Tổng quan nghiên cứu

Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus Dollman, 1912) là một trong 4 loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm nhất của Việt Nam, đồng thời được ghi nhận trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất trên quy mô toàn cầu. Loài này hiện đang xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Danh lục Đỏ IUCN 2010 và Sách Đỏ Việt Nam 2007, thuộc nhóm IB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca thuộc tỉnh Hà Giang với diện tích tự nhiên khoảng 1.000 ha là nơi lưu giữ quần thể Voọc mũi hếch lớn nhất tại Việt Nam. Dù đã có những nghiên cứu ban đầu về tập tính ăn và thành phần loài, các dữ liệu định lượng về kích thước vùng sống, quãng đường di chuyển và cường độ sử dụng sinh cảnh vẫn còn nhiều khoảng trống học thuật cần được làm sáng tỏ.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác định các đặc trưng định lượng về vùng sống, đo đạc chiều dài quãng đường di chuyển hàng ngày, phân tích cường độ sử dụng sinh cảnh cùng đặc điểm các điểm ngủ đêm và nghỉ trưa của Voọc mũi hếch tại Khau Ca. Từ đó, công trình đánh giá các mối đe dọa từ hoạt động nhân sinh để xây dựng hệ thống giải pháp quản lý bảo tồn mang tính thực tiễn cao. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại tọa độ 22°49'38'' – 22°51'52'' vĩ độ Bắc và 105°05'55'' – 105°09'12'' kinh độ Đông trong giai đoạn từ ngày 11/03/2010 đến ngày 16/06/2010, bao gồm 60 ngày bám sát thực địa và 11 ngày trực tiếp quan sát, thu thập dữ liệu theo dõi đàn. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài được khẳng định qua việc xác lập mật độ quần thể đạt 15 cá thể/km² với tổng số 103 cá thể ghi nhận, tăng trưởng đáng kể so với con số 60 cá thể năm 2006, tạo tiền đề khoa học vững chắc để thiết lập các ranh giới bảo vệ sinh cảnh tối ưu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng học thuyết sinh thái học vùng sống của Burt (1943), định nghĩa vùng sống là toàn bộ không gian địa lý mà cá thể hoặc đàn động vật di chuyển qua để thực hiện các hoạt động sinh tồn bình thường như tìm kiếm thức ăn, giao phối và nuôi dưỡng con non. Luận văn kết hợp lý thuyết tương tác sinh thái và hành vi động vật của Bekoff và Mech (1984), khẳng định kích thước vùng sống biến động theo chất lượng thảm thực vật, tính sẵn có của nguồn thức ăn và sức ép từ môi trường xung quanh. Đồng thời, mô hình đánh giá mối đe dọa sinh thái của Margoluis và Salafsky (2001) được áp dụng để lượng hóa các tác động nhân sinh dựa trên 3 tiêu chí: diện tích ảnh hưởng, cường độ tác động và tính cấp thiết với thang điểm chuẩn hóa từ 1 đến 5.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Vùng sống tổng thể (Home Range), Vùng lõi (Core Area - khu vực chiếm 50% tần suất hoạt động tập trung nhất), Quãng đường di chuyển trong ngày (Daily Range Length - DRL), Cấu trúc xã hội đơn vị một đực (One-male unit) và Mật độ cá thể trên một đơn vị diện tích.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp theo dõi liên tục ngoài thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 3 đàn Voọc mũi hếch tại khu bảo tồn với 103 cá thể ước tính (trong đó 94 cá thể được quan sát trực tiếp), trọng tâm theo dõi chuyên sâu được đặt vào đàn số 2 gồm 35 cá thể. Phương pháp chọn mẫu là quan sát trực tiếp bằng mắt thường và ống nhòm chuyên dụng dọc theo 4 tuyến điều tra chính có chiều dài từ 3,5 đến 5 km mỗi tuyến, phân bố đại diện qua các thảm rừng thường xanh trên núi đá vôi ở độ cao 700 - 1.200 m. Vị trí đàn được định vị bằng thiết bị GPS cầm tay theo chu kỳ lấy mẫu 15 phút một lần hoặc mỗi khi đàn di chuyển khoảng cách từ 50 m trở lên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích không gian là nhằm đảm bảo tính khách quan và triệt tiêu sai số hình học. Tác giả áp dụng phương pháp hệ thống ô lưới với hai kích thước ô vuông 100 x 100 m (diện tích 0,01 km²) và 250 x 250 m (diện tích 0,0625 km²), đồng thời xử lý đối sánh bằng phần mềm chuyên dụng Callhome với 4 thuật toán: Đa giác lồi tối thiểu (MCP), Adaptive Kernel (ADK), Harmonic Mean (HMN) và Bivariate Normal (BIN) ở các mức xác suất sử dụng 100%, 75% và 50%. Bản đồ phân bố không gian được số hóa trên phần mềm MapInfo 8.0, trong khi các phép kiểm định thống kê T-test và Mann-Whitney U được thực hiện trên phần mềm SPSS 13.0 để kiểm tra độ tin cậy của các biến số trong suốt tiến trình nghiên cứu từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về hiện trạng và cấu trúc quần thể, nghiên cứu đã ghi nhận sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ của loài Voọc mũi hếch tại Khau Ca. Dữ liệu bảng theo dõi quần thể qua các năm cho thấy số lượng cá thể đã tăng từ 60 cá thể năm 2006 lên 89 cá thể năm 2007, 90 cá thể năm 2009 và đạt mức 103 cá thể vào năm 2010 (tăng 71,67% sau 4 năm). Quần thể được tổ chức thành 3 đàn độc lập: đàn 1 gồm 16 cá thể (14 cá thể quan sát), đàn 2 gồm 35 cá thể (32 cá thể quan sát) và đàn 3 là đàn lớn nhất với 52 cá thể (48 cá thể quan sát). Về cấu trúc tuổi và giới tính, nhóm cá thể chưa trưởng thành và con non chiếm tỷ lệ áp đảo với 45% (42 cá thể), con cái trưởng thành chiếm 18% (17 cá thể), con đực trưởng thành chiếm 13% (12 cá thể) và 24% là các cá thể chưa xác định rõ giới tính.

