ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm trƣớc đây, khi tài nguyên gỗ của rừng Việt Nam còn nhiều, ngƣời dân chỉ tập trung khai thác gỗ, LSNG đƣợc coi nhƣ là sản phẩm phụ của rừng, do thu nhập từ nguồn lâm sản này thấp hơn so với gỗ thời điểm lúc đó. Hiện nay, do số lƣợng và chất lƣợng rừng đang bị suy giảm mạnh, hơn nữa chính sách đóng cửa rừng của Nhà nƣớc đã làm cho nguồn cung cấp gỗ ngày càng khan hiếm, điều này đã tác động mạnh đến thu nhập của ngƣời dân sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng gặp khó khăn. Do đó, hoạt động khai thác các sản phẩm từ rừng của ngƣời dân lại tập trung vào các loại LSNG. Nhu cầu sản phẩm này ngày càng lớn không chỉ đối với thị trƣờng trong nƣớc mà nhu cầu cho xuất khẩu ngày một tăng.
Ngoài ra, LSNG còn có vai trò xã hội lớn, chúng mang lại công ăn việc làm cho hàng triệu ngƣời và góp phần tích cực trong chƣơng trình xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn và miền núi. Do đó, cách nhìn nhận về vai trò của nguồn tài nguyên LSNG ở Việt Nam đã thay đổi. LSNG ngày càng khẳng định vai trò của nó đối với sinh kế của ngƣời dân nông thôn, đặc biệt là ngƣời dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Giá trị kinh tế - xã hội của các loài thực vật cho LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lƣơng thực thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, dƣợc phẩm đến giải quyết công ăn việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hóa, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhiều mặt của ngƣời dân, đặc biệt là những dân nghèo.
Tuy nhiên, thông tin về các loài thực vật cho LSNG có giá trị kinh tế cao còn rất tản mạn và ít ỏi, nên chƣa phát huy đầy đủ các chức năng có lợi của LSNG. Vì vậy, cần tập trung nghiên cứu xác định các sản phẩm có khả năng mang lại thu nhập kinh tế cũng nhƣ kĩ thuật gây trồng, chăm sóc, nuôi dƣỡng chúng gắn với quản lý rừng bền vững, đồng thời cần xây dựng và quảng bá những mô hình trình diễn. 2 Các loài cây Lâm sản ngoài gỗ hiện nay ở rất phong phú và đa dạng có tác dụng bảo vệ môi trƣờng và cải thiện môi sinh ngoài ra nó còn là nguồn dƣợc liệu quan trọng trong cuộc sống cây lâm sản ngoài gỗ còn có ý nghĩa kinh tế và tác dụng phòng hộ. Ngoài tác dụng về dƣợc liệu hệ thống cây lâm sản này còn có tác dụng làm giảm nhiệt độ không khí của đất, ngăn chặn làm giảm tốc độ dòng chảy bề mặt đất tránh rửa trôi, giữ các chất dinh dƣỡng cho cây, tăng độ ẩm tác động tích cực vào chu kỳ tuần hoàn nƣớc.
Cung cấp khí ôxi và giảm tích lũy khí các bon. Mặt khác còn làm hạn chế hạn chế ô nhiễm không khí hấp thu các chất có tính phóng xạ, làm giảm nồng độ bụi, giảm bớt lƣợng vi khuẩn trong không khí, có tác dụng tốt đến trạng thái tinh thần, cải thiện tình hình sức khỏe cho con ngƣời. Phú Lƣơng là huyện vùng núi của tỉnh Thái Nguyên với diện tích rừng và đất rừng 17.113ha trên tổng số diện tích toàn huyện 36.881ha; trƣớc dây diện tích rừng tự nhiên còn nhiều, song do khai thác gỗ, phá rừng và chuyển đồi mục đích kinh doanh nên diện tích rừng tự nhiên suy giảm nhanh, trong khoảng 10 năm trở lại đây do nhận thức đƣợc vai trò của rừng và giá trị kinh tế do rừng mang lại, đƣợc sƣ tuyên truyền và hỗ trợ nguồn lực của các cấp các ngành trong huyện, ngƣời dân ở đây đã nhận đất trồng rừng và nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng do đó trên địa bàn diện tích đất trống đồi núi trọc đƣợc phủ xanh bởi rùng trồng keo tai tƣợng và keo lá tràm. [42] Do có sự thay đổi trong quy hoạch trên địa bàn của huyện nên một diện tích lớn rừng trồng Keo đƣợc khoanh lại và chuyển đổi sang rừng phòng hộ.
