ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã và đang có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt, đời sống kinh tế xã hội ngày càng được cải thiện. Đóng góp một phần không nhỏ cho sự thành công đó phải kể đến thành tựu của ngành nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi thú y mà đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm. Ngành chăn nuôi gia cầm đã góp phần đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước và một phần dành cho xuất khẩu thu ngoại tệ. Tuy nhiên sự phát triển kinh doanh, buôn bán và giết mổ gia cầm không được kiểm soát chặt chẽ dẫn đến tình trạng lây lan một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle,… trong đó phải kể đến là bệnh hô hấp phức tạp trên gà (hay được gọi là ORT).
Năm 1981, lần đầu tiên người ta phân lập được chủng ORT từ dịch nước mũi, dịch phù ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây năm tuần tuổi tại phía Bắc nước Đức. Bệnh hô hấp phức tạp trên gà (ORT) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây ra hay gặp ở gà và gà tây ở mọi lứa tuổi. Ornithobacterium rhinotracheale lần đầu tiên được mô tả năm 1993. Là bệnh khó phòng và điều trị gây giảm khả năng sản xuất, thiệt hại lớn về kinh tế với những triệu chứng, bệnh tích như: ho, khó thở, đớp không khí, màng niêm mạc mắt viêm thuỷ thũng, phế quản gốc có kén mủ, khí quản bị xung huyết, có nhiều dịch nhày, phổi viêm tơ huyết….
Bệnh có tỷ lệ chết cao, quá trình diễn biến bệnh phụ thuộc vào các yếu tố môi trường nuôi dưỡng như quản lý chăm sóc kém, mật độ đàn cao, chất lượng của chất đệm lót kém, chất lượng không khí và vệ sinh chuồng nuôi kém. Tại Việt Nam các nghiên cứu về vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale cũng như bệnh hô hấp phức tạp trên gà vẫn còn rất hạn chế. Do đó việc chẩn đoán chính xác bệnh dựa trên các bệnh tích, triệu chứng lâm sàng còn gặp nhiều khó khăn và dễ nhầm lẫn với các bệnh gây ra trên đường hô hấp của gia cầm như: IB, CRD, Newcastle, ILT… trước yêu cầu cấp thiết trên cần phải có các nghiên cứu để phân lập và xác định môt số đặc tính sinh học của vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale giúp cho việc chẩn đoán dễ dàng và chính xác, làm cơ sở cho việc phòng và trị bệnh đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên , chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Phân lập và khảo sát một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây bệnh hô hấp trên đàn gà ở một số tỉnh phía Bắc” 1.
MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU - Phân lập vi khuẩn ORT từ những gà mắc bệnh trên đường hô hấp. - Xác định hình thái, tính chất nuôi cấy, đặc tính sinh hoá của vi khuẩn ORT. - Xác định được tính mẫn cảm của vi khuẩn với một số kháng sinh. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Các kết quả nghiên cứu về một số đặc tính sinh học chủ yếu của đàn gà mắc bệnh ORT là những tư liệu khoa học quan trọng cho bước đầu nghiên cứu gà mắc bệnh ORT ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam.
- Qua kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học đề ra được các biện pháp phòng và trị bệnh ORT trên đàn gà đạt hiệu quả cao, giảm tác hại của bệnh gây ra cho ngành chăn nuôi nước ta. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH ORT Bệnh suy hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale là một bệnh truyền nhiễm ở các loài chim với đặc điểm là: gây trụy hô hấp, gây chết và làm giảm khả năng sinh trưởng.
Bệnh có các triệu chứng lâm sàng đa dạng, tỷ lệ gây chết khá cao, diễn biến phụ thuộc vào môi trường chăn nuôi như: quản lý chăm sóc kém, mật độ chuồng nuôi cao, chất lượng của chất lót chuồng kém, vệ sinh không khí, vệ sinh chuồng nuôi không đảm bảo vệ sinh. Triệu chứng lâm sàng trong suốt giai đoạn bệnh và tỷ lệ chết do O.rhinotracheale ở các ổ dịch bùng phát diến biến khá đa dạng, chúng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố môi trường như quản lý chăm sóc kém, độ thông thoáng kém, mật độ cao, hàm lượng ammoniac cao, chất độn chuồng kém. Triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện ở gà thịt 3 - 6 tuần tuổi với tỷ lệ chết khoảng 5-10% với các triệu chứng ủ rũ, kém ăn, giảm tăng trọng, tăng tiết dịch, vẩy mỏ, có hiện tượng phù mặt. Ở gà giống bố mẹ, bệnh thường xảy ra ở giai đoạn đầu của gà đẻ đạt đỉnh hay ngay trước khi đưa gà lên chuồng đẻ.
Có biểu hiện: tăng tỷ lệ chết, giảm đẻ, giảm kích thước trứng, chất lượng vỏ trứng kém, tỷ lệ có phôi và khả năng ấp nở cũng bị ảnh hưởng. Ở gà đẻ thương phẩm, giảm đẻ, tăng trứng méo và tăng tỷ lệ chết có liên hệ tới sự nhiễm O. Ở gà thịt thương phẩm, các tổn thương đại thể thường gặp bao gồm: viêm phổi, viêm màng phổi và viêm túi khí. Khi giết thịt hoặc kiểm tra sau giết mổ sẽ thấy dịch dạng bọt, màu trắng, chất dịch tiết này có màu giống sữa chua và có thể thấy rõ trong các túi khí.
