Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu sử dụng vùng sống của vọoc mũi hếch rhinopithecus avunculus dollman 1912 ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh vọoc mũi hếch ở khau ca tỉnh hà giang

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay nghiên cứu sử dụng vùng sống của vọoc mũi hếch rhinopithecus avunculus dollman 1912 ở khu bảo, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Khoa học lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2010

70
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Vùng sống và một số phương pháp nghiên cứu vùng sống

1.1.1. Khái niệm về vùng sống

1.1.2. Một vài phương pháp ước tính vùng sống đang được sử dụng

1.2. Tổng quan về vùng sống của một vài loài khỉ ăn lá ở Châu Á

1.2.1. Sinh cảnh sống

1.2.2. Kích thước vùng sống

1.2.3. Quãng đường di chuyển trong ngày

1.2.4. Nơi ngủ

1.3. Giống Voọc mũi hếch (Rhinopithecus)

1.3.1. Phân loại và phân bố

1.3.2. Nơi sống

1.3.3. Đặc trưng về hệ thực vật tại nơi sống

1.3.4. Tập tính sử dụng vùng sống của một vài loài trong giống

1.3.4.1. Kích thước vùng sống

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu vùng sống của vọoc mũi hếch tại Khau Ca Hà Giang

Nghiên cứu vùng sống của vọoc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) tại Khau Ca, Hà Giang là một chủ đề quan trọng trong bảo tồn động vật hoang dã. Vọoc mũi hếch là một trong bốn loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam, hiện đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Khu bảo tồn Khau Ca được coi là nơi nuôi dưỡng quần thể lớn nhất của loài này với khoảng 90 cá thể. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về vùng sống của vọoc mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho các hoạt động bảo tồn.

1.1. Đặc điểm sinh học và phân bố của vọoc mũi hếch

Vọoc mũi hếch có đặc điểm sinh học độc đáo và phân bố chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc Việt Nam. Chúng sống trong các khu rừng nhiệt đới thường xanh, nơi có độ cao từ 1000m đến 4000m. Việc hiểu rõ về đặc điểm sinh học của loài này là cần thiết để xây dựng các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

1.2. Tình trạng bảo tồn và nguy cơ tuyệt chủng

Theo Sách Đỏ IUCN, vọoc mũi hếch được xếp vào danh sách loài cực kỳ nguy cấp. Tình trạng này đòi hỏi các biện pháp bảo tồn khẩn cấp để bảo vệ quần thể còn lại. Việc nghiên cứu vùng sống của chúng sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự sống còn của loài này.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu vùng sống của vọoc mũi hếch

Nghiên cứu vùng sống của vọoc mũi hếch gặp nhiều thách thức, bao gồm sự thay đổi môi trường sống và áp lực từ con người. Các hoạt động khai thác rừng và phát triển kinh tế đã làm giảm diện tích rừng tự nhiên, ảnh hưởng đến nơi sống của loài này. Việc hiểu rõ các vấn đề này là cần thiết để đưa ra các giải pháp bảo tồn hiệu quả.

2.1. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của vọoc mũi hếch. Sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa có thể làm thay đổi hệ sinh thái nơi chúng sinh sống, dẫn đến sự suy giảm nguồn thức ăn và nơi trú ẩn.

2.2. Tác động của con người đến môi trường sống

Các hoạt động của con người như khai thác gỗ, nông nghiệp và xây dựng hạ tầng đã làm giảm diện tích rừng tự nhiên. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến vùng sống của vọoc mà còn làm tăng nguy cơ tuyệt chủng cho loài này.

III. Phương pháp nghiên cứu vùng sống của vọoc mũi hếch tại Khau Ca

Để nghiên cứu vùng sống của vọoc mũi hếch, nhiều phương pháp đã được áp dụng, bao gồm phương pháp ô lưới và đa giác lồi tối thiểu. Những phương pháp này giúp xác định kích thước và phân bố vùng sống của loài, từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn phù hợp.

