CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU XÂM NHẬP MẶN NƯỚC NGẦM 1. Các khái niệm 1) Nước ngầm Nước ngầm là loại nước trọng lực dưới đất ở trong tầng chứa nước thứ nhất kể từ trên mặt xuống.Phía trên tầng nước ngầm thường không có lớp cách nước che phủ và nước trọng lực không chiếm toàn bộ bề dày của đất đá thấm nước, nên bề mặt của nước ngầm là một mặt thoáng tự do. Nước ngầm vận động dưới tác dụng của độ chênh lệch mực nước, chảy theo hướng từ nơi có mực nước ngầm cao đến nơi có mực nước ngầm thấp hơn. Nó thường được chứa trong trầm tích bở rời điển hình như trong aluvi, proluvi hoặc trong các dải cát, đụn cát ven biển.
2) Xâm nhập mặn nước ngầm Xâm nhập mặn là quá trình làm tăng độ muối (chủ yếu là NaCl) trong nước nhạt và thu hẹp không gian của các thể chứa nước nhạt. XNM ở vùng ven biển xảy ra khi cột thuỷ áp của nước ngầm hạ thấp xuống dưới mực nước biển, do thay đổi về điều kiện cân bằng nước ngầm tự nhiên hay do quá trình khai thác sử dụng nước ngầm quá mức khiến cho mực nước ngầm hạ thấp, dẫn đến sự dịch chuyển của biên mặn về phía đất liền. 3) Điện trở suất của tầng chứa nước Đất đá có thể xem như một tập hợp gồm ba pha: pha cứng (đất đá hay khoáng vật); pha lỏng (nước trong tầng chứa) và pha khí (khí trong các lỗ hổng). Điện trở suất (ĐTS) của pha lỏng thường có giá trị nhỏ nhất.
Vì vậy, điện trở suất của đất đá chứa nước chủ yếu do điện trở suất của nước quyết định (trừ trường hợp tầng chứa nước có xen các lớp sét). Nước tự nhiên là các chất điện phân chứa các loại ion khác nhau.Khi ta tạo ra điện trường thì các ion đó sẽ chuyển dịch và xuất hiện dòng điện. Mật độ dòng điện phụ thuộc vào mật độ, loại ion và tốc độ di chuyển của chúng[12, 31]. Điện trở suất của chất điện phân (nước) ρw được xác định theo công thức sau: = (1.1) ∑( ) nếu ca = cc = C thì = = (1.3) ∑( ) 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó: ca và cc - mật độ của anion và cation và hàm lượng anion và cation thông thường ca = cc = C; va và vc - tốc độ di chuyển của anion và cation; fa và fc - độ linh động của anion và cation, phụ thuộc vào hàm lượng muối hoà tan và thành phần hóa học của chúng.
Loại dẫn điện ion xảy ra trong đất, đá lỗ hổng, khe nứt lấp đầy dung dịch. Phần tử tải điện là các ion. Khi có tác động của trường điện bên ngoài, các ion dịch chuyển định hướng tạo nên dòng điện. Loại dẫn điện ion thường gặp trong đất đá trầm tích.Archie (1942) khi nghiên cứu độ dẫn điện của các tầng chứa nước, đã chỉ ra rằng điện trở suất của một tầng chứa tỷ lệ thuận với điện trở suất của nước lấp đầy trong các lỗ hổng và tỷ lệ nghịch với độ lỗ hổng của tầng chứa nước.
Mối quan hệ này được biểu diễn dưới dạng định luật Archie như sau: = = = = (1.2): = ,a Trong đó: ρbuk - điện trở suất của tầng chứa nước, F - hệ số cấu thành tầng chứa nước; ρw - điện trở suất của nước lấp đầy các lỗ hổng của tầng chứa nước; a - hệ số, phụ thuộc vào đất (a = 0,4; 1,4); k - độ lỗ hổng của đất đá; n - hệ số cấu trúc (n = 1,3; 2,2). Đối với tầng chứa nước xác định thì hệ số cấu thành tầng chứa nước (F) không thay đổi. Như vậy, điện trở suất của các tầng chứa nước chỉ biến đổi do tính chất của nước trong tầng chứa nước thay đổi (do nhiễm mặn, nhiễm bẩn,. Sự biến đổi chất lượng nước ngầm nói chung trong một lãnh thổ rất phức tạp, cả về không gian và thời gian.
Thông thường, chất lượng nước ngầm bao gồm rất nhiều yếu tố để đánh giá như hàm lượng các ion, các chất keo, các hợp chất có mặt trong nước… trong đó tổng khoáng hoá là chỉ tiêu cơ bản nhất và quan trọng nhất để đánh giá chất lượng nước vì đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng nước tổng quát nhất. 4) Tổng chất rắn hòa tan (TDS) Bao gồm khoáng chất, muối hoặc kim loại tồn tại trong một khối lượng nước nhất định, đơn vị biểu thị thường là mg/lhoặc ppm (phần nghìn). TDS được lấy làm cơ sở ban đầu để xác định mức độ sạch của nguồn nước. TDS tồn tại dưới dạng các ion âm và ion dương, do nước luôn có tính hoà tan rất cao nên nó thường có xu hướng lấy các ion từ các vật mà nó tiếp xúc.
Từ mối tương quan giữa giá trị TDS của nước và kết quả đo điện trở suất đất đá chứa nước có thể xác định được đới mặn/nhạt của nước ngầm [12]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Phân loại nước dưới đất theo độ tổng khoáng hóa Giới hạn TDS TT Phân loại (g/l) 1 Siêu nhạt <0.2-1 3 Lợ 1 -3 4 Hơi mặn 3-10 5 Mặn 10-35 6 Muối >35 Nguồn [1, 22, 24, 27] 1. Cơ chế xâm nhập mặn nước dưới đất 1. Các quá trình dịch chuyển chất hòa tan Vận động của vật chất hòa tan trong môi trường NDĐ là quá trình cơ lý và hóa học rất phức tạp, được gọi là “di chuyển chất hòa tan” theo các quá trình sau: Quá trình di chuyển đối lưu:các chất hoà tan vận chuyển theo dòng chảy NDĐ với tổng lượng chất hòa tan (Fx) theo một hàm số nồng độ của chúng trong nước (C) và lượng dòng ngầm.
Đối với dòng một chiều, một đơn vị diện tích tiết diện lỗ hổng có lưu lượng dòng ngầm là: Fx =C* vxne(1.6) Trong đó:vxne- độ lỗ hổng hữu hiệu, C - vận tốc thấm trung bình Phương trình vận chuyển vật chất theo kiểu piston cho dòng một chiều có dạng (2.2) và thể hiện qua hình dạng của đường nồng độ (hình 1.1: Quá trình dịch chuyển của chất hòa tan theo thời gian và ảnh hưởng của quá trình khuếch tán 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quá trình phân tán: nước mặn (nước biển) di chuyển từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp hơn. Sự khuếch tán diễn ra đến khi nào gradient nồng độ còn tồn tại, ngay cả khi không có dòng chảy. Mức độ khuếch tán tỷ lệ thuận với gradient nồng độ, tuân theo định luật thứ nhất của Fick: F = - Dd (dC/dx) (1.8) Trong đó: F - dòng vật chất trên một đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian; Dd - hệ số khuếch tán, m2/s; C - nồng độ chất tan, g/cm3; dC/dx - gradient nồng độ (g/cm2). Dấu trừ thể hiện vận động từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp hơn.