Thứ hai, về kích thước vùng sống, kết quả phân tích hệ thống ô lưới cho thấy diện tích vùng sống của đàn số 2 (35 cá thể) đạt 1,04 km² khi áp dụng ô lưới 100 x 100 m (xuất hiện tại 104 ô) và đạt 2,185 km² khi áp dụng ô lưới 250 x 250 m (xuất hiện tại 35 ô). Trên mô hình Callhome ở mức sử dụng 100%, diện tích ước tính lần lượt là 310,9 ha (phương pháp MCP), 347,7 ha (phương pháp ADK) và 414,7 ha (phương pháp HMN). Đáng chú ý, vùng lõi hoạt động ưa thích nhất của loài (mức sử dụng 50%) được xác định là 47,6 ha (tương đương 0,475 km²).

Thứ ba, chiều dài quãng đường di chuyển trung bình trong ngày (DRL) của loài được xác định đạt 1.075 m/ngày qua dữ liệu theo dõi thực địa liên tục. Mật độ cá thể tại khu bảo tồn đạt mức 15 cá thể/km², tăng 66,67% so với mức 9 cá thể/km² được công bố vào năm 2007.

Thứ tư, về tập tính chọn nơi ngủ và sinh cảnh, Voọc mũi hếch ưu tiên sinh sống tại các thảm rừng nguyên sinh núi đá vôi thuộc địa phận xã Tùng Bá ở độ cao 700 - 1.200 m, nơi tập trung các cây gỗ Nghiến (Excentrodendron tonkinense) cổ thụ có đường kính 1 - 3 m và chiều cao 25 - 50 m. Nơi ngủ được lựa chọn là các cành cây lớn ở tầng thấp, tán rậm rạp nằm sâu trong thung lũng kín gió để giữ ấm và tránh thú ăn thịt.

Thảo luận kết quả

Khi đối sánh kết quả với các nghiên cứu trước đây của Phạm Nhật (ước tính vùng sống từ 3,8 đến 5,6 km²) hay Lê Khắc Quyết (ước tính khoảng 7 km²), kích thước vùng sống 1,04 km² của đàn 35 cá thể trong luận văn nhỏ hơn rõ rệt. Nguyên nhân là do các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát định tính trên toàn bộ quần thể di chuyển phân tán, trong khi nghiên cứu này sử dụng công nghệ định vị GPS và phân tích ô lưới chính xác trên từng đàn cụ thể. Hơn nữa, thảm thực vật tại Khau Ca có mức độ đa dạng rất cao với hơn 32 loài cây làm thức ăn (như Trai, Nghiến, Sâng, Thích Bắc Bộ), cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào tại chỗ, khiến đàn voọc không phải mở rộng phạm vi tìm kiếm.

