Tổng quan nghiên cứu

Khu vực phía Nam giữ vai trò đầu tàu kinh tế của Việt Nam khi đóng góp khoảng 59% tổng GDP ngành nông nghiệp và hơn 60% giá trị sản xuất - dịch vụ cả nước theo số liệu thống kê năm 2011. Khu vực này bao gồm 19 tỉnh thành được chia thành hai tiểu vùng kinh tế trọng điểm: Đông Nam Bộ (6 tỉnh thành) và Tây Nam Bộ (13 tỉnh thành) với tổng diện tích tự nhiên 64.151 km² cùng mạng lưới sông ngòi dày đặc lên đến 5.700 km. Tuy nhiên, theo Báo cáo Phát triển Con người của UNDP năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo tại Tây Nam Bộ vẫn ở mức cao 41,6%, chênh lệch đáng kể so với mức 13,4% của Đông Nam Bộ và 21,3% của bình quân cả nước; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em tại khu vực này vẫn xấp xỉ 20%.

Trong bối cảnh khoảng 70% dân số Việt Nam sinh sống tại nông thôn, chuẩn nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập truyền thống từ 400.000 đồng đến 653.000 đồng/người/tháng đã bộc lộ nhiều bất cập, không phản ánh đầy đủ các thiếu hụt về y tế, giáo dục, điều kiện sống và kết nối xã hội. Đề tài luận văn thạc sĩ tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: đo lường nghèo đa chiều tại khu vực nông thôn của 19 tỉnh phía Nam dựa trên bộ dữ liệu Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam VHLSS 2014 với quy mô 1.977 hộ gia đình.

Nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu cụ thể: xây dựng bộ chỉ số đo lường nghèo đa chiều gồm 6 chiều và 20 chỉ số phù hợp với đặc thù nông thôn miền Nam; phân tích sự phân hóa nghèo giữa hai tiểu vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ; xác định mối quan hệ giữa đặc điểm nhân khẩu học hộ gia đình với tình trạng nghèo. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giúp các cơ quan quản lý chuyển dịch chính sách từ trợ cấp thu nhập đơn thuần sang can thiệp đa chiều có mục tiêu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết năng lực của Amartya Sen (1976) và phương pháp đếm Alkire - Foster (2007, 2011, 2014) nhằm khắc phục hạn chế của cách tiếp cận nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập. Tiếp cận nghèo đa chiều xem xét tình trạng nghèo đói là sự tước đoạt các năng lực cơ bản để con người đạt được mức sống tối thiểu được xã hội thừa nhận.

Khung mô hình nghiên cứu thiết lập 6 chiều không gian với 20 chỉ số đo lường cụ thể:

  • Chiều Giáo dục (trọng số 1/6): gồm thành tựu giáo dục của chủ hộ và mức độ đi học đúng tuổi của trẻ em từ 6 đến 15 tuổi.
  • Chiều Việc làm (trọng số 1/6): gồm tình trạng việc làm của chủ hộ và tỷ lệ thất nghiệp của lao động nam.
  • Chiều Y tế (trọng số 1/6): gồm bảo hiểm y tế, tình trạng ốm đau trong 12 tháng, tiếp cận dinh dưỡng và khả năng chi trả dịch vụ y tế.
  • Chiều Điều kiện sống (trọng số 1/6): gồm 7 chỉ số về điện lưới, nguồn nước sạch, hệ thống xử lý rác thải, cấp độ nhà ở, tài sản tiện nghi, diện tích nhà ở dưới 10 m²/người, tài khoản tiết kiệm và nhà tiêu hợp vệ sinh.
  • Chiều Thu nhập (trọng số 1/6): gồm mức thu nhập dưới 653.000 đồng/người/tháng, diện tích đất nông nghiệp dưới 3.364 m² và quyền sở hữu nhà ở.
  • Chiều Vốn xã hội (trọng số 1/6): gồm khả năng tiếp cận thông tin qua điện thoại và việc tham gia các tổ chức, đoàn thể địa phương.

Ba khái niệm trung tâm của mô hình bao gồm: tỷ lệ đếm đầu nghèo đa chiều H (tỷ lệ hộ nghèo trong tổng mẫu), cường độ nghèo bình quân A (mức độ thiếu hụt trung bình của các hộ nghèo) và chỉ số nghèo đa chiều điều chỉnh M0, được tính bằng tích số giữa H và A.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam năm 2014 (VHLSS 2014) do Tổng cục Thống kê ban hành. Cỡ mẫu nghiên cứu sau khi làm sạch và lọc tách địa bàn nông thôn đạt 1.977 hộ gia đình đại diện cho 19 tỉnh thành phía Nam, phân bố từ 45 hộ tại Cần Thơ đến 147 hộ tại Tiền Giang. Phương pháp chọn mẫu của VHLSS là chọn mẫu phân tầng nhiều giai đoạn ngẫu nhiên, đảm bảo tính đại diện cao cho toàn vùng.

