Nghiên cứu xây dựng chương trình ngoại khóa môn võ cổ truyền việt nam cho sinh viên học viện y dược học cổ truyền việt nam

Nghiên cứu chương trình ngoại khóa võ cổ truyền cho sinh viên Y Dược Cổ Truyền. Phát triển thể chất, tinh thần, bảo tồn văn hóa Việt Nam.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2022

298
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan về Nghiên Cứu Ngoại Khóa Võ Cổ Truyền 55 ký tự

Thể dục thể thao trường học (TDTT TH) đóng vai trò nền tảng trong hệ thống TDTT quốc gia. Ở Việt Nam, TDTT TH bao gồm Giáo dục thể chất (GDTC) bắt buộc và các hoạt động TDTT tự nguyện. Phát triển GDTC và thể thao trường học (TTTH) có ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao sức khỏe, bồi dưỡng đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên. Điều này góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước.

Trong những năm gần đây, GDTC và TTTH đã có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như sự quan tâm chưa đúng mức đến GDTC, cơ sở vật chất thiếu thốn, nội dung hoạt động TDTT ngoại khóa còn nghèo nàn và đội ngũ giáo viên thể dục còn thiếu về số lượng và chất lượng. Cần có những giải pháp để khắc phục những hạn chế này, trong đó việc xây dựng chương trình ngoại khóa phù hợp là vô cùng quan trọng.

1.1. Vai Trò Quan Trọng của Thể Thao Ngoại Khóa

Để đảm bảo khối lượng kiến thức và đạt được mục tiêu của GDTC, việc tiến hành hoạt động TDTT ngoại khóa là cần thiết. Hoạt động ngoại khóa giúp học sinh, sinh viên tổ chức các hoạt động TDTT vào thời gian rảnh một cách lành mạnh, giáo dục kiến thức và kỹ năng sử dụng các phương tiện GDTC trong đời sống hàng ngày. Các buổi tập ngoại khóa đa dạng sẽ giúp sinh viên nắm vững kiến thức, đáp ứng tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và hoàn thiện các môn thể thao tự chọn. Tổ chức TDTT ngoại khóa còn giúp hình thành phẩm chất đạo đức tốt, ý chí và tinh thần trách nhiệm.

1.2. Tại Sao Võ Cổ Truyền Lại Quan Trọng

Võ Cổ Truyền Việt Nam (VCTVN) là môn võ học, tinh hoa văn hóa dân tộc. Nó được truyền lại qua nhiều thế hệ. VCTVN là tên gọi chung cho các hệ phái võ thuật được lưu truyền trong lịch sử Việt Nam, do người Việt sáng tạo và bồi đắp. VCTVN đáp ứng nhu cầu chiến đấu để sinh tồn, rèn luyện sức khỏe, hun đúc tinh thần thượng võ và là một di sản văn hóa phi vật thể quý báu.

II. Thách Thức Thiếu Chương Trình Ngoại Khóa Chuẩn 58 ký tự

Thực tế cho thấy, GDTC trong các trường chuyên nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện. Tuy nhiên, nhiều sinh viên vẫn coi môn GDTC là một rào cản. Nguyên nhân chủ quan là chúng ta chưa xây dựng được chương trình môn học, nội dung và hình thức hoạt động TDTT ngoại khóa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên, đặc biệt là với môn Võ Cổ Truyền Việt Nam. Tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa hiệu quả đòi hỏi đẩy mạnh tuyên truyền, đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường sự chỉ đạo. Điều quan trọng là phải có nội dung và hình thức hoạt động TDTT ngoại khóa phù hợp để lôi cuốn sinh viên tham gia.

2.1. Sinh Viên Y Dược Cổ Truyền và Đặc Thù Đào Tạo

Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam có chuyên ngành đặc thù là Y học cổ truyền. Môn GDTC chính khóa cũng chủ yếu là VCTVN. Do tính đặc thù trong đào tạo, đối tượng tập luyện chính khóa và ngoại khóa chủ yếu là sinh viên năm nhất và năm hai. Sinh viên từ năm ba trở đi ít tham gia ngoại khóa vì phải đi thực tập tại các cơ sở y tế. Vì vậy, tập luyện TDTT ngoại khóa, đặc biệt là VCTVN, sẽ rất bổ ích và hiệu quả.

2.2. Hạn Chế Trong Hoạt Động Ngoại Khóa Hiện Tại

Công tác GDTC và TTTH tại Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam đã được quan tâm và đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Mặc dù VCTVN đã được lựa chọn và tổ chức trong hoạt động TDTT ngoại khóa, chương trình tập luyện vẫn chưa được xây dựng một cách khoa học, chưa được phê duyệt và sử dụng thống nhất, chủ yếu do giáo viên tự thiết kế. Điều này không đáp ứng được yêu cầu.

