MỞ ĐẦU Hội chứng còi cọc ở lợn con sau cai sữa (Postweaning multisystemic wasting syndrome, PMWS) do Porcine circovirus type 2 (PCV2) gây ra. Ngoài hội chứng còi cọc ở lợn con sau cai sữa, PCV2 cũng là nguyên nhân có liên quan đến Hội chứng viêm da và viêm thận (porcine dermatitis and nephropathy syndrome, PDNS), Hội chứng viêm đường hô hấp (porcine respiratory diseases complex) và Hội chứng rối loạn sinh sản ở lợn (porcine reproductive disorders). Trong số các bệnh có liên quan đến PCV2 kể trên, hội chứng còi cọc ở lợn con sau cai sữa là phổ biến nhất và được coi là một trong những bệnh gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng nhất cho ngành chăn nuôi lợn trên toàn thế giới (Chae, 2012b). Ở Việt Nam, chăn nuôi lợn chủ yếu vẫn theo hình thức hộ gia đình với số lượng nhỏ, chính vì vậy khi có dịch bệnh xảy ra sẽ rất khó kiểm soát.
Hội chứng còi cọc ở lợn con sau cai sữa xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2000. Với cơ chế sinh bệnh của PCV2 thường gây suy giảm miễn dịch, virus mở đường cho các mầm bệnh kế phát nên sử dụng vacxin phòng bệnh do PCV2 gây ra là vấn đề mang tính quyết định trong phòng và chống bệnh ở lợn. Tại Việt Nam, vacxin phòng bệnh do PCV2 đều là vacxin ngoại nhập. Việc nhập khẩu vacxin có những khó khăn gặp phải như: (1)Nguồn vacxin nhập khẩu hoàn toàn phụ thuộc vào nhà sản xuất và nhà cung cấp, vì vậy không chủ động được khi có dịch bệnh xảy ra; (2)Giá thành vacxin cao và dễ thay đổi do tỷ giá ngoại tệ thay đổi; (3)Khó khăn trong việc tìm vacxin thay thế thích hợp khi chủng virus gây bệnh ngoài thực địa có biến đổi làm cho vacxin cũ không còn hoặc ít có tác dụng; cũng như khó khăn trong việc tìm được một vacxin phù hợp dùng được trên diện rộng cả nước do virus có thể có nhiều chủng khác nhau, có đặc điểm dịch tễ gây bệnh ở những vùng địa lý khác nhau trên cả nước; (4)Nhập khẩu vacxin cũng đồng nghĩa với nguy cơ bị những bệnh mới xuất hiện ( khi sử dụng vacxin sống nhược độc).
Những phân tích ở trên cho thấy nhu cầu về vacxin và nhu cầu về việc tự sản xuất vacxin do PCV2 trong nước là vô cùng lớn. Một vacxin sẽ cho hiệu quả bảo hộ, phòng bệnh cao nhất khi chủng virus dùng làm vacxin được phân lập từ thực địa.Cho đến nay tại Việt Nam chưa có một đề tài nào nghiên cứu sản xuất vacxinphòng bệnh PMWS do PCV2 gây ra, sử dụng chính những 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủngvirusphân lập được ngoài thực địa. Việc lựa chọn chủng virus phù hợp đủ tiêu chuẩn để sản xuất vacxin là thực sự cần thiết. Chúng tôi thực hiện đề tài “nghiên cứu đặc tính sinh học của virus gây hội chứng còi cọc ở lợn chủng VNUA-PCV2-HN14”.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm tra đặc tính sinh học của chủng giống VNUA-PCV2-HN14; là cơ sở tạo nguồn gốc virus để sản xuất vacxin phòng bệnh. Mục tiêu: - Chọn được chủng giống PCV2 có các đặc tính kháng nguyên và ổn định để sản xuất vacxin; - Kiểm tra tính ổn định của chủng sau thời gian bảo quản. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: - Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thông tin khoa học về đặc tính sinh học của chủng giống VNUA-PCV2-HN14; - Kết quả nghiên cứu sẽ chứng minh được chủng giống VNUA-PCV2- HN14 đủ điều kiện làm giống để sản xuất vacxin hay không; - Đây là kết quả bước đầu giúp chủ động nghiên cứu sản xuất vacxin phòng bệnh do PCV2 gây ra. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. HIỂU BIẾT VỀ PCV2 VÀ BỆNH DO PCV2 GÂY RA 2. Giới thiệu chung Porcine circovirus (PCV) thuộc họ Circoviridae, bao gồm Porcine circovirus type 1 (PCV1) và Porcine circovirus type 2 (PCV2). Trong những năm cuối thập niên 1990, một loại circovirus mới (Porcine Circovirus) gây bệnh đã được phát hiện ở lợn.Virus này khác với PCV thích ứng trên môi trường tế bào thận lợn (Pig Kidney) PK15 đã biết trước đó.