Lý do lựa chọn phương pháp đo lường Alkire - Foster bắt nguồn từ tính ưu việt trong khả năng phân rã chỉ số nghèo theo từng chiều cạnh và từng đơn vị hành chính mà không làm mất đi các thuộc tính tiên đề kinh tế lượng. Nghiên cứu xác định ngưỡng nghèo đa chiều k = 0,30 (hộ gia đình thiếu hụt từ 30% tổng trọng số 20 chỉ số trở lên được phân loại là hộ nghèo đa chiều). Ngưỡng k = 0,30 được lựa chọn sau khi thực hiện kiểm tra độ nhạy với dải giá trị k biến thiên từ 0,05 đến 0,60, cho kết quả phản ánh sát thực tế đời sống nông thôn. Để kiểm tra mối quan hệ giữa đặc điểm nhân khẩu và tình trạng nghèo, tác giả kết hợp kỹ thuật thống kê mô tả, bảng chéo Crosstab, kiểm định Chi-square và kiểm định hệ số tương quan phi tham số Spearman thay vì mô hình Probit nhằm tránh sai lệch nội sinh trong dữ liệu quan sát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả đo lường thực nghiệm cho thấy tỷ lệ nghèo đa chiều bình quân tại nông thôn 19 tỉnh phía Nam đạt 18,0% (tương ứng 354 hộ nghèo trên tổng số 1.977 hộ), cao gấp 5,8 lần so với tỷ lệ nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập chỉ ở mức 3,1%. Tại các địa phương có kinh tế phát triển như Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, tỷ lệ nghèo thu nhập ghi nhận mức 0,0%, nhưng tỷ lệ nghèo đa chiều vẫn ở mức từ 11,0% đến 23,0%.

Phân hóa không gian nghèo diễn ra sâu sắc giữa 19 tỉnh thành:

  • Tỉnh có tỷ lệ nghèo thấp nhất là Tiền Giang với 8,0% (12 hộ nghèo trên 147 hộ mẫu) và chỉ số nghèo M0 đạt 3,3%, tiếp theo là Bình Dương với tỷ lệ nghèo 11,0% và M0 đạt 3,8%.
  • Tỉnh có tỷ lệ nghèo cao nhất là Kiên Giang với 31,0% (36 hộ nghèo trên 117 hộ mẫu) và chỉ số nghèo M0 đạt mức kỷ lục 11,0%, tiếp theo là Sóc Trăng với M0 đạt 9,9%, An Giang và Cà Mau.
  • Cường độ nghèo A tại các tỉnh khó khăn như Trà Vinh, Bình Phước và An Giang đều vượt ngưỡng 42,0%, thể hiện mức độ tổn thương sâu rộng của các hộ nghèo.

Phân rã đóng góp của các chiều vào chỉ số nghèo M0 xác định Vốn xã hội là chiều có mức đóng góp lớn nhất với 27,6%, tiếp theo là Điều kiện sống chiếm 19,7%, Việc làm chiếm 19,5%, Thu nhập chiếm 15,8%, Giáo dục chiếm 9,4% và Y tế chiếm 8,1%.

