tự như pha thuận điện trong các sắt điện thông thường. 11 Khi được làm lạnh, chúng chuyển sang trạng thái relaxor ergodic (ER), là trạng thái mà ở đó, các vùng phân cực ở kích thước nano (PNRs) chứa các mômen lưỡng cực phân bố ngẫu nhiên. Sự thay đổi này xảy ra ở một nhiệt độ TB , gọi là nhiệt độ Burn. Trong quá trình này không có bất kỳ một sự thay đổi nào về cấu trúc ở cấp độ vĩ mô và vi mô, do vậy, TB không phải là nhiệt độ chuyển pha.

Tuy nhiên, PNRs lại ảnh hưởng mạnh đến trạng thái của tinh thể, làm gia tăng tính chất dị thường của vật liệu. Vì lẽ đó, trạng thái của tinh thể ở dưới TB được xem là một pha mới, khác với pha thuận điện. Ở gần TB , PNRs rất linh động, tinh thể ở trạng thái ER. Khi nhiệt độ giảm, trạng thái dao động của chúng chậm lại, và đến một nhiệt độ đủ thấp Tf nào đó, các PNRs trong các chất sắt điện relaxor bị đông cứng, gọi là trạng thái non-ergodic (NER), trong khi đối xứng tinh thể vẫn là lập phương.

Giả thuyết về sự tồn tại một dịch chuyển cân bằng pha vào pha thủy tinh nhiệt độ thấp đang được tranh luận bởi nhiều nhà nghiên cứu. Sự đông cứng của các lưỡng cực dao động được cho là có liên quan đến sự mở rộng của đỉnh phổ (T ) và đặc trưng tán sắc đối với các tần số đo (hình 1. Sự phụ thuộc nhiệt độ của hằng số điện môi tại các tần số khác nhau đối với sắt điện relaxor Hiện tượng tán sắc là điểm khác biệt cơ bản để phân biệt sắt điện relaxor và sắt điện thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án mang tiêu đề "Luận án về chế tạo và nghiên cứu tính chất vật lý của hệ vật liệu xbzt 1 x bct pha tạp" được thực hiện tại Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Hà Nội, năm 2023. Bài viết tập trung vào việc chế tạo và nghiên cứu các tính chất vật lý của vật liệu pha tạp, một lĩnh vực quan trọng trong ngành vật liệu. Luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình chế tạo mà còn phân tích các đặc tính vật lý của hệ vật liệu này, từ đó mở ra hướng đi mới cho các ứng dụng trong công nghệ hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức tối ưu hóa tính chất vật liệu, cũng như những ứng dụng tiềm năng trong thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực vật liệu, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ: Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride", nơi nghiên cứu về các vật liệu composite và tính chất xúc tác của chúng. Bên cạnh đó, "Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về vật liệu carbon, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến nghiên cứu vật liệu pha tạp. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu và tổng hợp tính chất polythiophene từ 3 thiophenecarbaldehyde", một nghiên cứu khác trong lĩnh vực vật liệu hữu cơ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các xu hướng và ứng dụng trong ngành vật liệu hiện nay.