Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu Linh trưởng ở Việt Nam Các nghiên cứu về động vật hoang dã, trong đó có các loài linh trưởng, ở Việt Nam được bắt đầu chủ yếu từ những năm cuối thế kỷ XIX do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện. Kể từ những năm 1960 đến nay, đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về các loài linh trưởng được các nhà khoa học Việt Nam thực hiện cùng với các điều tra và nghiên cứu về đa dạng sinh vật. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu linh trưởng ở Việt Nam có thể được chia thành 3 giai đoạn sau: 1.
Giai đoạn trước năm 1954 Trong giai đoạn này, các nghiên cứu về thú, trong đó có các loài linh trưởng, chủ yếu được thực hiện bởi các nhà khoa học người nước ngoài. Các nhà nghiên cứu tiêu biểu về các loài thú, trong đó có các loài linh trưởng ở Việt Nam trong giai đoạn này có thể kể đến: George Finlayson (1828), Mine- Edwards (1867 – 1874), Morice (1904), Brousniche (1887), Billet (1896 – 1898), Pavie (1879 – 1898), Boutan (1900 – 1906), De Pousargues (1904), Menegeaux (1905-1906), Delacour (1928 – 1930), H. Có thể nói, những kết quả nghiên cứu về linh trưởng ở Việt Nam, trước năm 1954, phần lớn là một phần kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài thông qua các cuộc điều tra và nghiên cứu thám hiểm nhằm phát hiện, mô tả loài mới, phân loại và thống kê thành phần loài, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn các loài linh trưởng. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), mọi hoạt động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nghiên cứu trực tiếp về các loài thú nói chung, các loài linh trưởng nói riêng ở Việt Nam bị gián đoạn.
Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (tháng 10 năm 1954), các nghiên cứu về đa dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng đã được tiếp tục và phát triển. Ở miền Bắc Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu về thành phần loài của các khu hệ và cả một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thú nói chung và các loài linh trưởng nói riêng ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong giai đoạn 1956 – 1971 [12]. Ở miền Nam Việt Nam, chỉ có rất ít điều tra, nghiên cứu đã được thực hiện trong thời gian này; đáng chú ý là các công trình của Van Peenen và cộng sự (1969) [95]. Các nghiên cứu về linh trưởng có giá trị khoa học trong thời gian này phải kể đến các công trình là: - Đào Văn Tiến (1960), Đã mô tả một loài Cu li mới – Cu li nhỡ (Nycticebus intermedius) ở Việt Nam [103].
- Lê Hiền Hào (1973), Đã cung cấp những thông tin về phân bố, đặc điểm sinh học và giá trị kinh tế của 9 loài linh trưởng ở miền Bắc Việt Nam [4]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay Các điều tra, nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh vật, đặc biệt đối với các loài linh trưởng, được quan tâm và triển khai mạnh mẽ trên các vùng của cả nước và đạt được rất nhiều kết quả có giá trị. Đội ngũ cán bộ Việt Nam nghiên cứu về linh trưởng cũng phát triển và lớn mạnh không ngừng.
Rất nhiều nghiên cứu không chỉ bó hẹp do các cán bộ khoa học Việt Nam tiến hành, mà còn có sự hợp tác quốc tế sâu rộng với các chuyên gia linh trưởng và các tổ chức bảo tồn quốc tế. Trong giai đoạn này, có nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về Linh trưởng ở Việt Nam của nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện [3, 7, 10, 19, 20, 22, 37, 39, 53, 60, 61, 62, 64, 70, 71, 79, 88]. Đặc biệt, trong những năm gần đây, công tác điều tra, nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các loài linh trưởng quý hiếm đã và đang được chú trọng. Hàng loạt các VQG và KBTTN đã được thành lập trên khắp cả nước để bảo tồn đa dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng quý hiếm.
Một số chương trình nghiên cứu về sinh thái và tập tính của các loài linh trưởng đã và đang được tiến hành. Kết quả điều tra, nghiên cứu về khu hệ linh trưởng của các địa phương, các vùng miền và các công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái của các loài linh trưởng ở Việt Nam đã được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế. Một số vấn đề về phân loại học Linh trưởng ở Việt Nam Việt Nam được đánh giá là nước có mức độ đang dạng rất cao về các thú linh trưởng, với 25 loài và phân loài thuộc 3 trong số 5 họ linh trưởng của châu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Á: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ và Voọc (Cercopithecidae), họ Vượn (Hylobatidae). Hai họ còn lại ở châu Á không phân bố ở Việt Nam là Vượn nhảy nhỏ (Tarsiidae) và Đười ươi (Hominidae), hai họ này phân bố hẹp tại các đảo của thềm lục địa Sunda [12], [13], [14], [29], [74].
Trong số 25 loài và phân loài, 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam, đó là: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix nemaeus cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis) và Vượn đen (Nomascus nasutus nasutus). Ở Việt Nam, họ Cu li (Loridae) chỉ có 1 giống (Nycticebus) với hai loài là: Cu li lớn (Nycticebus bengalensis) và Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus). Loài Cu li nhỡ (Nycticebus intermedius) được Đào Văn Tiến mô tả vào năm 1960 [103] được coi đồng loài với loài Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus) [5, 6, 10, 40]. Họ Khỉ (Cercopithecidae), ở Việt Nam, có hai phân họ: phân họ Khỉ (Cercopithecinae) và phân họ Voọc (Colobinae), với 4 giống: Macaca, Trachypithecus, Pygathrix và Rhinopithecus.