III. Phương Pháp Xây Dựng Chương Trình Ngoại Khóa 60 ký tự

Việc nghiên cứu xây dựng chương trình ngoại khóa môn Võ Cổ Truyền Việt Nam cho sinh viên Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam cần dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn. Cần xác định rõ mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp. Việc xây dựng chương trình cần phải đáp ứng nhu cầu và mong muốn của sinh viên, đồng thời đảm bảo tính khoa học và hiệu quả. Chương trình cần được thiết kế để giúp sinh viên rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể lực, phát triển kỹ năng võ thuật và bồi dưỡng tinh thần thượng võ.

3.1. Cơ Sở Lý Luận và Thực Tiễn Quan Trọng

Việc xây dựng chương trình cần dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất và phát triển các môn thể thao dân tộc. Cần tham khảo các công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước. Ngoài ra, cần xem xét đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên Y Dược học Cổ truyền, cũng như điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên của Học viện.

3.2. Nội Dung và Hình Thức Tổ Chức Cần Lưu Ý

Nội dung chương trình cần bao gồm các bài tập cơ bản, kỹ thuật chiến đấu, bài quyền và bài binh khí. Hình thức tổ chức cần đa dạng, hấp dẫn, có thể là các buổi tập theo nhóm, câu lạc bộ hoặc các giải đấu. Cần tạo điều kiện cho sinh viên được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

3.3. Xác Định Mục Tiêu Cụ Thể của Chương Trình

Mục tiêu của chương trình cần rõ ràng, cụ thể, có thể đo lường được. Mục tiêu có thể là nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, cải thiện kỹ năng võ thuật, bồi dưỡng tinh thần thượng võ, hoặc nâng cao ý thức tự giác trong tập luyện. Cần có các tiêu chí đánh giá hiệu quả của chương trình.

IV. Đánh Giá Hiệu Quả Chương Trình Ngoại Khóa Võ Cổ Truyền 59 ký tự

Việc ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình ngoại khóa môn Võ Cổ Truyền cho sinh viên Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam là rất quan trọng. Cần tổ chức thực nghiệm chương trình và đánh giá hiệu quả dựa trên các tiêu chí đã được xác định. Việc đánh giá cần được thực hiện một cách khách quan, khoa học và toàn diện, bao gồm cả đánh giá về sức khỏe thể chất, tinh thần và kỹ năng võ thuật của sinh viên. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở để điều chỉnh và hoàn thiện chương trình.

4.1. Tổ Chức Thực Nghiệm Chương Trình Cần Chú Ý Gì

Việc tổ chức thực nghiệm cần tuân thủ các nguyên tắc sư phạm, đảm bảo an toàn cho sinh viên. Cần có sự hướng dẫn của giáo viên có kinh nghiệm và chuyên môn cao. Quá trình thực nghiệm cần được ghi chép và theo dõi một cách cẩn thận.

4.2. Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Quả Chương Trình

Các tiêu chí đánh giá có thể bao gồm: sự cải thiện về sức khỏe thể chất (cân nặng, chiều cao, chỉ số BMI), sự phát triển về thể lực (sức mạnh, sức bền, tốc độ), sự tiến bộ về kỹ năng võ thuật (thực hiện các kỹ thuật cơ bản, bài quyền, bài binh khí), sự thay đổi về tinh thần (tự tin, kỷ luật, tinh thần đồng đội) và sự hài lòng của sinh viên đối với chương trình.

4.3. Phương Pháp Đánh Giá Khách Quan và Khoa Học

Cần sử dụng các phương pháp đánh giá khách quan và khoa học, ví dụ như: kiểm tra thể lực, kiểm tra kỹ năng võ thuật, phỏng vấn, khảo sát và quan sát. Cần có sự so sánh giữa nhóm thực nghiệm (tham gia chương trình) và nhóm đối chứng (không tham gia chương trình) để đánh giá hiệu quả của chương trình.

V. Kết Luận Tầm Quan Trọng của Ngoại Khóa Võ Thuật 55 ký tự

Tóm lại, việc nghiên cứu xây dựng chương trình ngoại khóa môn Võ Cổ Truyền Việt Nam cho sinh viên Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa. Chương trình cần được xây dựng một cách khoa học, bài bản, đáp ứng nhu cầu và mong muốn của sinh viên, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả trong việc rèn luyện sức khỏe, phát triển thể lực, nâng cao kỹ năng võ thuật và bồi dưỡng tinh thần thượng võ. Cần có sự quan tâm và đầu tư của nhà trường, cũng như sự tham gia tích cực của giáo viên và sinh viên để chương trình được triển khai thành công.

5.1. Kiến Nghị Để Phát Triển Chương Trình Trong Tương Lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện chương trình, bổ sung các nội dung mới và phương pháp giảng dạy tiên tiến. Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc tập luyện. Cần tạo điều kiện cho giáo viên được nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ. Cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc phát triển phong trào tập luyện Võ Cổ Truyền trong sinh viên.