Ở 25oC có thể xác định Dd theo bảng có sẵn. Trường hợp chất tan có nồng độ thay đổi theo thời gian thì áp dụng định luật thứ 2 của Fick: C 2C Dd 2 (1.9) t x C Trong đó: - sự thay đổi nồng độ theo thời gian. t Trong môi trường lỗ hổng, quá trình khuếch tán xảy ra không nhanh như trong môi trường nước vì các ion phải di chuyển quãng đường dài hơn khi đi vòng qua các hạt đất đá. Hệ số khuếch tán phân tử D* được xác định theo công thức: D* = Dd (1.10) Trong đó: - hệ số tỷ lệ phụ thuộc vào mức độ cong của đường vận chuyển.
Sự khuếch tán làm cho chất tan luôn vận động trong môi trường lỗ hổng ngay cả khi không có dòng chảy tự nhiên. Sự khuếch tán của vật chất có nồng độ Co tại thời điểm to và vận động từ khoảng (x-a) tới (x+a), đến thời điểm t1 và t2 nồng độ chất tan giảm nhưng lại tăng ngoài khoảng này (hình 1. Nồng độ chất tan phân bố theo quy luật phân phối chuẩn Gausse đặc trưng bởi nồng độ trung bình và phương sai. Có thể xác định hệ số khuếch tán hữu hiệu qua hai đại lượng phương sai và thời gian: D* = c2/2t (1.11) Quá trình khuếch tán thực tế cần xem xét là các ion chủ yếu phải ở trạng thái trung hoà điện tích.
Nếu chất tan bị hấp phụ vào bề mặt hạt rắn thì tỷ lệ khuếch tán nhìn chung sẽ nhỏ hơn so với chất không bị hấp phụ. Nếu coi nồng độ vật chất ban đầu trong chất thải rắn là Co, không đổi theo thời gian, sau thời gian t, tại khoảng cách nồng độ chất tan là Ci (x,t), nếu tính đến điều kiện biên và điều kiện ban đầu (Grank, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1956) thì: x Ci ( x , t ) Co erfc (1.13) Giá trị erfc(B) dao động trong khoảng 0 - 2. Quá trình khuếch tán vật chất diễn ra từ vùng có nồng độ Co tới vùng có nồng độ Ci=0 được biểu diễn trên hình 1.8 Nồng độ tương quan 0.2: Đồ thị dự báo đường nồng độ do quá trình khuếch tán phân tử Từ những nhận định trên cho thấy quá trình khuếch tán không có ý nghĩa đặc thù đối với sự di chuyển của chất tan. Nó thể hiện một cơ chế vận động ưu thế trong ĐCTV khi các đất đá chứa nước có tính thấm kém.
Tuy nhiên, nó vẫn có thể diễn ra trong các khoảng không của khe nứt, lỗ hổng lớn, kể cả khi không có dòng chảy tự nhiên. Quá trình phân tán cơ học Quá trình phân tán cơ học diễn ra khi các chất hòa tan di chuyển qua môi trường lỗ rỗng. Chất hòa tan dọc theo đường dòng gọi là quá trình phân tán dọc. Sự trộn lẫn theo phương vuông góc với đường dòng gọi là phân tán ngang.
Quá trình phân tán cơ học chịu ảnh hưởng của kích thước lỗ hổng dẫn đến vận chuyển chậm hay nhanh, chiều dài đường vận chuyển và ma sát trong lỗ hổng. Nếu toàn bộ nước ngầm chứa chất bẩn vận động cùng nhau thì sẽ thay thế nước sạch và tạo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên một bề mặtt ngăn cách giữa gi hai loại nước. Hơn nữa, sự xâm nh nhập chất bẩn không chuyển động cùng mộtt vận v tốc với nước xảy ra quá trình hỗnn hhợp trên đường vận chuyển, dẫn đến sự pha loãng chất ch bẩn trong dòng chảy. Nếuu quá trình phân tán cơ c học tuân theo định luậtt Fick như đđối với khuếch tán thì tổng phân tán là hàm số của vận tốc thấm trung bình, h, trong đó có tính đđến hệ số phân tán cơ học.
Hệ số này tương đương với v thông số trung bình, đượcc ggọi đơn giản là phân tán thấm ().