CHƯƠNG 1 TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VẺ STRESS Ở SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về stress ở sinh viên 1,1,1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vẫn đề stress nói chung và stress ở sinh viên nói riêng đã trở thành chủ đề được quan tâm nghiên cứu khá phố biến ở hầu hết các quốc gia trên thé giới. Các nhà nghiên cứu trên thế giới tập trung tìm hiểu và phát hiện thực trạng stress ở sinh viên trên các khía cạnh như: mức độ stress, biểu hiện stress, các nguyên nhân gây stress, hệ quả của stress, một số yêu tố ảnh hưởng đến stress và các cách ứng phó với stress ở sinh viên.
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các tác giả nghiên cứu tập trune chủ yếu các hướng chính sau đây: 1,1,1. Các nghiên cứu đánh giá mức độ stress và stress ở sinh viên Nam 2015, R. Beiter va céng sw trong mét nghién ctu tai Dai hoc Franciscan, bang Ohio cho thay có tới 38% số sinh viên báo cáo là có stress, đặc biệt 11% số sinh viên bị stress nặng. Tại Thụy Sĩ, có 12,9% sinh viên bị stress nặng, trong đó 2,7% sinh viên đã thực hiện ý định tự tử (Edwards, 2007).
Một nghiên cứu khác tại trường Đại hoc Uludag, Thé Nhi Ki cua Nuran Bayram và Nazan Bilgel cho thấy có tới 48,2% số sinh viên có stress, 6,9% là stress nặng. Vào năm 2008, nghiên cứu của Nuran Bayram và cộng sự thực hiện trên 1617 sinh viên với thang đo DASS 42, cho kết quả 27% sinh viên bị stress ở mức độ vừa, nặng và rất nặng. Theo kết quả nghiên cứu của Tạp chí sức khỏe đại học Mỹ, các sinh viên đã báo cáo những trải nghiệm mức độ căng thắng cao. Hơn 2/3 mẫu (69%) cho biết họ bị “căng thắng quá mức” và gần 2/3 (62%) tự đánh giá mình “1o lắng hơn hầu hết mọi người”.
Các nghiên cứu về stress trên thê giới cho thây được sinh viên stress khá nhiêu. Ở 5 My, diéu tra do Associated Press va (a collage TV station) mtvU thyc hién nam 2008 trên sinh viên ở nhiều trường đại học chỉ ra l trên 10 sinh viên thường xuyên bị stress, 1 trên 5 sinh viên cảm thấy căng thắng trong phần lớn thời gian. Tý lệ này tăng 20% so với cuộc điều tra 5 năm trước đó. Ở Canada, năm 2014, tổ chức Mental Health Task Force on Graduate Student Mental Health cua Dai hoc California Berkey da khao sát sinh viên cử nhân của trường và phát hiện 45% sinh viên phải ứng phó với các vấn đề liên quan đến stress trong vòng 12 tháng trở lại.
Tại An Do, nam 2014, Lakyntiew Pariat va cong su nghién crru trên sinh viên sinh viên cử nhân cua 5 trường đại học thành phố Shilong liên quan đến các lĩnh vực: hội họa, thương mại, khoa học, sử dụng bộ công cụ Student Stress Scale và chỉ ra 38,9% sinh viên, trong đó 15% nam, còn lại là nữ bị stress ở mức nhẹ, 11,9% nam sinh viên va 6,9 nữ bị stress nặng. Ở Malaysia, nghién ctu cua Khadijah Shamsuddin va c6ng sw nam 2013 trén 506 sinh viên tuôi từ 18-24 thuộc 4 trường đại học công lập tại Klang Valley, Malaysia dựa vào thang đo DASS 21, tac øiả đã cho thấy thực trạng stress ở sinh viên Malaysia như sau: 18,6% sinh viên bị stress ở mức vừa, 5,1% ở mức nặng và rất nặng. Thang đo đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến stress ở sinh viên G Malaysia, Mohamad Saiful Bahri, Yusoft 20 la nha nghiên cứu với nhiều nghiên cứu về stress ở sinh viên. Năm 2010, ông đã thực hiện nghiên cứu trên 1058 sinh viên y khoa của truong Universati Sams, Malaysia (USM) théng qua thang do 12 items General Health Questionnaire (GHQ-12), nghién cứu đã chỉ ra 29,6% sinh vién y khoa bị stress.