Người ta đã đề nghị gọi PCV đã biết là PCV type 1 (PCV1) và virus mới phân lập được là PCV type 2 (PCV2). PCV1 được phân lập lần đầu tiên tại Đức vào năm 1974, virus này được xem như không phải tác nhân gây bệnh (nonpathogenic) ở lợn. Năm 1991 tại Canada, PCV2 được nhận diện là nguyên nhân gây hội chứng gầy còm ở lợn sau cai sữa và sau đó được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới. Theo (Hamel, 1998), mức độ tương đồng trình tự nucleotide giữa PCV1 và PCV2 là 68 – 76%.
Cho tới năm 2015 PCV2 có 4 genotype (PCV2a, PCV2b, PCV2c và PCV2d) và 8 nhánh di truyền (cluster) 2A-2E và 1A-1C (Olvera et al., 2007;Chae, 2012a) được công nhận. PCV2 được coi là nguyên nhân khởi phát gây các hội chứng liên quan tới PCV2 (Porcine circovirus type 2-associated disease, PCVAD) làm thiệt hại lớn về kinh tế, đặc biệt là chăn nuôi theo quy mô công nghiệp với mật độ chăn nuôi dày, môi trường không được kiểm soát tốt cũng như các biện pháp quản lý phòng bệnh chưa hợp lý. Trong số các bệnh liên quan đến PCV2 phải kể đến Hội chứng gầy còm ở lợn sau cai sữa (Postweaning Multisystemic Wasting Syndrome - PMWS); Hội chứng viêm da và viêm thận (Porcine Dermatitis and Nephropathy Syndrome - PDNS); Hội chứng viêm đường hô hấp (Porcine Respiratory Diseases Complex - PRDC) và Hội chứng rối loạn sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive Disorders). Địa dư bệnh PCV2 được ghi nhận ở rất nhiều nước trên thế giới và bệnh PMWS đã được chẩn đoán ở cả 5 châu lục.
Hiện nay, các kết quả nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ lưu hành huyết thanh kháng PCV2, phân lập và xác định genotype cũng như đánh giá được đặc tính di truyền và dịch tễ học phân tử của PCV2. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự phân bố của PCV2 có sự khác nhau giữ các vùng địa lý: - Châu Á: vụ dịch gần giống PMWS được mô tả tại Đài Loan năm 1995. Từ đó đến nay PCV2 và PCVAD được xác định lưu hành ở Nhật Bản (Takahagi et al., 2008), Hàn Quốc (Olvera et al., 2007), Thái Lan (Jantafong et al., 2011) và Malaysia (Jaganathanet al. Tại Trung Quốc, (Wang et al., 2009) đã giải trình tự 49 chủng thu thập từ nhiều vùng khác nhau và cho thấy 34 chủng thu thập từ năm 2002-2006 thuộc genotype PCV2a, PCV2b, PCV2d và PCV2e, phổ biến nhất là PCV2b (18 chủng); 12 chủng thu thập trong giai đoạn 2007-2008 đều là PCV2b.
Tại Hàn Quốc, khi sử dụng kỹ thuật PCR kiểm tra 29 mẫu lợn mắc PCVAD và 9 mẫu lợn không mắc PCVAD phát hiện được sự lưu hành của PCV2a và PCV2b; trong đó cả 29 chủng có nguồn gốc từ lợn mắc PCVAD và 4 chủng từ lợn không mắc PCVAD là PCV2b (Chae and Choi, 2010). Tại Nhật Bản với 150 mẫu huyết thanh thu thập từ lợn 2- 4 tháng tuổi nuôi tại 10 trang trại (15 mẫu/trại) chỉ phát hiện được PCV2a và PCV2b (Takahagi et al., 2008), trong khi đó tại Thái Lan phát hiện được PCV2b và PCV2e (Jantafong et al. - Châu Âu: hầu hết các nước xác định sự có mặt của PCV2b, là nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế do PCVAD. PCV2a còn được phát hiện ở đàn lợn nuôi tại Ireland từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc PCVAD thu thập từ năm 1997-2003 (trong 5/6 trại xét nghiệm).