3.1. Phương pháp ô lưới Grid cell

Phương pháp ô lưới giúp xác định diện tích vùng sống của vọoc mũi hếch bằng cách chia khu vực nghiên cứu thành các ô lưới. Kết quả cho thấy kích thước vùng sống của loài này có thể thay đổi theo mùa và theo mật độ quần thể.

3.2. Đa giác lồi tối thiểu Minimum convex polygons

Phương pháp đa giác lồi tối thiểu được sử dụng để xác định khu vực mà vọoc mũi hếch thường xuyên di chuyển. Phương pháp này giúp xác định các điểm ngủ và nguồn thức ăn của loài, từ đó cung cấp thông tin quan trọng cho việc bảo tồn.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về vùng sống của vọoc mũi hếch tại Khau Ca đã chỉ ra rằng kích thước vùng sống của loài này dao động từ 3,5 đến 10 km2. Những thông tin này rất quan trọng cho các hoạt động bảo tồn và quản lý quần thể vọoc mũi hếch tại khu vực này.

4.1. Kích thước vùng sống và hành vi di chuyển

Kích thước vùng sống của vọoc mũi hếch có liên quan chặt chẽ đến hành vi di chuyển của chúng. Nghiên cứu cho thấy rằng loài này có thể di chuyển một quãng đường dài trong ngày để tìm kiếm thức ăn và nơi trú ẩn.

4.2. Ứng dụng trong bảo tồn động vật hoang dã

Thông tin từ nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chương trình bảo tồn hiệu quả hơn cho vọoc mũi hếch. Việc bảo vệ môi trường sống tự nhiên là rất quan trọng để duy trì quần thể loài này.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu vùng sống vọoc mũi hếch

Nghiên cứu vùng sống của vọoc mũi hếch tại Khau Ca đã cung cấp nhiều thông tin quý giá cho việc bảo tồn loài này. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sống còn của chúng. Tương lai của vọoc mũi hếch phụ thuộc vào các biện pháp bảo tồn hiệu quả và sự hợp tác giữa các bên liên quan.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc theo dõi quần thể vọoc mũi hếch và các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến chúng. Điều này sẽ giúp đưa ra các giải pháp bảo tồn phù hợp hơn.

5.2. Hợp tác trong bảo tồn động vật hoang dã

Sự hợp tác giữa các tổ chức bảo tồn, chính quyền địa phương và cộng đồng là rất quan trọng để bảo vệ vọoc mũi hếch. Các chương trình giáo dục cộng đồng cũng cần được triển khai để nâng cao nhận thức về bảo tồn.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu sử dụng vùng sống của vọoc mũi hếch rhinopithecus avunculus dollman 1912 ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh vọoc mũi hếch ở khau ca tỉnh hà giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Vùng sống và một số phương pháp nghiên cứu vùng sống Khái niệm về vùng sống Vùng sống của mỗi loài động vật được định nghĩa là “khu vực di chuyển bởi các cá thể trong các hoạt động bình thường của chúng cho việc thu thập thức ăn, giao phối và chăm sóc con non” [20]. Do đó, một cách đơn giản nhất, phân tích vùng sống của một loài động vật bao gồm việc vạch ra khu vực mà các loài đó tiến hành các hoạt động bình thường (Burt, 1943), điều này cũng đồng nghĩa với việc ghi lại những vị trí mà các cá thể đã được ghi nhận quan sát [54]. Những thông tin ghi nhận từ việc nghiên cứu và phân tích vùng sống có thể được sử dụng để kiểm tra các học thuyết cơ bản liên quan tới tập tính của động vật, sử dụng nguồn tài nguyên, sự phân bố quần thể hoặc kiểm tra sự tương tác lẫn nhau giữa các cá thể và trong quần thể [54].

