ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, là lá phổi xanh của toàn cầu. Sự đa dạng sinh học của rừng giúp cân bằng hệ sinh thái, tài nguyên rừng phong phú là nguồn nguyên liệu cho các ngành kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, tài nguyên rừng ngày càng bị khai thác, tận thu đến cạn kiệt dẫn đến hàng loạt các hệ lụy nhƣ hạn hán, lũ lụt, xói mòn, rửa trôi đất. Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nƣớc ta đã đề ra rất nhiều chủ trƣơng, biện pháp, giải pháp nhằm mục đích bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, tăng nhanh diện tích rừng, nâng cao độ che phủ của rừng nhƣ chính sách giao đất, khoán rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cƣ quản lý, bảo vệ; các chính sách khuyến khích phát triển rừng; chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng….
Vấn đề quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững hiện nay đang đƣợc coi là nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Chính sách xã hội hóa ngành Lâm nghiệp đã và đang đƣợc áp dụng có hiệu quả và đƣợc nhân dân nhiệt tình hƣởng ứng. Để công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng đạt đƣợc hiệu quả cao thì việc tăng cƣờng giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng phải đƣợc quan tâm đúng mức, đúng đối tƣợng nhằm nâng cao nhận thức của mọi ngƣời về tầm quan trọng của rừng. Nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trƣờng, cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ tài nguyên rừng cho mọi ngƣời trong đó cần năng cao ý thức bảo vệ môi trƣờng nói chung, bảo vệ tài nguyên rừng nói riêng cho học sinh các cấp từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông.
Các chƣơng trình truyền thông, giáo dục môi trƣờng đang giữ một vai trò rất quan trọng, từ đó làm thay đổi tƣ duy, nhận thức, ý thức và hành động của cộng đồng đối với việc bảo vệ môi trƣờng nói chung, bảo vệ tài nguyên rừng nói riêng. Với mục tiêu hƣớng tới một nền giáo dục toàn diện, bền vững, việc dạy và học trong các nhà trƣờng hiện nay không chỉ tập trung giáo dục kiến thức mà còn giáo dục nhận thức, ý thức trách nhiệm với xã hội, với cộng đồng. Việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ tài nguyên rừng đã đƣợc các nhà trƣờng quan tâm đƣa vào chƣơng trình giảng dạy. Việc giáo dục, 1 tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho thế hệ trẻ ngay từ khi còn nhỏ là việc làm rất có hiệu quả, nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng và thói quen về bảo vệ môi trƣờng, để từ đó trẻ em xác định đƣợc trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng ngay từ rất sớm.
Nhận thức của trẻ có tác động tích cực, làm thay đổi ý thức, hành động của ngƣời lớn, mỗi lời nói, hành động của trẻ làm chúng ta phải nhìn lại mình. Ví dụ nhƣ các em hỏi bố, mẹ tại sao lại vứt rác bừa bãi; tại sao mọi ngƣời đi xe máy đều đội mũ bảo hiểm mà bố, mẹ lại không đội… Liên Sơn là xã miền núi thấp của tỉnh Hòa Bình, có nhiều diện tích rừng và đất Lâm nghiệp, nhƣng cùng với tình trạng suy thoái tài nguyên rừng chung của cả nƣớc, diện tích rừng và đất Lâm nghiệp của xã ngày càng bị thu hẹp, tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng do rất nhiều nguyên nhân. Đứng trƣớc thực trạng đó, Đảng ủy, chính quyền địa phƣơng đã có nhiều biện pháp, giải pháp nhằm thực hiện công tác bảo vệ tài nguyên rừng. Tuy nhiên, biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ rừng cho cộng đồng chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, nội dung tuyên truyền, giáo dục chƣa phù hợp với từng đối tƣợng, hình thức tuyên truyền, giáo dục chƣa phong phú, chƣa dễ nghe, dễ hiểu.
Đặc biệt là chƣa quan tâm đến việc giáo dục, truyền thông ý thức bảo vệ tài nguyên rừng cho lứa tuổi học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở trên địa bàn xã. Nhận thức đƣợc ý nghĩa to lớn, sâu sắc của việc giáo dục, truyền thông cho trẻ em, tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục và truyền thông bảo vệ tài nguyên rừng cho trẻ từ 6 – 11 tuổi tại Trường tiểu học xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề chung về tài nguyên rừng 1. Khái niệm về rừng Theo Thông tƣ số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn, rừng đƣợc hiểu nhƣ sau: - Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,…có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác nhƣ bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trƣờng và cảnh quan.
- Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trƣởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trƣởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên đƣợc coi là rừng. - Độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên. - Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên. Vai trò và giá trị của rừng a.