Trại còn lại phân lập được PCV2b có tỷ lệ chết rất cao (35%) so với 5 trại còn lại. Tất cả mẫu thu được sau năm 2003 từ trại mắc hoặc không mắc PCVAD đều chỉ phát hiện được PCV2b. - Bắc Mỹ: hiện tượng đột biến chủng khiến cho PCV2b lưu hành phổ biến được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Lần đầu tiên PCV2b được xác nhận ở Canada vào năm 2005; sau đó là các công bố về PCV2 tại Kansas, North Carolina và Iowa.
Các nghiên cứu sau này đã cho thấy sự lưu hành của PCV2a và PCV2b trong khu vực. - Nam Mỹ: không có nhiều nghiên cứu về PCV2, đã xác định genotype phổ biến là PCV2b (Chiarelli-Netoet al., 2009), cần có các nghiên cứu tiếp theo để khẳng định sự có mặt của genotype PCV1/2a (Gagnon et al. - Châu Đại Dương: hiện tại có một số công bố của (Muhling et al., 2006) về sự lưu hành PCV2 tại Úc; nghiên cứu của (O'Deaet al., 2011) về PCVAD tại 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Úc; nghiên cứu của (Neumann et al., 2007) về PCV2 phân lập được tại New Zealand. Hiện nay nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học phân tử cho thấy các genotype khác nhau của PCV2 có mức độ lưu hành rất khác biệt.
Tác giả (Vidigal et al., 2012) khi nghiên cứu 420 trình tự gen PCV2 công bố trên ngân hàng Genbank cho biết có 102 chủng PCV2a (24,3%), 317 chủng PCV2b (75,5%) và 1 chủng PCV2c (0,2%). Ở Việt Nam, chăn nuôi lợn chủ yếu vẫn theo hình thức hộ gia đình với số lượng nhỏ, chính vì vậy khi có dịch bệnh xảy ra sẽ rất khó kiểm soát. Hội chứng còi cọc ở lợn con sau cai sữa xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2000. Các nghiên cứu về sự lưu hành PCV2 trên đàn lợn nuôi ở một số trại của thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ nhiễm PCV2 năm 2000 là 38,97%, trong khi năm 2006 là 96,47% (Lam and Duong, 2006; Nguyễn Thị Thu Hồng và cs.
Một nghiên cứu gần đây của chúng tôi thực hiện tại một số trại lợn thuộc 4 tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Giang và Hải Dương cho thấy 43/48 (89,58%) trại được điều tra cho kết quả huyết thanh học dương tính với PCV2. Nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng đối với lợn nghi mắc PMWS thu thập được tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam cho thấy lợn có triệu chứng và bệnh tích giống như các kết quả đã được công bố trước đây (Huỳnh Thị Mỹ Lệ và Nguyễn Văn Giáp 2013). Kết quả giải mã genome đối với 30 chủng PCV2 thu nhận được từ các mẫu huyết thanh, mẫu mô (gan, phổi, lách, và hạch) của lợn nghi mắc PMWS cho thấy các chủng PCV2 đang lưu hành và gây bệnh trên đàn lợn nuôi tại Việt Nam thuộc genotype PCV2b với 4 nhóm (cluster) khác nhau là 1A, 1B, 1C (PCV2d) và dạng tái tổ hợp (recombinant form). Căn bệnh PCV2 thuộc giống Circovirus, họ Circoviridae.
Họ circoviridae gồm 3 giống, được xác định là nguyên nhân gây một số bệnh ở gia súc và gia cầm. Về phân loại virus, căn cứ vào kết quả giải trình tự gen và phân tích đặc điểm tiến hóa, trước năm 2014 PCV2 được chính thức công nhận gồm có 3 genotype, ký hiệu từ PCV2a, PCV2b và PCV2c (Segales et al.