Tổng quan nghiên cứu

Huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên sở hữu tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp là 17.113,26 ha, chiếm 46,40% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích quy hoạch rừng phòng hộ đạt 3.559,40 ha. Trong giai đoạn trước đây, diện tích đất trống đồi núi trọc tại địa phương phần lớn được phủ xanh bằng các loài keo nhập nội như keo tai tượng và keo lá tràm. Tuy nhiên, khi chính quyền tiến hành điều chỉnh quy hoạch, khoanh chuyển hơn 700 ha rừng keo tại các xã như Động Đạt sang mục đích phòng hộ, nhiều bất cập nghiêm trọng đã nảy sinh. Cây keo vốn có chu kỳ khai thác ngắn từ 5 đến 7 năm, cấu trúc thân gỗ dễ bị rỗng ruột khi trưởng thành và tỷ lệ cây chết cao sau các đợt rét đậm, dẫn đến việc không đảm bảo chức năng bảo vệ nguồn nước và chống xói mòn đất bền vững. Đồng thời, quy chế quản lý rừng phòng hộ nghiêm cấm khai thác gỗ trắng khiến đời sống của hơn 20.005 hộ dân nông nghiệp trên địa bàn lâm vào tình cảnh khó khăn về sinh kế.

Trước thực trạng đó, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện tính đa dạng của tài nguyên thực vật cho lâm sản ngoài gỗ, phân tích cấu trúc tổ thành rừng và thị trường tiêu thụ tại địa phương. Mục tiêu trọng tâm là tuyển chọn các loài cây gỗ bản địa đa tác dụng kết hợp cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao để thay thế dần diện tích rừng keo phòng hộ thoái hóa. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tập trung tại 3 xã trọng điểm gồm Động Đạt, Ôn Lương và Yên Lạc. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao độ che phủ rừng trên 45,83%, bảo tồn 20 loài thực vật nguy cấp và thiết lập chuỗi thu nhập ổn định lâu dài cho người dân miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý rừng bền vững và nguyên lý bảo tồn có khai thác của Mendelsohn năm 1992, khẳng định việc khai thác lâm sản ngoài gỗ hợp lý giúp duy trì tính nguyên vẹn của hệ sinh thái mà vẫn tạo ra giá trị kinh tế vượt trội so với độc canh cây gỗ. Khung phân tích sinh kế bền vững được lồng ghép để đánh giá tác động qua lại giữa tài nguyên rừng và thu nhập cộng đồng, phù hợp với thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới rằng khoảng 80% dân số các nước đang phát triển phụ thuộc vào lâm sản ngoài gỗ để chữa bệnh và làm thực phẩm.

Đề tài vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn hóa từ các tổ chức quốc tế và văn bản pháp luật hiện hành:

  • Lâm sản ngoài gỗ theo định nghĩa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc năm 1999 và De Beer năm 1989 là toàn bộ các sản phẩm sinh học có nguồn gốc từ rừng và đất rừng, loại trừ gỗ lớn công nghiệp.
  • Rừng phòng hộ theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 là loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai và điều hòa khí hậu.
  • Mô hình Nông Lâm kết hợp theo định hướng của Trung tâm Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp Quốc tế giúp phân tầng cấu trúc thảm thực vật nhằm tối ưu hóa hiệu quả sinh thái và kinh tế.
  • Khung phân loại tài nguyên thực vật của Hoàng Hòe năm 1998, ghi nhận Việt Nam có 22% số loài cây làm thuốc và 7,14% số loài cho tinh dầu trong tổng số thực vật rừng tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu ngoại nghiệp được thu thập thông qua hệ thống 5 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài 15 km (mỗi tuyến dài 3 km) cắt qua các dạng địa hình và đai cao khác nhau: 2 tuyến tại xã Động Đạt, 2 tuyến tại xã Ôn Lương và 1 tuyến tại xã Yên Lạc. Phương pháp điều tra ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng để lập 9 ô tiêu chuẩn định vị có diện tích 1.000 m² (kích thước 40m x 25m, tương đương tổng diện tích điều tra 9.000 m²) đại diện cho 3 trạng thái: rừng tự nhiên, rừng phục hồi sau nương rẫy và rừng cây gỗ xen giang nứa. Tại mỗi ô tiêu chuẩn, các cá thể cây gỗ có đường kính thân đo tại vị trí 1,3 m từ 6 cm trở lên được đo đếm chu vi và chiều cao vút ngọn. Đồng thời, 5 ô dạng bản diện tích nhỏ được bố trí để khảo sát tầng cây tái sinh, cây bụi và thảm tươi.

