CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHIỆT ĐIỆN 1. Hiện tượng và hiệu ứng nhiệt điện Hiên tượng nhiệt điện là sự chuyển đổi trực tiếp năng luợng nhiệt thành năng lượng điện và ngược lại. Hiện tượng này có thể được sử dụng để tạo ra điện, đo nhiệt độ hay làm thay đổi nhiệt độ của một vật. Có ba hiệu ứng nhiệt điện được biết đến là: hiệu ứng Seebeck, hiệu ứng Peltier và hiệu ứng Thomson.1 Hiệu ứng Seebeck Hiệu ứng Seebeck là sự chuyển hóa nhiệt năng trực tiếp thành điện năng và được đặt theo tên nhà vật lý người Đức, Thomas Seebeck, phát hiện vào năm 1821.
Hiệu ứng này được phát hiện khi ông nối hai vật dẫn điện khác nhau bằng các mối hàn, tại các mối hàn sẽ có sự chênh lệch nhiệt độ. Do các kim loại phản ứng khác nhau với sự chênh lệch nhiệt độ, tạo ra dòng điện và một điện trường [14]. Sơ đồ cặp nhiệt điện. Mô tả cách tạo ra suất điện động từ một "lắp ráp" của hai kim loại khác nhau được gọi là cặp nhiệt điện.
Trong vật lý bán dẫn, khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai đầu của một bán dẫn bất kỳ (có thể là loại n hoặc loại p) thì do cơ chế khuếch tán hạt tải dẫn đến có sự chênh lệch nồng độ hạt tải giữa hai đầu vật 5 z liệu làm xuất hiện một điện trường khối. Điện trường này sẽ thúc đẩy quá trình cuốn hạt tải theo chiều ngược lại, do đó sẽ ngăn cản quá trình khuếch tán tiếp theo. Khi trạng thái cân bằng giữa hai quá trình được thiết lập sẽ hình thành một suất điện động giữa hai đầu bán dẫn. Giá trị của suất điện động được xác định thông qua biểu thức: S(T)dT (1.1) trong đó: là suất điện động giữa hai đầu bán dẫn; S là hệ số Seebeck.
Dấu của S là dấu âm hay dương là tùy thuộc vào bán dẫn là loại n hay p. Xét về bản chất thì sự xuất hiện của suất điện động là do ba yếu tố: 1) Sự xuất hiện của dòng hạt tải có huớng trong lòng vật liệu khi có sự chênh lệch gradient nhiệt độ. Dòng hạt tải dịch chuyển từ đầu nóng có năng lượng lớn hơn tới đầu lạnh hình thành nên thế nhiệt điện động thể tích. Hệ số Seebeck tương ứng với loại thế nhiệt điện động này là SV.
2) Sự thay đổi vị trí mức Fermi theo nhiệt độ, khi nhiệt độ tăng thì có sự giảm mức Fermi. Ở đầu lạnh mức Fermi cao hơn ở đầu nóng, dẫn tới nồng độ điện tử linh động ở đây lớn hơn ở đầu lạnh. Thế nhiệt động hình thành từ nguyên nhân này là thế nhiệt động tiếp xúc, hệ số Seebeck đuợc kí hiệu là S K. 3) Sự kích thích hạt tải điện bởi các phonon nhiệt.
Khi tồn tại gradient nhiệt độ hiện tượng trôi các phonon nhiệt từ đầu nóng sang đầu lạnh xuất hiện. Xác suất tán xạ của các điện tử trên các phonon tăng, cuốn theo sự dịch chuyển của các hạt tải điện với vận tốc bằng vận tốc dịch chuyển của các phonon. Hệ số Seebeck của hệ ở nhiệt độ thấp do tác dụng của phonon nhiệt SP hàng chục, cho tới hàng trăm lần lớn hơn S V và SK. Hệ số Seebeck tổng cộng được xác định qua biểu thức: S = SV + SK +SP.