Kích thước vùng sống có thể chịu ảnh hưởng của nhân tố chủ quan và khách quan. Theo Burt (1943), kích thước vùng sống có thể thay đổi theo giới tính, theo mùa, theo mật độ quần thể và có thể theo độ tuổi. Một số tác giả khác cho rằng, sự thay đổi kích thước vùng sống của đàn còn chịu ảnh hưởng của kích thước đàn [57, 30, 8]. Trong khi đó, một vài nghiên cứu khác về các loài Linh trưởng lại cho thấy, kích thước vùng sống tương quan với trọng lượng cơ thể [45, 14].

Ngoài những nhân tố khách quan trên, ước tính kích thước vùng sống còn chịu ảnh hưởng của việc lựa chọn kỹ thuật, phương pháp ước tính [26]. Độ chính xác kích thước vùng sống khi ước tính cũng bị thay đổi khá nhiều khi áp dụng phương pháp hệ thống ô lưới với việc sử dụng các kích thước ô lưới khác nhau [26]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Một vài phương pháp ước tính vùng sống đang được sử dụng Trong nghiên cứu về vùng sống nói chung, hiện nay có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để ước tính kích thước vùng sống. Trên cơ sở căn cứ theo việc xác định vị trí các điểm của nghiên cứu về vùng sống nói chung, phân tích vùng sống có thể chia thành 4 phương pháp tiếp cận cơ bản khác nhau bao gồm: - Đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons) - Mô hình 2 biến số thông thường (Bivariate normal models) - Mô hình phi tham số (Nonparametric models) - Mô hình đường đồng mức (Contouring models) (Nguồn: Rodger và Carr, 1998[54]) - Adaptive kernel - Harmonic Mean Hiện nay, trong nghiên cứu và ước tính vùng sống của các loài Linh trưởng, các nhà khoa học thường sử dụng một số các biện pháp như: Phương pháp ô lưới (Grids cell - GC); Đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons - MCP); Phương pháp đa giác lồi tối thiểu có điều chỉnh (Adjusted minimum convex polygons – Adjust MCP)… Việc áp dụng các phương pháp ước tính vùng sống khác nhau trên cùng một đối tượng có thể cho các kết quả khác nhau [26].

Ngoài ra, khi áp dụng phương pháp ô lưới với mỗi loại kích thước ô lưới khác nhau (hay tỷ lệ bản đồ khác nhau) cũng có thể làm thay đổi khá lớn kích thước vùng sống. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về việc lựa chọn phương pháp ước tính vùng sống của loài Voọc mũi hếch Vân Nam (Rhinopithecus bieti), Grueter và ctv (2008), nhận thấy kích thước vùng sống theo hàng tháng có sự thay đổi đáng kể với mỗi phương pháp sử dụng khác nhau, (MCP – 16,96 km2; Adjust MCP – 14, 52 km2; và GC – 1,06 km2. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu từ nhóm tác giả cũng cho thấy tổng kích thước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vùng sống tăng từ 24,75 km2 lên 34,25 km2 khi tăng kích thước ô lưới từ 250m lên 500m [26]. Tổng quan về vùng sống của một vài loài khỉ ăn lá ở Châu Á 1.

Sinh cảnh sống Các loài khỉ ăn lá về cơ bản sống trong rừng, nhưng chúng xuất hiện trong một phạm vi phân bố rộng với nhiều các kiểu rừng khác nhau, bao gồm rừng khô lá rộng, rừng tre nứa nhiệt đới, rừng ven sông, rừng đầm lầy, rừng đước và rừng mưa nhiệt đới thường xanh. Chẳng hạn như, với loài Khỉ vòi (Nasalis larvatus) có nơi sống chủ yếu ở những vùng ven sông, rừng đước ven biển phía đông Malaysia [16, 31], các khu vực dọc theo sông Kinabatangan, với địa hình phần lớn là bằng phẳng [16]. Một vài loài khỉ ăn lá khác có nơi sống là các khu rừng trên cao với nhiều dãy núi đá vôi điển hình như một số loài trong giống Trachypithecus hay Rhinopithecus [11, 47, 49]. Trong khi đó, loài Khỉ Nhật Bản lại có nơi sống đặc biệt, ở những vùng núi thuộc Honshu, đảo Koshima của Nhật Bản, với nhiệt độ trong mùa đông có thể xuống đến – 15oC.