Năm 2013, ông tiếp tục thực hiện nghiên cứu về stress, trầm cảm, lo âu trên 743 sinh viên y khoa tiềm năng và với thang đo DASS - 21 cho ra 3,6% sinh viên bị stress ở mức vừa đến rất nặng. Tại AI Cập, năm 2016, Wafaa YousIf Abdel Wahed và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên sinh viên sử dụng thiết kế cắt ngang trên 442 sinh viên y khoa từ năm nhất đến năm tư. Thông qua thang đo DASS 21, nghiên cứu cho kết quả là 37,6 % ở mức bình thường; 31,7% ở mức nhẹ và trung bình; 30,8% ở mức nặng và rất nặng. Ở Ethiopia, nghiên cứu của Leta Melaku vả cộng sự tiến hành năm 2015 trên 329 sinh viên y khoa tai dai hoc Jimma với thang đo GHO-12 và thu được kết quả là 52,4% sinh viên bị stress.
Kết quả về tỉnh trạng stress trong với một nghiên cứu trên sinh viên Y khoa tại lran sử dụng thang đo Kessler-10 cho tỷ lệ stress cao là 20,8%; stress trung bình là 6 22,5%; stress mức độ nhẹ là 18,0% và không có stress là 38,7%. Sự khác biệt này có thể là do thang đo sử dụng để đo lường stress khác nhau bên cạnh đó là một số đặc điểm về tý lệ giới tính (nghiên cứu này gần như 1:1) hay những đặc điểm về chủng tộc, môi trường xã hội, giáo dục và tình trạng hôn nhân (dẫn theo Khánh và cộng sự, 2016). Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Các tác giả nghiên cứu về stress ở sinh viên đã chỉ ra những tác nhân và yếu tô ảnh hưởng đến stress ở sinh viên có liên quan quan đến môi trường học tập, các yếu tố cá nhân, mối quan hệ với gia đình và bạn bè ngoài ra còn có các vấn đề xã hội. Đề có thể tồn tại và phát triển, đòi hỏi các cá nhân phải thích nghi và có cách thức, chiến lược ứng phó với stress một cách phủ hợp.
Những hệ quả của stress ở các bạn sinh viên sẽ ngày một nghiêm trọng nếu không thê ứng phó kịp thời. Điều này cho thấy vẫn đề stress ở sinh viên đang được quan tâm và nghiên cứu khá sâu rộng ở Việt Nam. Nhiều nghiên cứu tại các trường đại học ở Việt Nam đã cho thây kết quả về thực trạng stress và những mức độ stress ở sinh viên. Theo kết quả quả nghiên cứu của Phạm Kế Thuận và cộng sự (2019), trong tông số trên 433 sinh viên đang theo học tại khoa Y Dược trường cao đẳng Bách Khoa Sài Gòn, tỷ lệ sinh viên stress 37,9%.
Trong đó các mức độ stress được phân bố lần lượt: sinh viên stress nhẹ 12,6%, sinh viên stress vừa chiếm 9,9%, sinh viên stress nặng chiếm 11,3% và sinh viên stress rất nặng chiếm 4,1%. Nghiên cứu thực hiện trên 400 sinh viên tại trường Đại Học Ngoại Ngữ năm 2019, kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên bị stress là 46,5 %, trong đó mức độ nhẹ, vừa, nặng lần lượt là 14,8%, 17,5%, 10,7% và 3,5%. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thy trén 829 sinh viên trường đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009 cho thấy có khoảng 79% sinh viên ở mức stress nhẹ, 3% sinh viên bị stress ở mức vừa và I8% không bị stress. Tại Đà Nẵng, nghiên cứu của Võ Hoàng Anh và cộng sự trên 200 sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng cho thây 96% sinh viên có biểu hiện của stress.