Dữ liệu kinh tế - xã hội và thị trường được thu thập thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân, thực hiện phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra bán cấu trúc đối với người khai thác, thương lái thu mua và cán bộ kiểm lâm. Quy trình lựa chọn loài ưu tiên sử dụng ma trận cho điểm theo thang đo 10 tiêu chí sinh thái và thị trường. Toàn bộ số liệu được phân tích trên phần mềm bảng tính chuyên dụng, xử lý công thức tổ thành lâm sinh theo mật độ cá thể nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao nhất. Timeline nghiên cứu hoàn tất việc thu thập và phân tích dữ liệu vào tháng 11 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận danh lục thực vật cho lâm sản ngoài gỗ tại huyện Phú Lương vô cùng phong phú, với tổng số 179 loài thuộc 147 chi và 99 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch. Ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối với 165 loài, tương đương 92,18% tổng số loài (lớp Hai lá mầm chiếm 129 loài, lớp Một lá mầm chiếm 36 loài). Các ngành còn lại gồm ngành Dương xỉ có 9 loài, ngành Hạt trần có 3 loài, ngành Cỏ bút tháp có 1 loài và ngành Khuyết lá thông có 1 loài. Các họ thực vật chiếm tỷ lệ cao nhất là họ Hòa thảo với 11 loài (chiếm 6,14%), họ Thầu dầu với 10 loài (chiếm 5,58%), họ Dâu tằm với 9 loài (chiếm 5,03%), họ Đậu với 7 loài (chiếm 3,91%) và họ Cau với 6 loài (chiếm 3,35%).

Xét theo mục đích sử dụng qua 250 lượt thống kê, nhóm cây làm thuốc dẫn đầu với 142 loài (chiếm 56,80%), nhóm cây làm thực phẩm và gia vị có 60 loài (chiếm 24,00%), nhóm cây cho sợi có 18 loài (chiếm 7,20%), nhóm cây bóng mát làm cảnh có 16 loài (chiếm 6,40%) và nhóm cây chiết xuất tinh dầu có 14 loài (chiếm 5,60%). Về dạng sống, thảm thực vật có sự phân hóa đa tầng rõ rệt: dạng thân cỏ có 35 loài (chiếm 19,55%), cây bụi có 35 loài (chiếm 19,55%), cây gỗ trung bình có 31 loài (chiếm 17,32%), cây gỗ lớn có 22 loài (chiếm 12,29%), cây gỗ nhỏ có 20 loài (chiếm 11,17%), dây leo có 19 loài (chiếm 10,61%), thân tre có 9 loài (chiếm 5,03%) và dạng cau dừa có 8 loài (chiếm 4,47%). Bộ phận được khai thác nhiều nhất là toàn thân (115 lượt loài), lá và ngọn non (81 lượt loài), vỏ thân và quả (mỗi nhóm 32 lượt loài), củ (20 lượt loài) và măng (10 lượt loài).

Đặc biệt, nghiên cứu đã phát hiện 20 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Nghị định 32/2006/NĐ-CP, bao gồm 12 loài thuộc cấp Sẽ nguy cấp (VU) như Trám đen, Rau sắng, Cát sâm, Sâm cau, Tuế lá xẻ, Hoàng tinh hoa trắng, Kháo xanh; và 8 loài thuộc cấp Nguy cấp (EN) như Ba kích, Giảo cổ lam, Trầm hương, Sến mật, Dó đất, Bình vôi, Cốt toái bổ và Sừng trâu to.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ nhóm công dụng sử dụng và bảng ma trận tổ thành loài cây gỗ đa tác dụng. Việc nhóm cây dược liệu chiếm tới 56,80% và nhóm thực phẩm chiếm 24,00% phản ánh bề dày tri thức bản địa phong phú của cộng đồng các dân tộc địa phương, nơi người Kinh chiếm 54,2%, người Tày chiếm 21,1% và người Sán Chay chiếm 8,5% dân số.