Kích thước vùng sống Kích thước vùng sống của nhóm khỉ ăn lá là khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi loài, có thể biến đổi từ vài chục cho tới hàng trăm ha. Chẳng hạn, với loài Khỉ vòi (Nasalis larvatus) độ rộng vùng sống được ghi nhận khoảng hơn 100 ha [16, 44]. Trong khi đó, kết quả này của loài Voọc đỏ (Presbytis rubicunda) được ghi nhận chỉ từ 3,3 – 9,9 ha [30]. Bên cạnh việc chịu ảnh hưởng bởi các loài khác nhau, kích cỡ vùng sống ước tính còn thay đổi hàng tháng [40, 62, 16] và chịu ảnh hưởng bởi số lượng cá thể trong đàn hoặc kích cỡ quần thể [30, 60, 8].

Một vài tác giả khi nghiên cứu về vùng sống của một số các loài khỉ ăn lá cho thấy kích thước vùng sống có liên quan tới chất lượng cũng như sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phân bố theo không gian và thời gian của nguồn thức ăn [40, 16, 44]. Theo Li và Rogers (2004), chất lượng nơi sống của loài Voọc, má trắng (Trachypithecus francoisi) tăng lên được thể hiện ở số loài thức ăn ưa thích của chúng nhiều hơn, điều này cũng sẽ làm tăng sự hấp dẫn của các con cái từ phía con đực, do đó kích cỡ trong đàn tăng lên, phù hợp với chất lượng nơi sống tăng [40]. Trong khi đó theo Boonratana (2000), tỉ lệ lượng hoa và quả trong chế độ ăn của chúng sẽ làm ảnh hưởng tới kích thước vùng sống [16].1: Kích thước vùng sống của một số loài khỉ ăn lá Châu Á STT Loài Kích thước(ha) Nguồn 1 Voọc đầu trắng 28-18 Li & Rogers, 2005 2 Khỉ vòi 138.3 Matsuda và ctv, 2008 3 Khỉ vòi 220.5 Boonratana, 2000 4 Khỉ tây tạng 18 Zhao & Deng, 1988 5 Voọc đầu trắng 19 Zhou và ctv, 2006 6 Voọc mông trắng 36 – 46 Nguyễn Vĩnh Thanh, 2007 7 Voọc đỏ 3.9 Supriatna, 1986 Vùng sống của một số loài trong nhóm khỉ ăn lá thay đổi hàng tháng [62, 16, 44]. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các tháng là không ý nghĩa [62].

Kết quả nghiên cứu của Zhou và ctv (2006), cũng ghi nhận tập tính sử dụng vùng sống của loài Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi) với khoảng 55% tổng số các hoạt động xảy ra tập trung ở một khu vực nhỏ, và 22% các hoạt động xảy ra ở những nơi có chứa hoặc gần các điểm ngủ [62]. Trong khi đó, theo Matsuda và ctv (2008) khi nghiên cứu về loài Khỉ vòi (Nasalis larvatus) nhận thấy, mức độ sẵn có của các loại quả ảnh hưởng tới vùng sống của chúng. Nhóm tác giả cho rằng sự sẵn có của nguồn thức ăn và mối nguy hiểm từ sự xuất hiện của các loài ăn thịt ảnh hưởng chính tới vùng phân bố của loài [44]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Quãng đường di chuyển trong ngày Độ dài quãng đường di chuyển trong ngày là một tiêu chí quan trọng, có liên quan tới tập tính sử dụng vùng sống của một loài. Do vậy khi nghiên cứu về vùng sống của một số loài Linh trưởng, một số tác giả cho thấy độ dài di chuyển trong ngày có liên hệ với tập tính sử dụng vùng sống của mỗi loài, bao gồm: mức độ phong phú, tính sẵn có và sự phân bố của các loài thức ăn [16, 44, 62, 8]. Nguyễn Vĩnh Thanh (2007) nhận thấy rằng chiều dài trung bình di chuyển trong ngày của mỗi đàn Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là khác nhau (trung bình biến đổi trong khoảng từ 666,3 m – 781m), tuy nhiên kết quả phân tích thống kê lại cho thấy, sự khác nhau này là không có ý nghĩa. Cũng theo tác giả, chiều dài di chuyển trong ngày lớn nhất của loài này được ghi nhận tháng 4 năm 2006 - thời điểm lượng thức ăn cung cấp được cho là nhiều nhất, mặc dù vậy, song kết quả phân tích mối liên hệ cho thấy không có sự tương quan giữa độ dài di chuyển trong ngày với vật hậu học của các loài thực vật làm thức ăn cho chúng [8].