Tại Thành phố Hè Chí Minh, nghiên cứu của Lê Minh Thuận năm 2011, thực hiện trên sinh viên năm nhất và năm thứ ba của đại học Y Dược Thành phố HCM, sử dụng thang đo DASS - 42 cho thấy mức độ stress của sinh viên như sau: mức bình thường là 21%, mức nhẹ đến vừa là 65%, mức nặng và rất nặng lần lượt là 7% và 5%. Như vậy, kết quả các nghiên cứu ở Việt Nam với thang đo chủ yếu là thang đo DASS đã cho thấy tý lệ stress ở sinh viên là rất phố biến. Kết quả của các nghiên cứu trên cho ra những con số đáng báo động về tỉnh trạng sức khỏe tính thần đặc biệt là stress ở sinh viên Việt Nam hiện nay. Tiểu kết chương Í Qua tông quan tình hình nghiên cứu về stress ở sinh viên, chúng tôi nhận thấy rằng: các nghiên cứu về stress nói chung và stress ở sinh viên nói riêng đang diễn ra phé biến ở các nước khác nhau trên thể giới.
Các tác giả nghiên cứu về stress đã chỉ ra nguồn gốc, các vấn đẻ, tác nhân gây stress có liên quan đến, môi trường học tập lao động, áp lực học tập, kỳ vọng từ gia đình, thay cô và xã hội, thời gian hoc tập và làm việc.; những biểu hiện stress về thể chất và tinh thân; đề có thê tồn tại và phát triển, đòi hỏi sinh viên phải thích nghi và có cách thức, chiến lược phù hợp đề ứng phó với stress một cách hiệu quả; stress con dé lai những hệ quả liên quan đến cá nhân sinh viên, bạn bè xung quanh, các mối quan hệ xã hé1, gia dinh,. Có thể nói quan điểm của các nhà nghiên cứu stress đã có sự thay đổi rất co ban, từ cách tiếp cận coi stress như một phản ứng sinh học của cơ thê, như sự kiện từ môi trường tác động vào cơ thể, đến nghiên cứu stress ở bình điện tâm lý và sức khoẻ tâm than. Ngày nay nghiên cứu stress đã gan liền với các lĩnh vực hoạt động. lao động cụ thé của con người và mang tính thực tiễn rất cao.
Xu hướng nghiên cứu này đã giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn bản chất stress để đưa ra cách phòng chống va ứng phó với stress có hiệu quả. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ STRESS Ở SINH VIÊN 2. Đặc điểm tâm lý của lứa tuôi sinh viên 2. Khái niệm sinh viên Theo Quy chế công tác Học sinh — Sinh viên trong các trường đảo tạo của Bộ giáo dục và đào tạo thì: “Sinh viên là những người đang theo học hệ đại học và cao đẳng”.
Theo cách hiểu nảy sinh viên có một số đặc điểm sau: là những người đã tốt nghiệp phỏ thông trung học, bô túc trung học hoặc trung cấp chuyên nghiệp, xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn tại các trường Đại học, Cao đắng. Là lớp người năng động, luôn nhạy cảm và sẵn sảng tiếp thu cái mới. Là bộ phận trí tuệ và ưu tú trong các thế hệ thanh niên, là nơi kết tinh nhiều tai năng sáng tạo, là nguồn lao động có học vấn cao, có chuyên sâu và đại bộ phận sinh viên sẽ trở thành người trí thức của đất nước. Sinh viên có hầu hết những đặc tính của thanh niên, nhưng không đồng nhất hoàn toàn với thanh niên.
Nói chung, sinh viên là những người đang đi học, tức là đang ở trong quá trình xã hội hóa mà tác nhân xã hội hoá là trường Đại học hoặc Cao đẳng.