Chương 1: Khái quát chung về xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân Chương 2: Thực trạng về xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. 7 Chương 3: Định hướng giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng cũng như số lượng xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. 8 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN 1. Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại.
Định nghĩa về tranh chấp kinh doanh, thương mại Pháp luật thương mại Việt Nam không trực tiếp đưa ra định nghĩa về tranh chấp kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, căn cứ quy định của Luật Thương mại 2005 về hoạt động thương mại, chúng ta có thể hình dung một cách rõ nét nhất về “tranh chấp kinh doanh thương mại là gì?”. Theo đó, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Như vậy, có thể hiểu tranh chấp kinh doanh thương mại (hay tranh chấp thương mại) là những mâu thuẫn về quyền, nghĩa vụ giữa các bên khi tham gia hoạt động kinh doanh thương mại.
Từ khái niệm nói trên, tranh chấp kinh doanh thương mại có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, về chủ thể tranh chấp kinh doanh thương mại Việc hiểu rõ về chủ thể của tranh chấp kinh doanh thương mại sẽ giúp giải đáp cho câu hỏi “Tranh chấp kinh doanh thương mại là gì?”. Thực tế, tranh chấp kinh doanh thương mại chủ yếu diễn ra giữa các thương nhân với nhau. Tuy nhiên trong một số trường hợp, các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp kinh doanh thương mại ví dụ như: giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; giữa công ty với các thành viên của công ty; giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần; giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp 9 nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Thứ hai, các loại tranh chấp kinh doanh thương mại có thể kể đến như là: Mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; mua bán trái phiếu, cổ phiếu; đầu tư tài chính Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Tranh chấp kinh doanh, thương mại khác mà pháp luật có quy định. Thứ ba, về căn cứ phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại. hành vi vi phạm hợp đồng do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng; vi phạm pháp luật của các bên tham gia quan hệ hợp đồng thương mại làm thiệt hại đến lợi ích của bên còn lại. Những lưu ý khi xảy ra tranh chấp kinh doanh thương mại Thứ nhất, các bên có quyền trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp Hiện nay, pháp luật thương mại Việt Nam quy định 4 cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại giữa các bên: (i) thương lượng; (ii) hòa giải; (iii) trọng tài; (iv) tòa án.
Theo đó, tùy vào mức độ phức tạp của tranh chấp và sự thiện chí của các bên mà các bên có thể lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối với thương lượng và hòa giải, các bên có thể thỏa thuận và trao đổi phương án giải quyết xung đột mà không cần tới sự can thiệp của các cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Tuy nhiên, nếu các bên đã áp dụng hai phương thức này để giải quyết tranh chấp nhưng không mang lại kết quả thì các bên có thể tiến hành 10 khởi kiện vụ việc ra một cơ quan có thẩm quyền để giải quyết như Tòa án hay trọng tài. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài được tiến hành bởi một hội đồng trọng tài với kết quả cuối cùng là phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.
Phương thức này được tiến hành không công khai và các bên chỉ được áp dụng khi đã có sự thỏa thuận rõ ràng về việc lựa chọn trọng tài để giải quyết, nếu không tòa án có thẩm quyền sẽ giải quyết các tranh chấp đó. Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại. Phán quyết của tòa án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh quyền lực nhà nước. Tương tự như cơ chế trọng tài, tòa án chỉ được giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại khi các bên có yêu cầu và tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
Thứ hai, các bên cần lưu ý về thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về kinh doanh thương mại Theo quy định tại Điều 319 của Luật Thương mại 2005, thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp kinh doanh thương mại là 2 năm kể từ ngày mà quyền và lợi ích hợp pháp của một bên bị xâm phạm. Do đó, để đảm bảo quyền khởi kiện của mình được toàn vẹn, các bên trong có quyền lợi bị tranh chấp cần lưu ý đến vấn đề thời hiệu khởi kiện để tiến hành khởi kiện vụ án ra các cơ quan tài phán khi có tranh chấp xảy ra. Thứ ba, về cơ quan và quốc gia có thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại (đối với tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài). Thông thường, các bên sẽ thỏa thuận, lựa chọn cơ quan và quốc gia có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trước khi tham gia giao dịch và quy định các nội dung này vào trong hợp đồng hoặc sau khi phát sinh tranh chấp.
Trong trường hợp các 11 bên tranh chấp không thỏa thuận được về cơ quan và quốc gia có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, thì tùy từng vụ việc, nguyên đơn có thể lựa chọn cơ quan và quốc gia có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phù hợp đảm bảo tuân thủ pháp luật và tập quán thương mại quốc tế. Để có thể xác định được thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong vụ tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài, ta xem xét quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam về thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng của tòa án. Từ nội dung xem xét nêu trên, có thể hiểu: “Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh”. Trong nền kinh tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp được thành lập với hình thức khác nhau, trong những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau thì việc liên kết, hợp tác thậm chí cạnh tranh với nhau cũng là điều dễ hiểu.
Xung đột về quyền và lợi ích giữa các chủ thể khi tham gia kinh doanh là không thể tránh khỏi5. Một số loại hình tranh chấp phổ biến hiện nay có thể kể đến là tranh chấp về hợp đồng kinh doanh, thương mại; tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty hay giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến thành lập, giải thể công ty… Một khi các tranh chấp xảy ra, có nghĩa là lợi ích kinh tế của một bên chủ thể kinh doanh đã bị vi phạm. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của chính chủ thể đó mà còn gián tiếp tác động tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Chính vì thế, việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phù hợp với cơ chế thị trường không chỉ là đòi hỏi bức thiết của xã hội mà còn là yêu cầu để đảm bảo thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước ta.vn/Kinh-te/Dai-dich-COVID19-he-luy-va-giai-phap-ho-tro-doanh-nghiep/412612.
Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại Trong các loại hình tranh chấp kinh tế thì tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là loại hình tranh chấp phổ biến nhất do đó trong một số trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương nhau. Mặt khác, tranh chấp trong kinh doanh, thương mại còn được hiểu là sự bất đồng về một hiện tượng pháp lý phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản. Do đó, có thể khái quát những đặc điểm tranh chấp trong kinh doanh thương mại như sau: Thứ nhất, chủ thể tranh chấp trong thương mại: Chủ thể chủ yếu trong quan hệ tranh chấp thương mại là các thương nhân; ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, một bên chủ thể của tranh chấp thương mại có thể là thành viên của thương nhân với nhau hoặc với thương nhân; giữa thương nhân với các bên có liên quan không phải là thương nhân tuỳ thuộc vào từng quan hệ thương mại cụ thể. Khoa học pháp lý gọi giao dịch này là giao dịch hỗn hợp (hành vi hỗn hợp).
Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại. Một quy tắc được pháp luật của Pháp và nhiều quốc gia áp dụng để giải quyết loại tranh chấp này đó là căn cứ vào bị đơn là thương nhân hay không phải là thương nhân. Nếu bị đơn là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi dân sự) có thể chọn Tòa Thương mại hoặc Tòa Dân sự để giải quyết vụ, việc tranh chấp. Trường hợp nguyên đơn chọn Tòa Thương mại thì các quy định khắt khe hơn của luật thương mại được áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp.