Tổng quan nghiên cứu

Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập năm 1962, là khu rừng đặc dụng đầu tiên của Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên 22.200 ha, trong đó diện tích rừng nguyên sinh và thứ sinh bao phủ tới 20.473 ha. Vườn trải dài trên địa giới hành chính của 3 tỉnh gồm Ninh Bình (chiếm 51,1% diện tích), Hòa Bình (26,4%) và Thanh Hóa (22,5%). Mặc dù sở hữu hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới thường xanh trên núi đá vôi Karst vô cùng độc đáo, khu hệ động vật nơi đây đang chịu áp lực nặng nề từ gần 70.000 dân cư thuộc 15 xã vùng đệm với mật độ bình quân 138 người/km². Các hoạt động săn bắt động vật trái phép, chuyển đổi nương rẫy và chăn thả gia súc đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một công trình tổng kiểm kê khoa học toàn diện.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng danh lục phân loại học chuẩn xác, đánh giá mức độ đa dạng sinh học và đặc điểm phân bố của 5 lớp động vật có xương sống (Thú, Chim, Bò sát, Lưỡng cư, Cá), đồng thời xác định tình trạng nguy cấp của các loài quan trọng nhằm đề xuất hệ thống giải pháp quản lý, bảo tồn bền vững. Phạm vi khảo sát được thực hiện liên tục trong giai đoạn từ tháng 9 năm 1997 đến tháng 12 năm 2006 trên toàn bộ diện tích 22.200 ha của Vườn Quốc gia Cúc Phương. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi hoàn thiện cơ sở dữ liệu định lượng gồm 583 loài động vật có xương sống, làm căn cứ quản trị rừng đặc dụng và phục vụ công tác giáo dục môi trường cho hơn 50.000 lượt khách tham quan mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Địa lý sinh vật học và phân vùng địa động vật của Đào Văn Tiến và Delacour, kết hợp với học thuyết phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng. Cúc Phương được định vị là giao điểm hội tụ của các luồng di cư động thực vật từ phía Bắc (họ Dẻ - Fagaceae), phía Nam (họ Dầu - Dipterocarpaceae) và các loài bản địa đặc trưng (họ Long não - Lauraceae, họ Xoan - Meliaceae). Cấu trúc cảnh quan địa mạo Karst nửa che phủ với độ cao trung bình 300 - 400 m đóng vai trò là sinh cảnh phân hóa phức tạp.

Mô hình chỉ số phong phú tương đối được thiết lập theo 4 cấp độ tần suất bắt gặp thực địa: cấp Hiếm (0 - 10%), cấp Ít (11 - 20%), cấp Trung bình (21 - 30%) và cấp Nhiều (từ 31% trở lên). Hệ thống phân loại đánh giá cấp độ đe dọa bám sát khung tiêu chuẩn của Sách Đỏ Việt Nam năm 2000, Sách Đỏ Thế giới IUCN năm 2006, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Công ước CITES theo Quyết định số 54/2006/QĐ-BNN.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra thực địa kết hợp giám định hình thái học so sánh trong phòng thí nghiệm. Hệ thống điều tra thực địa được thiết kế gồm 20 tuyến khảo sát dạng xương cá với tổng chiều dài khoảng 90 km (mỗi tuyến 2 - 4 km đối với Chim, Bò sát, Lưỡng cư; tuyến 1 km với tổng chiều dài 7 km đối với Cá; và tuyến trục chính 25 km). Cùng với đó là 75 điểm khảo sát đại diện có đường kính 500 - 1.000 m (gồm 26 điểm Chim, 31 điểm Lưỡng cư và Bò sát, 18 điểm Thú nhỏ và Dơi) phân bố đồng đều trên các kiểu sinh cảnh rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, hang động và thủy vực.

Phương pháp thu mẫu chuyên dụng được áp dụng nghiêm ngặt: dùng bẫy lồng và bẫy hộp đối với thú gặm nhấm; bẫy lưới mờ và bẫy cứng đối với dơi và chim; bẫy hố, kẹp bắt tay ban đêm đối với bò sát và lưỡng cư; vợt, lưới mắt nhỏ và kích điện sinh học đối với cá. Mỗi loài chỉ thu thập tối đa từ 2 đến 3 mẫu vật để xử lý định vị tiêu bản tại Bảo tàng Khoa học Cúc Phương và so sánh đối chiếu tại Bảo tàng Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật cũng như Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 2 đến 5 thợ săn giàu kinh nghiệm tại mỗi xã vùng đệm để thu thập thông tin phân bố lịch sử. Tiến trình nghiên cứu kéo dài qua 4 giai đoạn cụ thể: khảo sát Cá và Lưỡng cư (1997 - 1999), điều tra Bò sát (1999 - 2000), khảo sát Chim (2000 - 2001), điều tra Thú nhỏ (2002) và tổng hợp chỉnh lý tiêu bản (2003 - 2006).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng số loài động vật có xương sống được ghi nhận chính thức tại Vườn Quốc gia Cúc Phương đạt 583 loài thuộc 5 lớp động vật bậc cao. So với công bố ban đầu năm 1971 của Lê Hiền Hào với 251 loài, nghiên cứu đã bổ sung thêm 332 loài, tương ứng với tỷ lệ gia tăng đa dạng thành phần loài lên tới 132,27%.

Cấu trúc thành phần từng lớp động vật ghi nhận sự phân hóa rõ nét:

  • Lớp Chim chiếm ưu thế tuyệt đối về tính đa dạng với 307 loài, tăng thêm 170 loài (tương đương mức tăng 124,08%) so với 137 loài năm 1971.
  • Lớp Thú xác định được 89 loài, bổ sung thêm 25 loài (tăng 39,06%) so với 64 loài năm 1971, trong đó bộ Dơi (Chiroptera) và bộ Gặm nhấm (Rodentia) chiếm tỷ trọng số loài cao nhất.
  • Lớp Bò sát ghi nhận 67 loài, tăng thêm 34 loài (tương ứng mức tăng 103,03%) so với 33 loài trước đây.
  • Lớp Lưỡng cư ghi nhận 43 loài, tăng thêm 27 loài (tương đương mức tăng 168,75%) so với 16 loài được thống kê ban đầu.
  • Lớp Cá nước ngọt ghi nhận bước đột phá lớn nhất với 65 loài, tăng gấp 65 lần so với duy nhất 1 loài cá được ghi nhận trong báo cáo năm 1971.

Nghiên cứu đã định loại và xác lập vị trí phân bố của hàng loạt loài đặc hữu, nguy cấp mang giá trị toàn cầu như Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) - loài linh trưởng đặc hữu linh thiêng của Việt Nam, Cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni), cùng nhiều loài rùa quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt.

Thảo luận kết quả

Sự giàu có về khu hệ động vật có xương sống tại Cúc Phương bắt nguồn từ nền tảng sinh thái và địa chất đặc thù. Vùng núi đá vôi Triat trung tầng Đồng Giao kết hợp lớp đất Renzin và Feralit màu mỡ có độ xốp đạt 60 - 65% đã nuôi dưỡng thảm thực vật nhiệt đới gồm 2.103 loài thực vật bậc cao (ngành Hạt kín chiếm 87,06%). Hệ thực vật đa tầng này cung cấp sinh khối dồi dào, nơi làm tổ và nguồn thức ăn phong phú cho các bậc dinh dưỡng. Chế độ khí hậu nội vùng duy trì nhiệt độ trung bình năm 20,6°C, lượng mưa lớn 2.147,7 mm và độ ẩm không khí 90% tạo thành bẫy vi khí hậu ổn định qua các mùa.

Khi biểu diễn cấu trúc dữ liệu qua các biểu đồ so sánh mật độ loài trên diện tích và biểu đồ hình quạt phân bố tỷ trọng taxon, Cúc Phương thể hiện mật độ tập trung loài trên một đơn vị diện tích cao vượt trội so với các vườn quốc gia có diện tích lớn hơn như Pù Mát hay Cát Tiên. Tuy nhiên, sự phân mảnh sinh cảnh bởi tuyến đường bê tông nhựa dài 25 km chạy xuyên tâm vùng lõi cùng áp lực du lịch từ 50.000 du khách mỗi năm đang làm biến đổi tập tính di chuyển và chia cắt không gian sống của các loài thú móng guốc, thú ăn thịt nhỏ và các loài bò sát hoạt động mặt đất.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tăng cường hiệu lực tuần tra và kiểm soát vùng lõi: Thiết lập quy chế bảo vệ nghiêm ngặt đối với 20.473 ha rừng tự nhiên, bổ sung trạm kiểm lâm chốt chặn tại các khu vực nhạy cảm giáp ranh Thanh Hóa và Hòa Bình. Mục tiêu giảm 85% các vụ xâm nhập đặt bẫy và khai thác lâm sản trái phép trong lộ trình 24 tháng; cơ quan chủ trì thực hiện là Ban Giám đốc Vườn phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa.

  2. Mở rộng mạng lưới bảo tồn chuyển chỗ và cứu hộ ngoại vi: Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng Nguy cấp (EPRC), Trung tâm Bảo tồn Thú ăn thịt và Tê tê, cùng Trung tâm Cứu hộ Rùa. Phấn đấu nâng tỷ lệ nhân nuôi sinh sản thành công và tái thả động vật nguy cấp về tự nhiên đạt trên 75% trong giai đoạn 2008 - 2015; đơn vị chủ trì là Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế của Vườn cùng các tổ chức bảo tồn quốc tế.

  3. Triển khai mô hình sinh kế bền vững tại vùng đệm: Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong các dự án nông lâm kết hợp, mở rộng nghề nuôi ong mật và đẩy mạnh giao khoán bảo vệ rừng theo Chương trình 661 cho gần 70.000 dân cư tại 15 xã xung quanh. Đích đến là nâng thu nhập bình quân của cộng đồng bản địa thêm 30 - 40% nhằm giảm 90% sự lệ thuộc kinh tế vào tài nguyên rừng tự nhiên trước năm 2012.

  4. Xây dựng hệ thống giám sát đa dạng sinh học định kỳ: Duy trì quan trắc liên tục tại 75 điểm khảo sát cố định và 20 tuyến điều tra đã lập bản đồ. Đặt mục tiêu số hóa 100% dữ liệu biến động quần thể các loài chỉ thị theo chu kỳ 6 tháng một lần; giao trách nhiệm trực tiếp cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên: Vận dụng phương pháp bố trí tuyến điều tra xương cá và hệ thống giải pháp bảo tồn loài nguy cấp vào thực tiễn quản lý các khu rừng đặc dụng trên núi đá vôi Karst tại Việt Nam.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Lâm học, Động vật học, Quản lý tài nguyên rừng: Sử dụng khung dữ liệu chuẩn xác về 583 loài động vật có xương sống và quy trình giám định hình thái tiêu bản làm tài liệu học thuật và giảng dạy chuyên sâu.
  • Chuyên viên tại các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Tiếp cận nguồn dữ liệu thực địa tin cậy để xây dựng các hồ sơ dự án tài trợ bảo tồn loài quý hiếm, quy hoạch hành lang đa dạng sinh học và đánh giá tác động môi trường.
  • Các nhà hoạch định chính sách và chính quyền địa phương 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa: Tham khảo cơ sở thực tiễn phát triển sinh kế vùng đệm 15 xã để lồng ghép nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên vào quy hoạch kinh tế - xã hội vùng.