Quãng đường di chuyển trong ngày cũng thay đổi theo các mùa khác nhau [62], điều này được giải thích cơ bản thông qua sự chênh lệch về mức độ phong phú của các nguồn thức ăn ưa thích giữa các mùa cũng khác nhau. Zhou và ctv (2006), khi nghiên cứu về loài Voọc đầu trắng, nhận thấy chiều dài di chuyển khác nhau lần lượt giữa mùa khô và mùa mưa là 403 (m) so với 471 (m). Theo tác giả, sự chênh lệch này là do trong mùa khô lượng thức ăn khan hiếm hơn [62]. Độ dài di chuyển trong ngày của loài Khỉ vòi lớn hơn khá nhiều so với một số các loài kể trên, có thể thay đổi trong phạm vi lớn từ vài trăm đến hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghìn mét [16, 44].

Kết quả nghiên cứu của Boonratana (2000) chỉ ra rằng, không có sự tương quan giữa các yếu tố gồm: lượng mưa hàng tháng, lượng lá non, lượng hoa, quả với chiều dài quãng đường di chuyển trong ngày. Duy nhất tỉ lệ thành phần lá non trong khẩu phần ăn của loài này tương quan với chiều dài quãng đường di chuyển trong ngày [16]. Theo tác giả, khi mà lượng lá non nhiều hơn các loại quả trong chế độ ăn của chúng, độ dài quãng đường di chuyển sẽ lớn hơn, điều này cũng đồng nghĩa đây là thời điểm cho thấy sự đa dạng trong khẩu phần ăn của loài này cũng tăng lên. Ngoài ra, sự gia tăng độ dài di chuyển trong ngày của loài có thể do chúng đã thăm dò, thám hiểm xung quanh và kiếm ăn trên nhiều loại thức ăn [44].

Nơi ngủ Nơi ngủ của một vài loài trong nhóm khỉ ăn lá được ghi nhận là khá đa dạng, bao gồm: hang [62, 51, 63]; vách đá, rìa đá, bờ đá [62, 51, 63, 60, 8]; và trên cây [16, 44, 60].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu vùng sống của vọoc mũi hếch tại Khau Ca, Hà Giang" cung cấp cái nhìn sâu sắc về môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh tồn của loài vọoc mũi hếch. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn loài động vật quý hiếm này mà còn đề xuất các biện pháp bảo vệ hiệu quả. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về sinh thái học, hành vi và các thách thức mà loài vọoc này đang phải đối mặt.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu bảo tồn động vật khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình trạng và tập tính của voi châu á elephas maximus linnaeus 1758 tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa đồng nai, nơi khám phá tình trạng và hành vi của loài voi châu Á. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hay xác định một số đặc điểm sinh thái loài chà vá chân đen pygathrix nigripes và đề xuất giải pháp bảo tồn tại vườn quốc gia bù gia mập tỉnh bình phước cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các biện pháp bảo tồn cho loài động vật khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình trạng và bảo tồn loài sơn dương capricornis milneedwardsii tại vườn quốc gia cát bà hải phòng, một nghiên cứu quan trọng về bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về công tác bảo tồn động vật và môi trường sống của chúng.