Khoảng cách hạ tầng giữa hai tiểu vùng thể hiện rõ nét qua các chỉ số điều kiện sống: tỷ lệ hộ thiếu nhà tiêu hợp vệ sinh tại Tây Nam Bộ lên tới 43,0%, trong khi tại Đông Nam Bộ chỉ là 3,0%. Tỷ lệ hộ không có hệ thống xử lý rác thải tại Tây Nam Bộ là 22,0% so với 7,0% ở Đông Nam Bộ; tỷ lệ nhà ở tạm bợ cấp 5 là 18,0% so với 5,0%. Ngược lại, Đông Nam Bộ chịu áp lực lớn hơn về diện tích ở chật hẹp khi 66,0% hộ thiếu hụt chỉ số diện tích sàn so với 59,0% tại Tây Nam Bộ. Về mặt nhân khẩu học, hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ có tỷ lệ nghèo đa chiều lên tới 25,0%, cao hơn 10% so với hộ do nam giới làm chủ hộ (15,0%) với mức ý nghĩa thống kê p < 0,001.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch vượt trội của tỷ lệ nghèo đa chiều so với nghèo thu nhập khẳng định việc sử dụng thước đo tiền tệ đã bỏ sót một bộ phận rất lớn dân cư nông thôn đang đối mặt với các thiếu hụt phi tiền tệ. Dữ liệu nghiên cứu khi được mô hình hóa qua biểu đồ mạng nhện Radar cho thấy sự tương đồng về giáo dục và việc làm giữa hai miền, nhưng tạo ra sự đứt gãy lớn ở chiều điều kiện sống. Biểu đồ cột phân rã chỉ số M0 minh chứng rõ nét cấu trúc nghèo tại miền Nam chủ yếu bị chi phối bởi sự thiếu hụt mạng lưới xã hội và tiện nghi dân sinh.

Nguyên nhân cốt lõi khiến Vốn xã hội đóng góp đến 27,6% vào nghèo đa chiều bắt nguồn từ việc các hộ nghèo bị cô lập thông tin, không sở hữu phương tiện liên lạc và ít tham gia các đoàn thể nông dân hay tổ hợp tác sản xuất. Điều này hạn chế khả năng tiếp cận kỹ thuật canh tác mới và các nguồn vốn vay ưu đãi. Tình trạng 43,0% hộ Tây Nam Bộ thiếu nhà vệ sinh chuẩn liên quan trực tiếp đến tập quán sinh hoạt ven kênh rạch lâu đời kết hợp cùng hạn chế tài chính.

Ngược lại, Đông Nam Bộ nhờ tích lũy hơn 112 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (chiếm 48% cả nước tính đến thời điểm nghiên cứu) đã thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn, giúp các tỉnh như Bình Dương hay Đồng Nai giảm nghèo nhanh chóng. Những phát hiện này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Trần và Nguyễn (2012) khi nhấn mạnh vai trò của tài sản sinh kế xã hội, đồng thời bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho Đề án chuyển đổi chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ hạ tầng vệ sinh môi trường và nước sạch tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ủy ban nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đặt mục tiêu hành động giảm tỷ lệ hộ thiếu nhà tiêu hợp vệ sinh từ 43,0% xuống dưới 15,0% trong giai đoạn 5 năm. Giải pháp thực hiện là triển khai gói tín dụng ưu đãi xây dựng công trình phụ gắn với chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới.

Thứ hai, mở rộng mạng lưới vốn xã hội và số hóa thông tin nông thôn. Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Hội Nông dân các cấp chủ trì chương trình phổ cập thiết bị viễn thông, phấn đấu đạt mục tiêu 100% hộ nông thôn sở hữu phương tiện liên lạc và 85% hộ tham gia vào ít nhất một tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới trong vòng 3 năm nhằm tăng cường năng lực kết nối thị trường.

Thứ ba, thiết lập chương trình sinh kế đặc thù hỗ trợ hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ. Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ triển khai gói vay vốn tạo việc làm không cần tài sản thế chấp, kết hợp đào tạo nghề nông nghiệp công nghệ cao. Mục tiêu đặt ra là kéo giảm tỷ lệ nghèo ở nhóm hộ nữ chủ hộ từ 25,0% xuống ngang bằng mức 15,0% của nhóm hộ nam chủ hộ trong lộ trình 4 năm.

Thứ tư, đổi mới phương thức xác định đối tượng bảo trợ xã hội dựa trên chuẩn nghèo đa chiều tích hợp. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần thể chế hóa phương pháp Alkire - Foster với ngưỡng k = 0,30 vào quy trình rà soát hộ nghèo hàng năm, phân bổ ngân sách giảm nghèo tập trung vào 4 tỉnh có chỉ số M0 cao nhất gồm Kiên Giang, Sóc Trăng, An Giang và Cà Mau.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cán bộ thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội 19 tỉnh thành phía Nam có thể sử dụng bộ 20 chỉ số làm công cụ giám sát, đánh giá hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

Các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ: Chuyên gia tại UNDP, World Bank, ADB hoạt động tại Việt Nam có thể khai thác ma trận dữ liệu phân rã nghèo để thiết kế các dự án tài trợ phát triển sinh kế, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường phù hợp với đặc thù từng tiểu vùng.

Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giới học thuật chuyên ngành Kinh tế phát triển, Xã hội học và Chính sách công có thể tham khảo phương pháp đếm Alkire - Foster, kỹ thuật xử lý dữ liệu VHLSS và quy trình kiểm định mối quan hệ phi tham số để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.

Doanh nghiệp và tổ chức tài chính vi mô: Các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách Xã hội và các quỹ tín dụng nhân dân có thể ứng dụng kết quả phân tích đặc điểm nhân khẩu để thẩm định rủi ro và thiết kế các sản phẩm tài chính bao trùm phục vụ người nghèo nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ nghèo đa chiều 18,0% lại cao gấp gần 6 lần so với tỷ lệ nghèo thu nhập 3,1%? Sự chênh lệch này xuất phát từ việc thước đo thu nhập chỉ phản ánh dòng tiền ngắn hạn dưới 653.000 đồng/tháng. Trong khi đó, tiếp cận đa chiều ghi nhận thêm các thiếu hụt nghiêm trọng về nhà tiêu hợp vệ sinh (43% ở miền Tây), nước sinh hoạt và vốn xã hội mà tiền tệ không đo lường được.

Vì sao chiều Vốn xã hội lại đóng góp tỷ trọng lớn nhất 27,6% vào chỉ số nghèo đa chiều? Trong kinh tế nông thôn, vốn xã hội quyết định khả năng tiếp cận thông tin giá cả, việc làm và hỗ trợ cộng đồng khi gặp rủi ro mùa vụ. Thiếu kết nối thông tin và không tham gia đoàn thể khiến các hộ gia đình mất đi nguồn lực xã hội quan trọng để cải thiện thu nhập.

Căn cứ nào để tác giả lựa chọn ngưỡng nghèo đa chiều k = 0,30? Tác giả đã chạy kiểm tra độ nhạy với k từ 0,05 đến 0,60. Tại k = 0,05, tỷ lệ nghèo phi thực tế lên tới 95%; tại k = 0,60, tỷ lệ nghèo tiệm cận 0%. Mức k = 0,30 vừa tương thích với chuẩn quốc tế của Oxford OPHI, vừa phản ánh chính xác tỷ lệ nghèo 18,0% sát thực tế địa phương.

Tình trạng thiếu hụt điều kiện sống giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ khác biệt ra sao? Tây Nam Bộ thiếu hụt nặng nề về vệ sinh môi trường với 43% hộ không có nhà tiêu chuẩn và 22% không có xử lý rác. Ngược lại, Đông Nam Bộ có hạ tầng vệ sinh tốt hơn (chỉ 3% thiếu nhà tiêu) nhưng đối mặt áp lực lớn về không gian sống với 66% hộ bị chật chội.

Phương pháp Alkire - Foster có ưu điểm gì nổi bật so với các mô hình kinh tế lượng truyền thống? Phương pháp Alkire - Foster cho phép phân rã chỉ số nghèo tổng thể M0 theo từng chiều cạnh và từng địa phương cụ thể mà vẫn thỏa mãn các thuộc tính tiên đề toán học. Điều này giúp chỉ rõ nguyên nhân nghèo của từng vùng để can thiệp chính xác.

Kết luận

Năm đúc kết cốt lõi từ công trình nghiên cứu:

  • Đo lường nghèo đa chiều phản ánh đúng bản chất nghèo đói nông thôn phía Nam với tỷ lệ 18,0%, vượt trội so với mức 3,1% của nghèo thu nhập.
  • Vốn xã hội (27,6%) và Điều kiện sống (19,7%) là hai nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng nghèo tại khu vực.
  • Tồn tại sự phân hóa không gian sâu sắc khi Kiên Giang có tỷ lệ nghèo cao nhất (31,0%), trong khi Tiền Giang thấp nhất (8,0%).
  • Hạ tầng vệ sinh nông thôn Tây Nam Bộ là điểm nghẽn nghiêm trọng với 43,0% hộ thiếu nhà tiêu đạt chuẩn.
  • Bất bình đẳng giới thể hiện rõ khi chủ hộ nữ có nguy cơ nghèo cao hơn chủ hộ nam 10%.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xây dựng thành công bộ chỉ số 6 chiều và 20 chỉ số đo lường nghèo đa chiều đặc thù cho miền Nam Việt Nam, cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc cho chính sách an sinh xã hội. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các nhà nghiên cứu mở rộng phân tích dữ liệu bảng theo thời gian và tích hợp các biến số biến đổi khí hậu nhằm bảo vệ thành quả giảm nghèo bền vững trước năm 2030.