Nguyên nhân khiến tỷ lệ cây gỗ lớn tự nhiên chỉ còn 12,29% là do tác động khai thác gỗ trong quá khứ và việc chuyển dịch ồ ạt sang trồng keo chu kỳ ngắn. Điều này dẫn đến sự suy giảm chất lượng rừng đầu nguồn nghiêm trọng. So sánh với các nghiên cứu lâm sinh tại khu vực miền núi phía Bắc, việc xuất hiện tự nhiên 20 loài thực vật quý hiếm khẳng định điều kiện thổ nhưỡng feralit vàng đỏ và khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Phú Lương rất thích hợp để phục hồi rừng bản địa. Kết quả này chứng minh tính khả thi sinh học của việc trồng thay thế keo bằng các loài cây gỗ bản địa lâu năm như Trám đen, Sấu kết hợp trồng xen cây dược liệu ưa bóng như Ba kích, Lá khôi dưới tán, tạo ra mô hình rừng phòng hộ đa tầng vững chắc và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để bài toán chuyển đổi rừng keo phòng hộ và phát triển sinh kế bền vững tại huyện Phú Lương, hệ thống 5 giải pháp trọng tâm được đề xuất thực hiện:

  1. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phòng hộ: Thay thế dần hơn 700 ha rừng keo thoái hóa tại xã Động Đạt sang mô hình rừng hỗn loài bản địa đa tác dụng kết hợp cây lâm sản ngoài gỗ (Trám đen, Sấu, Dổi xen Ba kích, Cát sâm, Khôi tía, Hoàng tinh hoa trắng). Mục tiêu đạt tỷ lệ che phủ cây bản địa trên 65% vào năm 2025 do UBND huyện Phú Lương và Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên chủ trì.
  2. Xây dựng hệ thống vườn ươm giống bản địa: Hỗ trợ thành lập 3 đến 5 vườn ươm quy mô hợp tác xã và hộ gia đình tại các xã Động Đạt, Ôn Lương, Yên Lạc. Đảm bảo năng lực cung ứng 100.000 đến 150.000 cây giống đạt chuẩn lâm sinh mỗi năm giai đoạn 2018-2023 dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của Trạm Khuyến nông huyện.
  3. Chuẩn hóa kỹ thuật thu hái và sơ chế: Ban hành quy trình thu hái bền vững cho 100% hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ, áp dụng kỹ thuật tỉa cành lấy lá và khai thác củ luân phiên nhằm giảm 40% tỷ lệ suy kiệt nguồn gen tự nhiên, đồng thời nâng giá trị thương phẩm sản phẩm lên 25% trước năm 2024.
  4. Phát triển liên kết chuỗi giá trị và thị trường: Ký kết biên bản ghi nhớ tiêu thụ dược liệu và nông sản rừng giữa các hợp tác xã địa phương với doanh nghiệp chế biến dược phẩm, phấn đấu nâng thu nhập bình quân từ lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng đạt 45 đến 60 triệu đồng/ha/năm giai đoạn 2020-2025.
  5. Hoàn thiện cơ chế chính sách giao khoán: Thực hiện giao quyền hưởng dụng và khai thác lâm sản phụ dưới tán rừng phòng hộ cho hơn 500 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đẩy mạnh chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng hoàn thành trong giai đoạn 2018-2022 do Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện điều phối.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Cán bộ quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học về 179 loài lâm sản ngoài gỗ và phương pháp chuyển đổi 3.559,40 ha rừng phòng hộ từ cây ngoại lai sang cây bản địa đa tác dụng, phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và xã.
  2. Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp lập 9 ô tiêu chuẩn 1.000 m², kỹ thuật phân tích công thức tổ thành và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân trong nghiên cứu lâm nghiệp xã hội.
  3. Chủ rừng, hợp tác xã và các hộ nông dân miền núi: Hướng dẫn chi tiết kỹ thuật gây trồng, thuần hóa 20 loài cây quý hiếm và kinh nghiệm thâm canh cây dược liệu dưới tán rừng nhằm gia tăng thu nhập trên từng đơn vị diện tích rừng nhận khoán.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Cung cấp case study thực tế từ dự án phục hồi rừng nhiệt đới tại Phú Lương để thiết kế, tài trợ và nhân rộng các mô hình phát triển sinh kế gắn liền với bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần thay thế rừng keo bằng cây bản địa trong quy hoạch rừng phòng hộ tại Phú Lương?