So sánh với các loài cùng giống Rhinopithecus tại Trung Quốc, quãng đường di chuyển 1.075 m/ngày của Voọc mũi hếch Khau Ca ngắn hơn đáng kể so với loài Voọc mũi hếch Vân Nam (Rhinopithecus bieti, di chuyển 1.500 - 2.000 m/ngày) và Voọc mũi hếch vàng (Rhinopithecus roxellana). Điều này được giải thích bởi sự khác biệt sinh cảnh: loài R. bieti sống ở độ cao trên 3.000 m với khí hậu khắc nghiệt và nguồn thức ăn phân tán, buộc chúng phải di chuyển xa hơn. Kiểm định T-test và Mann-Whitney U trên SPSS 13.0 với giá trị p < 0,05 chứng minh không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai phương pháp ô lưới 100 m và 250 m, khẳng định độ chuẩn xác cao của mô hình phân tích không gian.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập ranh giới phân khu bảo vệ nghiêm ngặt đối với 47,6 ha vùng lõi sinh cảnh và mở rộng hành lang an toàn trên toàn bộ 1.000 ha diện tích khu bảo tồn. Ban Quản lý Khu bảo tồn Khau Ca cần phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang hoàn thành cắm mốc ranh giới thực địa trong giai đoạn 2026 - 2027, tập trung bảo vệ tuyệt đối các quần thể rừng Nghiến cổ thụ tại xã Tùng Bá.

Thứ hai, tăng cường tần suất tuần tra rừng và triệt phá các hoạt động săn bắt trái phép. Đội Kiểm lâm cơ động kết hợp với Tổ bảo vệ rừng cộng đồng tại 3 xã Tùng Bá, Minh Sơn và Yên Định duy trì tuần tra tối thiểu 15 ngày/tháng, đặt mục tiêu thu hồi và xử lý dứt điểm 100% bẫy thú, súng săn tự chế trong vòng 12 tháng.

Thứ ba, triển khai chương trình sinh kế vườn rừng và quản lý chăn thả gia súc bền vững cho 1.791 hộ gia đình sống tại 16 thôn bản vùng đệm. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ kỹ thuật nông lâm kết hợp, kiểm soát đàn trâu bò thả rông vào rừng đặc dụng, nhằm thay thế nguồn thu từ việc khai thác lâm sản trái phép ước tính hơn 800.000 đồng/hộ/năm.

Thứ tư, duy trì hệ sinh thái giám sát sinh học định kỳ 6 tháng/lần đối với 3 đàn voọc hiện hữu. Ban Quản lý cần ứng dụng bẫy ảnh tự động và phần mềm GIS MapInfo để theo dõi biến động số lượng, phấn đấu duy trì tỷ lệ tăng trưởng đàn đạt trên 10% mỗi chu kỳ 3 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà nghiên cứu linh trưởng học và sinh thái học động vật hoang dã. Họ sẽ tiếp cận được bộ số liệu định lượng chuẩn xác về vùng sống 1,04 km², quãng đường di chuyển 1.075 m/ngày và tập tính chọn nơi ngủ của loài linh trưởng cực kỳ nguy cấp để phục vụ các phân tích so sánh liên loài.

Nhóm thứ hai là Ban Quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia có hệ sinh thái núi đá vôi. Các đơn vị này có thể ứng dụng trực tiếp mô hình xác định vùng lõi 47,6 ha và thang đánh giá đe dọa Margoluis - Salafsky để phân vùng chức năng cho hơn 1.000 ha rừng đặc dụng.

Nhóm thứ ba là các cơ quan quản lý nhà nước như Cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Đông Bắc. Cán bộ quản lý có thể sử dụng dữ liệu tăng trưởng từ 60 lên 103 cá thể làm cơ sở thực tiễn để tham mưu chính sách bảo tồn loài theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và phân bổ ngân sách bảo vệ loài nguy cấp nhóm IB.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng, Lâm học, Bảo tồn Đa dạng Sinh học. Luận văn cung cấp case study mẫu mực về quy trình điều tra thực địa 60 ngày, phương pháp thiết lập 4 tuyến khảo sát và kỹ thuật xử lý dữ liệu không gian kết hợp phần mềm SPSS 13.0 và MapInfo.