Điện thế V tạo ra bởi hiệu ứng này có thể tính theo công thức: T2 V (SB (T) SA (T))dT (1.2) T1 trong đó: SA, SB là hệ số Seebeck của kim loại (vật liệu) A, B và là một hàm của 6 z nhiệt độ; T1, T2 là nhiệt độ của hai mối hàn. Hệ số Seebeck không phải là một hàm tuyến tính theo nhiệt độ, nó phụ thuộc vào nhiệt độ tuyệt đối của vật dẫn, vật liệu. Nếu hệ số Seebeck không thay đổi trong dải nhiệt độ đo, công thức (1.2) có thể viết lại gần đúng như sau: V (SB SA ).3) Hiệu ứng Seebeck được sử dụng trong cặp nhiệt điện để đo nhiệt độ. Cặp nhiệt điện mắc nối tiếp tạo thành pin nhiệt điện do điện thế của từng cặp nhiệt điện là rất nhỏ.2 Hiệu ứng Peltier Hiệu ứng Peltier là hiện tượng đảo ngược của hiệu ứng Seebeck, khi một dòng điện qua mạch chứa hai kim loại khác nhau thì một đầu bị nung nóng ở nhiệt độ T2 cao hơn và đầu còn lại hấp thụ nhiệt độ T1 thấp hơn.
Tức là chỗ nối còn lại bị làm lạnh, hiệu ứng làm lạnh này là cơ sở lý thuyết cho việc chế tạo các máy làm lạnh. Dòng nhiệt Peltier Q hấp thụ bởi đầu có nhiệt độ thấp hơn trên một đơn vị thời gian bằng: Q AB .4) với ΠAB là hệ số Peltier của cặp nhiệt còn ΠA và ΠB là hệ số Peltier của mỗi kim loại.3 Hiệu ứng Thomson Hiệu ứng Thomson được phát hiện ra bởi Lord Kelvin vào năm 1851. Hiệu ứng Thomson mô tả sự nóng lên hay lạnh đi khi một vật dẫn mang dòng điện. Bất kỳ một vật dẫn mang dòng điện nào (ngoại trừ chất siêu dẫn), với sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai đầu sẽ hấp thụ hoặc phát nhiệt phụ thuộc vào bản chất của vật liệu.
Nếu có dòng điện J đi qua vật dẫn đồng nhất có tính đến hiệu ứng Thomson, nhiệt lượng Q tỏa ra trên một đơn vị thể tích là: 7 z dT Q J 2 J (1.5) dx trong đó: ρ là điện trở suất của vật dẫn, dT/dx là sự biến thiên nhiệt độ dọc theo vật dẫn và μ là hệ số Thomson. Số hạng đầu tiên trong biểu thức (1.5) là nhiệt lượng Joule. Số hạng thứ hai của (1.5) là nhiệt lượng Thomson, phụ thuộc vào chiều của dòng điện J. Hệ số Thomson được xác định như sau: Q lim (1. T * Mối liên hệ giữa các hệ số nhiệt điện Hình 1.
Mô hình hiệu ứng Thomson. Năm 1854, Lord Kelvin đã tìm ra mối liên hệ giữa ba hệ số này. Biểu thức Thomson thứ nhất như sau: dS T (1.7) dT trong đó: T là nhiệt độ tuyệt đối, μ là hệ số Thomson, S là hệ số Seebeck. Biểu thức Thomson thứ hai có dạng sau: S.2 Các tính chất nhiệt điện cơ bản 1.1 Độ dẫn điện (σ) Sự dẫn điện có thể mô tả bằng định luật Ohm, rằng dòng điện tỷ lệ với điện trường tương ứng, và tham số tỷ lệ chính là độ dẫn điện.9) với Je là mật độ dòng điện, E là cường độ điện trường và σ là độ dẫn điện.
Độ dẫn điện là nghịch đảo của điện trở suất, ρ: 1 (1.10) trong hệ SI, σ có đơn vị chuẩn là S/m (Siemens trên mét), ngoài ra các đơn vị biến đổi khác như S/cm, 1/Ωm. 8 z Đối với vật liệu có tính chất nhiệt điện, độ dẫn điện sẽ có những đặc tính khác so với các vật liệu dẫn điện kim loại hay bán dẫn thông thường.2 Hệ số dẫn nhiệt (κ) Dẫn nhiệt là sự truyền nhiệt giữa các phần tử lân cận trong một chất do sự chênh lệch nhiệt độ. Dẫn nhiệt diễn ra trong tất cả các dạng vật chất như rắn, lỏng, khí và plasma. Mối quan hệ giữa vector dòng nhiệt J Q với vector gradient nhiệt độ, có biểu thức như sau: JQ T (1.11) Dạng vô hướng là : J Q T (1.12) Dấu (-) thể hiện hai vector ngược chiều nhau.