5.2. Vai Trò của Nhà Trường và Cộng Đồng

Nhà trường cần tạo môi trường thuận lợi cho sinh viên tham gia tập luyện, tổ chức các hoạt động giao lưu, thi đấu. Cộng đồng cần có sự ủng hộ, động viên và tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp cận với các nguồn tài liệu, thông tin về Võ Cổ Truyền. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội để phát triển phong trào tập luyện Võ Cổ Truyền một cách bền vững.

12/05/2025
Nghiên cứu xây dựng chương trình ngoại khóa môn võ cổ truyền việt nam cho sinh viên học viện y dược học cổ truyền việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường học và phát triển các môn Võ cổ truyền Việt Nam 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường học Thể dục thể thao trường học bao gồm hoạt động GDTC bắt buộc và hoạt động TDTT tự nguyện của HS, SV trong trường học các cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận cơ bản và quan trọng của nền TDTT nước ta. Vấn đề này đã được làm rõ trong các văn bản pháp qui của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực GDTC và thể thao trường học [11],[67].

Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 tại Điều 41 đã quy định: "Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc, khoa học và nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chú trong hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [52]. Trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013, tại Điều 37 đã quy định: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc” [53]. Chỉ thị số 36/CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã giao trách nhiệm cho Bộ GD&ĐT và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo GV TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về CSVC để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết HSSV, qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia [1].

Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn trong công tác TDTT của thời kỳ 9 đổi mới. Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng, tinh thần phấn khởi. Vận động TDTT là biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà.

Đó chính là những quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT ở Việt Nam [2], [4]. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, năm 1960, đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm 2011, trong các văn kiện và nghị quyết Đại hội, Trung ương đều nêu quan điểm chỉ đạo công tác TDTT trong cả nhiệm kỳ. Đồng thời trong một số nhiệm kỳ, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị, nghi ̣quyết chuyên đề về công tác TDTT [3],[4]. Hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa thông qua là Pháp lệnh TDTT được ban hành năm 2000 [54].

Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 2006, Luật TDTT được Quốc hội thông qua, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật TDTT đã dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT nói chung, công tác TDTT trường học nói riêng [56]. Không chỉ lãnh đạo TDTT và GD&ĐT bằng đường lối, chính sách, Nhà nước còn đề ra những giải pháp chỉ đạo thực hiện hiệu quả. Một trong những giải pháp là đẩy mạnh công tác xã hội hóa (XHH) GD và TDTT.

Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về việc đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và TDTT (2005) về chính sách XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, văn hóa, thể thao nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để các ngành đẩy mạnh công tác XHH, làm cho mọi thành phần trong xã hội đổi mới quan điểm, nhận thức và giải pháp thực hiện XHH, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia các hoạt động và đầu tư các nguồn lực để phát triển công tác GDTC và phong trào thể thao cho mọi người, nâng cao thành tích thể thao đỉnh cao và hội nhập quốc tế [63]. Theo Luật Thể dục, Thể thao được ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006: GDTC và thể thao trong nhà trường bao gồm 2 nội dung chính: 10 “Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”. Nội dung này còn được gọi là Thể dục nội khóa; “Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức NK phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao”, còn được gọi là TDTT NK [57].

Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, HS, SV các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập TDTT để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [67]. Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học. Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động thể thao NK của HS, SV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động NK còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các hoạt động thể thao NK”. Trong Chiến lược đã nêu ra các chỉ tiêu: đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ GV và HDV TDTT, thực hiện tốt hoạt động thể thao NK, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [64].

Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030, trong đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC. Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy và học Thể dục chính khóa, các hoạt động thể thao NK cho HS, xây dựng chương 11 trình GDTC hợp lý.” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” [64tr. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01 tháng 12 năm 2011 về việc Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 nêu: “Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ TDTT; tăng cường CSVC, đẩy mạnh NCKH, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT” [3]; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ban hành kèm theo Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013 đã khẳng định: “Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HS, SV. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng: Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện TDTT…; Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác TDTT” [66].

Tóm lại, các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của TDTT trong xã hội, trong đó có TDTT trong trường học các cấp; đồng thời, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách tại nước ta trong giai đoạn hiện nay. GDTC là một môn học thuộc chương trình giáo dục quốc dân, là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước nhằm đào tạo cho đất nước một thế hệ phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, đổi mới công tác GDTC và TDTT trong trường học các cấp cũng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển các môn thể thao dân tộc và Võ cổ truyền Việt Nam Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng và phát triển các môn thể thao dân tộc, VCTVN của nền TDTT mới, góp phần vào việc GDTC cho thanh, thiếu niên, HSSV.

12 Thể thao dân tộc được coi là một bộ phận của nền văn hoá nhân loại, là một thành tố không thể thiếu trong cấu trúc nền TDTT mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