Đây là họ có số loài và phân loài phong phú nhất, với 17 loài và phân loài. Trong đó, phân họ Khỉ (Cercopithecinae) chỉ có 1 giống (Macaca) gồm 6 loài và phân loài, đặc biệt phân loài Khỉ đuôi dài Côn Đảo (M. fascicularis condorensis) là phân loài đặc hữu của Việt Nam – hiện chỉ có phân bố ở một số đảo thuộc VQG Côn Đảo [21]. Phân họ Voọc (Colobinae) có 3 giống: Trachypithecus (7 loài và phân loài), Pygathrix (3 loài và phân loài: Chà vá chân đen Pygathrix nigripes, Chà vá chân đỏ Pygathrix nemaeus, và Chà vá chân xám Pygathrix cinerea) và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đây là phân họ có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau về phân loại học. Về giống Trachypithecus, hiện có khá nhiều ý kiến khác nhau về phân loại học của một số loài và phân loài của giống này. Ví dụ, những ý kiến trước đây cho rằng loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) ở Việt Nam có các phân loài: Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi ), Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi poliocephalus), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus francoisi hatinhensis) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francoisi. Tuy nhiên, Groves (2001) đã nâng các phân loài này thành các loài khác nhau [40].
Theo những nghiên cứu gần đây của Roos (2004) và Brandon-Jones và cộng sự (2004), phân loài Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri) thành loài Voọc mông trắng ( Trachypithecus delacouri); phân loài Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi poliocephalus) đổi thành loài Voọc Cát Bà (T. poliocephalus poliocephalus), các phân loài còn lại vẫn giữ nguyên là Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi francoisi ), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus francoisi hatinhensis) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francoisi ebenus) [21, 90]. Voọc bạc trước đây được biết với tên khoa học là T. Căn cứ theo các kết quả phân tích về di truyền học và phân bố địa lý, hiện nay, Voọc bạc ở Việt Nam được coi là một phân loài Voọc bạc (Trachypithecus villosus margarita) [21, 74, 90].
Voọc xám trước đây được biết với tên khoa học là Trachypithecus phayrei [5, 6, 10, 12,22, 25, 40], sau đó được định tên là Trachypithecus crepusculus [73, 90]. Theo kết quả nghiên cứu và hệ thống phân loài gần đây LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nhất của Brandon-Jones và cộng sự (2004) và Đặng Tất Thế (2005) Voọc xám, ở Việt Nam, được xem là một phân loài – Voọc xám (Trachypithecus barbei holotephreus) [11, 21]. Do những đặc điểm giống nhau của các loài thuộc giống Rhinopithecus và giống Pygathrix, nên một số nhà nghiên cứu, trước đây, xem hai giống này chỉ là một giống Pygathrix [25, 40, 82, 91]. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu linh trưởng vẫn cho rằng Rhinopithecus và Pygathrix là hai giống khác biệt [5, 6, 10, 12, 21, 37, 40, 46, 64, 73, 90].
Ở Việt Nam, giống Rhinopithecus chỉ có 01 loài – Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) [6, 10, 21, 73]. Trước đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng các loài và phân loài vượn của Việt Nam thuộc giống Hylobates [5, 12, 25]. Tuy nhiên, qua những nghiên cứu gần đây trên cơ sở phân tích về âm học của tiếng hót và di truyền học, các loài và phân loài vượn của Việt Nam được xếp vào giống Nomascus [21, 39, 40, 90]. Hiện nay, họ Vượn (Hylobatidae), ở Việt Nam, chỉ có 1 giống (Nomascus) với 5 loài và phân loài [21, 39, 40, 90].
Việt Nam là một trong những nước ở phân vùng địa - động vật Đông Dương (Indo-Chinese subregion) giàu về thành phần loài linh trưởng. So với châu Á (183 loài và phân loài), Việt Nam có 25 loài và phân loài (chiếm 13,66%) và chỉ đứng sau Indonesia (36,07%), Thái Lan (19,13%), Ấn Độ (15,30%), Trung Hoa (14,75%) và Malaysia (14,21%) [7, 21, 37]. Về quan hệ địa lý động vật học, khu hệ linh trưởng Việt Nam có quan hệ với các khu hệ phụ cận, trong đó yếu tố Đông Dương là trội hơn cả (với 17 loài và phân loài, chiếm 70,83%), tiếp đến là yếu tố Nam Trung Hoa (với 9 loài và phân loài, chiếm 37,50%), Ấn Độ (chiếm 16,67%), Mã Lai (chiếm 8,33%) và ít nhất là yếu tố Himalaya (4,17%). Ngoài ra, khi hệ linh trưởng Việt Nam cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 có tỷ lệ cao về yếu tố đặc hữu (chiếm 25,0%) [7, 21, 37].
Một số đặc điểm giống chà vá (Pygathrix) 1. Phân loại học Giống Chà vá (Pygathrix) ở Việt Nam: Giống Pygathrix ở Việt Nam có 3 loài gồm: Chà vá chân đỏ - Pygathrix nemaeus (Linnaeus, 1771), Chà vá chân đen - Pygathrix nigripes (Milne - Edwards, 1871) và Chà vá chân xám - Pygathrix cinerea (Tilo Nadler, 1997). Chúng thuộc phân họ Voọc Colobinae, họ Khỉ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng Primates. Cả 3 loài này đều phân bố trên bán đảo Đông Dương.