Rừng keo là loài cây ngoại lai có chu kỳ sinh trưởng ngắn chỉ từ 5 đến 7 năm, thân cây dễ bị rỗng ruột khi già cỗi và thường chết hàng loạt sau các đợt rét đậm vùng cao. Khi chuyển sang quy hoạch rừng phòng hộ với diện tích 3.559,40 ha, keo không đáp ứng được yêu cầu giữ đất và nguồn nước lâu dài, đồng thời người dân không được khai thác gỗ trắng nên mất nguồn thu nhập.

Nhóm thực vật lâm sản ngoài gỗ nào chiếm ưu thế lớn nhất tại địa bàn nghiên cứu?

Nhóm cây làm thuốc và dược liệu chiếm ưu thế tuyệt đối với 142 loài, tương đương 56,80% tổng số lượt công dụng được khảo sát. Các loài dược liệu nổi bật gồm Ba kích, Khôi nhung, Hoàng tinh hoa trắng, Cát sâm phân bố tự nhiên rộng và thích nghi rất tốt dưới tán tán rừng ẩm.

Nghiên cứu đã phát hiện bao nhiêu loài thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam?

Đề tài đã xác định được 20 loài thực vật quý hiếm thuộc Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, gồm 12 loài thuộc cấp Sẽ nguy cấp (VU) như Trám đen, Rau sắng, Sâm cau và 8 loài thuộc cấp Nguy cấp (EN) như Ba kích, Giảo cổ lam, Trầm hương, Sến mật, Cốt toái bổ.

Phương pháp nào được ứng dụng để lựa chọn loài cây trồng thay thế ưu tiên?

Tác giả đã áp dụng công cụ ma trận cho điểm có sự tham gia của người dân địa phương và cán bộ kỹ thuật dựa trên thang điểm 10. Các tiêu chí tuyển chọn bao gồm khả năng thích ứng sinh thái, giá trị phòng hộ, giá bán thị trường và kỹ thuật nhân giống để chọn ra các loài mũi nhọn như Trám đen và Ba kích.

Việc phát triển cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng phòng hộ mang lại hiệu quả kinh tế ra sao?

Mô hình trồng xen cây lâm sản ngoài gỗ theo phương châm lấy ngắn nuôi dài giúp các hộ nhận khoán bảo vệ rừng có nguồn thu thường xuyên từ 45 đến 60 triệu đồng/ha/năm từ lá, củ, quả mà không làm suy giảm cấu trúc tầng tán hay chức năng phòng hộ của rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã điều tra và lập danh lục khoa học chi tiết gồm 179 loài thực vật cho lâm sản ngoài gỗ thuộc 147 chi và 99 họ tại huyện Phú Lương.
  • Xác định được 20 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, khẳng định giá trị đa dạng sinh học và tiềm năng bảo tồn gen cây thuốc bản địa.
  • Đánh giá sâu sắc bất cập của mô hình trồng keo độc canh và đề xuất thành công giải pháp chuyển dịch sang trồng cây gỗ bản địa đa tác dụng kết hợp lâm sản ngoài gỗ.
  • Xây dựng bộ tiêu chí có sự tham gia của cộng đồng nhằm lựa chọn các loài cây ưu tiên có giá trị kinh tế cao như Trám đen, Ba kích, Khôi tía, Hoàng tinh hoa trắng.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2018-2025 từ nhân giống, kỹ thuật lâm sinh, chuỗi liên kết tiêu thụ đến chính sách hưởng dụng rừng.

Đóng góp cốt lõi của công trình là cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc giúp giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa mục tiêu phòng hộ môi trường sinh thái và bài toán sinh kế của người dân vùng cao. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và chủ rừng quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp các phát hiện và quy trình kỹ thuật trong luận văn để triển khai các dự án phục hồi rừng phòng hộ bền vững ngay hôm nay.