Câu hỏi thường gặp

  • Động vật có xương sống tại Vườn Quốc gia Cúc Phương đã thay đổi như thế nào sau 30 năm nghiên cứu? Tổng số loài ghi nhận đã tăng từ 251 loài năm 1971 lên 583 loài trong nghiên cứu này, tương ứng mức tăng 132,27%. Sự gia tăng vượt bậc này phản ánh nỗ lực điều tra mở rộng trên 20 tuyến và 75 điểm khảo sát với trang thiết bị chuyên dụng thay vì các khảo sát sơ bộ trước đây.

  • Lớp động vật nào ghi nhận mức tăng số lượng loài cao nhất trong công trình? Lớp Cá nước ngọt ghi nhận mức tăng đột biến nhất từ 1 loài lên 65 loài nhờ khảo sát hệ thống sông Bưởi, sông Ngang và các thủy vực Karst. Kế tiếp là lớp Lưỡng cư với mức tăng 168,75% (từ 16 loài lên 43 loài) và lớp Chim tăng 124,08% (từ 137 loài lên 307 loài).

  • Yếu tố địa lý và sinh thái nào quyết định mức độ đa dạng loài cao tại Cúc Phương? Địa hình Karst nửa che phủ với độ cao 300 - 400 m, khí hậu ẩm mát quanh năm với nhiệt độ trung bình 20,6°C và lượng mưa 2.147,7 mm, kết hợp thảm thực vật nhiệt đới 2.103 loài đã tạo nên các ổ sinh thái chia cắt phức tạp, cung cấp môi trường sống lý tưởng cho động vật.

  • Phương pháp điều tra thực địa nào được áp dụng để đảm bảo độ chính xác cho từng nhóm loài? Nghiên cứu kết hợp bẫy lồng cho thú gặm nhấm, lưới mờ và bẫy cứng cho dơi, bẫy hố cho bò sát - lưỡng cư, kích điện sinh học cho cá, cùng đèn soi công suất lớn khảo sát đêm. Mẫu vật thu thập giới hạn từ 2 đến 3 mẫu/loài để phục vụ định loại đối chiếu tại các bảo tàng khoa học quốc gia.

  • Áp lực lớn nhất đối với công tác bảo tồn động vật hoang dã tại Cúc Phương hiện nay là gì? Thách thức lớn nhất là sức ép từ gần 70.000 dân cư vùng đệm sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, tình trạng săn bắt thú rừng bằng bẫy dây ngầm, cùng tác động xáo trộn sinh cảnh từ hoạt động giao thông và hơn 50.000 lượt khách du lịch mỗi năm.

Kết luận

  • Luận văn đã hoàn thiện bộ cơ sở dữ liệu toàn diện nhất về khu hệ động vật có xương sống tại Vườn Quốc gia Cúc Phương với 583 loài thuộc 5 lớp động vật bậc cao.
  • Công trình bổ sung thêm 332 loài so với các ghi nhận lịch sử năm 1971, tạo nên bước tiến vượt bậc trong nghiên cứu phân loại học động vật rừng Việt Nam.
  • Thiết lập hệ thống 20 tuyến điều tra dài 90 km và 75 điểm khảo sát cố định, tạo tiền đề chuẩn mực cho các chương trình trắc lượng sinh học tiếp theo.
  • Xác lập cơ sở khoa học vững chắc về sinh thái học cảnh quan Karst và mối quan hệ tương hỗ giữa thảm thực vật 2.103 loài với quần xã động vật bậc cao.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp quản trị đồng bộ kết hợp bảo tồn tại chỗ, cứu hộ nhân nuôi và phát triển kinh tế vùng đệm cho gần 70.000 cư dân bản địa.

Nghiên cứu mở ra hướng đi thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên rừng đặc dụng giai đoạn mới. Các nhà khoa học, nhà quản lý và tổ chức bảo tồn cần tiếp tục liên kết dữ liệu, ứng dụng công nghệ giám sát sinh thái tiên tiến nhằm bảo vệ bền vững kho tàng đa dạng sinh học vô giá tại Vườn Quốc gia Cúc Phương.