Vai trò của rừng Rừng đƣợc coi là lá phổi xanh của thế giới giúp điều hòa khí hậu, cân bằng sinh thái. rừng còn cung cấp oxi để phục vụ cho hô hấp của con ngƣời, động vật trên Trái đất. Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò to lớn đối với con ngƣời nhƣ: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, điều hòa nƣớc, nơi cƣ trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm. Rừng làm hạn chế tình trạng cát bay, sự xâm lấn của biển.
rừng còn có khả năng giữ nƣớc ngầm. Rừng có vai trò bảo vệ nguồn nƣớc, bảo vệ đất, chống xói mòn. Lƣợng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10% lƣợng đất xói mòn của vùng đất không có rừng. 3 Thảm mục rừng là kho chứa các chất dinh dƣỡng khoáng, mùn và ảnh hƣởng lớn đến độ phì nhiêu của đất.
đây cũng là nơi cƣ trú và cung cấp chất dinh dƣỡng cho vi sinh vật, nhiều loại côn trùng và động vật đất. Giá trị của rừng Rừng có một giá trị rất to lớn trong đời sống xã hội bao gồm: giá trị về mặt kinh tế, giá trị về mặt môi trƣờng, giá trị về mặt xã hội, giá trị về mặt bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, bảo tồn cảnh quan, di tích, giá trị về mặt nghiên cứu khoa học … 1. Hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam Theo số liệu hiện trạng rừng toàn quốc năm 2010 tại Quyết định số 1828/QĐ-BNN-TCLN ngày 11/8/2011 của Bộ NN&PTNT về việc công bố hiện trạng rừng toàn Quốc năm 2010 (bảng 1.1) và hiện trạng rừng toàn Quốc năm 2015 tại Quyết định số 3158/QĐ-BNN-TCLN ngày 27/7/2016 của Bộ NN&PTNT về việc công bố hiện trạng rừng toàn Quốc năm 2015(Bảng 1. Số liệu diện tích rừng có đến ngày 31/12/2010 trong toàn quốc (Đơn vị: ha) Loại rừng Tổng cộng Trong 03 loại rừng Ngoài 3 Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất loại rừng Tổng diện tích rừng 13.112 Rừng tự nhiên 10.
Số liệu diện tích rừng có đến ngày 31/12/2015 trong toàn quốc (Đơn vị: ha) Loại rừng Tổng cộng Trong 03 loại rừng Ngoài 3 Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất loại rừng Tổng diện tích rừng 14.968 Rừng tự nhiên 10.552 4 Từ số liệu bảng 1.2 cho thấy, từ năm 2010 đến năm 2015, tổng diện tích rừng toàn quốc có biến động nhƣ sau: Tổng diện tích rừng tăng 673.781 ha, do các nguyên nhân: - Diện tích rừng trồng tăng 803.078 ha - Diện tích rừng tự nhiên giảm 129.297 ha Diện tích rừng trong quy hoạch 3 loại rừng chỉ tăng có 14.925 ha, trong khi đó diện tích ngoài quy hoạch 3 loại rừng lại tăng 658. Nhƣ vậy diện tích rừng toàn quốc từ năm 2010 đến năm 2015 có tăng lên về mặt số lƣợng, nhƣng tính đa dạng sinh học của rừng lại bị suy giảm do diện tích rừng tự nhiên giảm đi, diện tích ngoài quy hoạch 3 loại rừng tăng lên. Nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng Theo kết quả nghiên cứu của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, 2011. Có thể nêu ra các nguyên nhân chính gây nên sự mất rừng và làm suy thoái rừng ở nƣớc ta là: - Đốt nƣơng làm rẫy: sống du canh du cƣ; khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ làm vật liệu, khai thác củi làm chất đốt; trong tổng số diện tích rừng bị mất hàng năm thì khoảng 40 – 50% là do đốt nƣơng làm rẫy.
- Chuyển đất có rừng sang đất sản xuất các loại cây vì mục đích kinh doanh, đặc biệt là phá rừng để trồng các cây công nghiệp nhƣ cà phê ở Tây Nguyên chiếm 40 – 50% diện tích rừng bị mất trong khu vực. - Khai thác quá mức vƣợt khả năng phục hồi tự nhiên của rừng. - Do ảnh hƣởng của bom đạn và các chất độc hóa học trong chiến tranh, riêng ở miền Nam đã phá hủy khoảng 2 triệu ha rừng tự nhiên. - Do cháy rừng, nhất là các rừng tràm, rừng thông, rừng khộp rụng lá.
- Do khai thác không có kế hoạch, kỹ thuật khai thác lạc hậu làm lãng phí tài nguyên rừng. - Thiên tai lũ lụt, hạn hán xảy ra thƣờng xuyên cuốn trôi nhiều diện tích rừng và đất Lâm nghiệp trong đó có rừng ngập mặn.