Khi biết trường nhiệt độ T(x, y, z, τ) có thể tính được công suất nhiệt Q(W) dẫn qua mặt S (m2) trong thời gian τ (s) như sau: Q TdS (1.13) S Và lượng nhiệt Qτ dẫn qua mặt S sau khoảng thời gian τ (s) tính theo công thức: r Q r TdSd (1.14) 0 S Hệ số dẫn nhiệt κ là hệ số, có biểu thức tính như sau: JQ W / mK (1.15) T Trong đó, JQ là dòng nhiệt ở trạng thái cân bằng. Hệ số dẫn nhiệt của một vật dẫn rắn bao gồm: dẫn nhiệt do điện tử và dẫn nhiệt do mạng tinh thể, có dạng: κ = κe + κlatt, với κe, κlatt tương ứng là độ dẫn nhiệt của điện tử và độ dẫn nhiệt của mạng tinh thể. Trong các vật liệu dẫn điện theo cơ chế điện tử thì khi tăng độ dẫn điện sẽ làm tăng độ dẫn nhiệt của điện tử, do đó hệ số phẩm chất Z sẽ không tăng lên được. Để làm giảm độ dẫn nhiệt của mạng tinh thể, người ta thường tạo ra vật 9 z liệu có cấu trúc giam giữ phonon (phonon blocking).
Các vật liệu loại này thường có dạng lớp (layer) hoặc dạng siêu cấu trúc (superlattice).3 Hệ số Seebeck (S) Thế nhiệt điện động xuất hiện trong hiệu ứng nhiệt điện có thể biểu diễn thông qua biểu thức (1.17) T1 dVT với S(T ) là thế nhiệt điện động riêng hay còn được gọi là hệ số Seebeck. Hệ dT số Seebeck, kí hiệu là S hoặc α của một vật liệu đo độ lớn của điện thế tạo ra khi có sự chênh lệch nhiệt độ, có đơn vị là V/K. Trong nhiều trường hợp hay dùng đơn vị μV/K. Sự thay đổi thế nhiệt động ΔV tương ứng với sự thay đổi nhỏ của nhiệt độ ΔT được gọi là hệ số Seebeck vi sai: V S (1.18) T Độ lớn của S phụ thuộc vào bản chất của vật liệu và nhiệt độ chênh lệch giữa hai đầu vật liệu, tức là ứng với các vật liệu khác nhau các giá trị của thế nhiệt điện động (S) sẽ khác nhau.4 Nhiệt độ trung hòa và sự đảo ngược nhiệt độ Hình 1.3 cho thấy sự thay đổi của suất điện động vào nhiệt độ là một đường parabol.
Nhiệt độ tại điểm mà suất điện động đạt giá trị lớn nhất gọi là nhiệt độ trung hòa "θn" và nhiệt độ đường giao nhau điểm nóng và suất điện động gọi là nhiệt độ của đảo ngược "θi". Nhiệt độ trung hòa và đảo ngược được xác đinh theo công thức: t n i c (1.19) 2 trong đó, tc là nhiệt độ tại điểm nối lạnh 10 z Hình 1. Parabol sự biến đổi của suất điện động với gradient nhiệt độ.5 Hệ số phẩm chất (Figure of Merit) Với vật liệu nhiệt điện, tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá khả năng ứng dụng của nó là chỉ số chất lượng (ZT), là khả năng của một loại vật liệu chuyển đổi nhiệt năng thành điện năng. Biểu thức của ZT (Rowe D.20) trong đó là hệ số Seeback ở V / K , là độ dẫn diện của vật liệu nhiệt điện ở Sm-1 và là độ dẫn điện của vật liệu ở Wk-1m-1.