Hầu hết các tổn thương chỉ tiến triển ở một bên thuỳ phổi. Các tổn thương do O.rhinotracheale có thể làm tỷ lệ chết tăng cao tới 50% hoặc hơn. Thêm nữa, phù thũng dưới da mặt, gây viêm đầu, viêm xương tuỷ và viêm màng não được thấy ở gà. Lần đầu tiên người ta phân lập được một chủng ORT từ dịch nước mũi, dịch phủ ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây 5 tuần tuổi tại phía Bắc nước Đức.
Năm 1983, người ta đã tiến hành nuôi cấy vi khuẩn từ dịch khí 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản của quạ non. Năm 1986, ORT được phân lập từ gà tây tại Isarel ở nhiều lứa tuổi với bệnh tích viêm xuất huyết cấp tính ở phổi và viêm túi khí. Năm 1987, ORT được phân lập từ giống vịt Bắc Kinh 10 tuần tuổi ở Hungary và người ta cho rằng cùng với bệnh tụ huyết trùng, vi khuẩn ORT được coi như một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gà. Giữa những năm 1986 và 1988 là thời điểm ORT được nhận định như một chủng vi khuẩn giống Pasteurella, được phân lập từ đàn gà tây giống ở Anh, kèm với triệu chứng như yếu ớt, giảm đẻ, vảy mỏ, tỷ lệ chết thấp, túi khí viêm tơ huyết và viêm phổi.
Năm 1986, người ta bắt đầu nghiên cứu phân lập ORT ở Califonia. Kết quả: đã xác định được các đặc điểm của 14 chủng vi khuẩn thu thập và phân lập được trên các đàn gà tây và gà có triệu chứng của bệnh hô hấp (Charlton et al. Vào năm 1991, Du Preez thấy rằng có các biểu hiện của bệnh hô hấp trên các đàn gà thịt thương phẩm tại Nam Phi, nơi sau đó cũng đã phân lập được ORT. Năm 1993, lần đầu tiên ORT được miêu tả chính thức (Charlton et al.
Đến năm 1994, người ta đã công bố cây phát sinh loài, các genotype, phân loại sinh hoá học và các đặc trưng phenotype cổ điển của 12 chủng đã phân lập và được đề xuất mang tên ORT (Vandamme et al. Tuy nhiên sự phát hiện và phân lập được vi khuẩn đã được thực hiện từ những năm trước 1993. ORT được báo cáo là nguyên nhân gây ra bệnh với các triệu chứng, bệnh tích giống tụ huyết trùng trên gà tây ở Đức vào năm 1993 và 1994 và gà tây giống 32 tuần tuổi tại Mỹ năm 1996. Và kể từ đó tơi nay, có nhiều báo cáo phân lập của Vandamme et al.
Vào năm 1994, ORT đã được phân lập từ chim hoang dã ở nhiều quốc gia trên thế giới (Nguyễn Thị Lan và cs. Tình hình nghiên cứu ORT trên thế giới Năm 1981, lần đầu tiên người ta phân lập được một chủng ORT từ dịch nước mũi, dịch phù ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây 5 tuần tuổi tại phía Bắc nước Đức. Năm 1983, vi khuẩn được nuôi cấy từ dịch khí quản của quạ non. Năm 1986, ORT được phân lập từ gà tây tại Isarel ở nhiều lứa tổi với bệnh tích viêm xuất huyết cấp tính phổi và viêm túi khí.
Năm 1987, ORT được phân lập từ giống vịt Bắc Kinh 10 tuần tuổi ở Hungary và cùng với bệnh tụ huyết trùng, vi khuẩn ORT được coi như một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gà. Giữa những 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 1986 và 1988 là thời điểm ORT được nhận định như một chủng vi khuẩn Pasteurella, được phân lập từ đàn gà tây giống ở Anh, kèm với triệu chứng như yếu ớt, giảm đẻ, ho, tỷ lệ chết thấp, túi khí viêm tơ huyết và viêm phổi. Năm 1986, người ta đã bắt đầu nghiên cứu phân lập ORT ở Califonia. Kết quả: đã xác định được các đặc điểm của 14 chủng vi khuẩn thu thập và phân lập được từ năm 1980 đến 1981 trên các đàn gà tây và gà có triệu chứng của bệnh hô hấp (Charlton et al.
Vào năm 1991, Du Preez thấy rằng có các biếu hiện của bệnh hô hấp trên các đàn gà thịt thương phẩm tại Nam Phi, nơi sau đó cũng đã phân lập được ORT. Năm 1993, một số gà tây đã được quan sát ở Hà Lan và Đức, với những triệu chứng lâm sàng như vảy mỏ, khó thở và sung huyết xoang hốc mắt, cùng với sự tăng trưởng chậm của gà thịt (Hafez H.Hinz et al. Tại Đức, người ta thấy rằng tỷ lệ nhiễm chủ yếu ở gà tây 14 tuần trở lên (Hafez H. Sau đó, tìm thấy vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm đường hô hấp gia cầm ở Israel (Bock et al.,1995), Bỉ (Wyffels & Hommez, 1990), và Mỹ (B.
Charlton et al. Ban đầu, các loại vi khuẩn mới chỉ được gọi tên như là một vi khuẩn Gram âm, hình que (PGNR; B. Charlton et al., 1993), Pasteurela – like (Hafez H.,1996) hoặc Kingella –like (P. Van Empel et al.
Năm 1994, ORT được phân lập từ chim hoang dã và được và được đặt tên dùng cho đến nay (P. Vandamme et al. Tại Đức, đã thực hiện điều tra về việc nuôi cấy O. rhinotracheale đã thấy rằng ORT phân lập từ đường hô hấp của gà tây trong năm 1981 và ở quạ trong năm 1983 (P.
Vandamme et al. Nó cũng đã được phân lập ở Bỉ (Wyffels & Hommez. Charlton et al. Bock et al.