Câu hỏi thường gặp

Kích thước vùng sống của loài Voọc mũi hếch tại Khau Ca được xác định là bao nhiêu? Nghiên cứu xác định kích thước vùng sống của đàn 35 cá thể đạt 1,04 km² khi áp dụng phương pháp ô lưới 100 x 100 m (ghi nhận ở 104 ô) và đạt 2,185 km² với ô lưới 250 x 250 m (ghi nhận ở 35 ô). Phân tích bằng mô hình đa giác lồi tối thiểu (MCP) cho kết quả 310,9 ha, trong đó vùng lõi tập trung hoạt động thường xuyên nhất chiếm 47,6 ha.

Quần thể Voọc mũi hếch tại Khu bảo tồn Khau Ca có xu hướng phát triển như thế nào qua các năm? Quần thể có xu hướng tăng trưởng rất tích cực, từ 60 cá thể năm 2006, 89 cá thể năm 2007 lên 103 cá thể vào năm 2010, phân bố trong 3 đàn riêng biệt. Cơ cấu quần thể ghi nhận tỷ lệ cá thể non và chưa trưởng thành chiếm tới 45%, phản ánh tiềm năng sinh sản tự nhiên tốt và khả năng phục hồi quần thể cao.

Mỗi ngày đàn Voọc mũi hếch di chuyển quãng đường trung bình bao xa? Qua theo dõi thực địa liên tục trong 2 ngày của đàn 35 cá thể trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10.000, chiều dài quãng đường di chuyển trung bình trong ngày (DRL) của loài đạt 1.075 m. Quãng đường này tương đối ngắn do sinh cảnh rừng núi đá vôi tại Khau Ca cung cấp nguồn thức ăn tại chỗ dồi dào và ổn định.

Đâu là những mối đe dọa sinh thái lớn nhất đối với Voọc mũi hếch tại Khau Ca? Các mối đe dọa chính bao gồm tình trạng khai thác gỗ Nghiến trái phép tại xã Tùng Bá, việc chăn thả gia súc tự do của 1.791 hộ dân vùng đệm, hoạt động thu hái thảo dược và nguy cơ từ các dự án khai khoáng xung quanh 1.000 ha sinh cảnh khu bảo tồn.

Voọc mũi hếch có tập tính lựa chọn nơi ngủ như thế nào để sinh tồn? Voọc mũi hếch thường chọn nơi ngủ đêm tại các cành cây to tầng thấp của loài cây gỗ Nghiến cao từ 25 đến 50 m. Vị trí ngủ luôn nằm trong các thung lũng yên tĩnh, kín gió, có tán lá rậm che chắn và các cá thể luôn giữ im lặng tuyệt đối nhằm hạn chế tối đa nguy cơ bị thú ăn thịt phát hiện.

Kết luận

  • Xác lập chính xác kích thước vùng sống của đàn 35 cá thể Voọc mũi hếch đạt 1,04 km² và vùng lõi hoạt động thiết yếu là 47,6 ha.
  • Ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của quần thể đạt 103 cá thể trong 3 đàn, nâng mật độ trung bình lên 15 cá thể/km².
  • Xác định chiều dài quãng đường di chuyển hàng ngày đạt trung bình 1.075 m/ngày trong sinh cảnh rừng thường xanh độ cao 700 - 1.200 m.
  • Chứng minh tính ưu việt của phương pháp tích hợp hệ thống ô lưới và các thuật toán phân tích không gian GIS hiện đại.
  • Lượng hóa các mối đe dọa nhân sinh từ 1.791 hộ dân vùng đệm để làm căn cứ đề xuất các giải pháp bảo tồn đồng quản lý.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu sinh thái học thực nghiệm toàn diện đầu tiên về sử dụng vùng sống của loài Voọc mũi hếch tại Việt Nam. Định hướng tiếp theo trong giai đoạn 2026 - 2030 là mở rộng mạng lưới giám sát bẫy ảnh tự động định kỳ 6 tháng/lần trên toàn bộ 1.000 ha rừng đặc dụng. Hãy chung tay thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng ngay các giải pháp bảo tồn từ luận văn để bảo vệ an toàn loài linh trưởng quý hiếm mang tính biểu tượng sinh thái của quốc gia.