Quyết định này tạo ra những vấn đề cần giải quyết nhƣ: Keo là loài nhập nội, trồng với mục đích kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy, dăm ở khu vực nên tuổi khai thác chỉ từ 5-7 năm, nhiều cây keo to ở khu vực bị rỗng ruột, nhiều cây bị chết sau rét đậm do đó về lâu dài loài cây này không đáp ứng cho mục tiêu phòng hộ. Hơn nữa, trên diện tích đất giao cho dân trồng keo nay 3 chuyển sang quy hoạch rừng phòng hộ ngƣời dân sẽ không đƣợc khai thác gỗ cũng nhƣ hƣởng lợi khác từ rừng, điều đó gây khó khăn cho sinh kế của ngƣời dân địa phƣơng. Trƣớc vấn đề đặt ra nhƣ vậy, UBND huyện và các ban ngành thấy cần phải hỗ trợ dân lựa chọn và trồng các loài cây bản địa đa tác dụng cho các lâm sản ngoài gỗ vừa tạo rừng cây lâu năm, phát huy tốt tác dụng phòng hộ, vừa tạo việc làm và thu nhập ổn đinh lâu dài cho ngƣời dân địa phƣơng. Bởi các loài cây LSNG giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của các hộ gia đình dân cƣ trung du và miền núi.
Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau,, từ việc cung cấp lƣơng thực phẩm; nguyên liệu làm thủ công mỹ nghệ; dƣợc liệu, đến việc giải quyết công ăn việc làm, phát triển ngành nghề bảo tồn và kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hóa, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống nhiều mặt cho ngƣời dân đặc biệt là dân nghèo vùng sâu vùng xa. [42] Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu chọn loài cây lâm sản ngoài gỗ thay thế rừng keo ở rừng phòng hộ tại xã Động Đạt, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên" với mục tiêu thông qua đánh giá thực trạng tài nguyên cây lâm sản ngoài gỗ của địa phƣơng làm cơ sở để lựa chọn đƣợc một số loài cây gỗ bản địa đa tác dụng và cây lâm sản ngoài gỗ thuộc các nhóm giá trị sử dụng khác nhau để trồng thay thế keo trên diện tích quy hoạch là rừng phòng hộ để góp phần ổn định kinh tế địa phƣơng và bảo vệ môi trƣờng sinh thái của khu vực. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới Từ những năm 1980 trở lại đây có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh đƣợc giá trị thực của thực vật cho LSNG, cũng nhƣ đã chỉ rõ vai trò to lớn của nó đối với sự nghiệp phát triển rừng bền vững.
Đầu tiên phải kể đến những phát hiện về khả năng đặc biệt của thực vật LSNG nhƣ phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm, năng suất kinh tế cao, ổn định, có thể kinh doanh liên tục và việc khai thác chúng thƣờng ít phá hủy hệ sinh thái. Vì vậy, bằng cách duy trì tính nguyên vẹn của rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có thể nuôi dƣỡng đƣợc tính đa dạng sinh học cơ bản và bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Bảo tồn có khai thác sẽ cung cấp những sản phẩm cần thiết cho một bộ phận của xã hội một cách bền vững (Mendelsohn, 1992). Nghiên cứu của Mendelsohn (1992) đã chỉ rõ vai trò của thực vật LSNG, theo ông: thực vật LSNG quan trọng cho bảo tồn bởi việc khai thác chúng có thể luôn đƣợc thực hiện với sự tổn hại ít nhất đến rừng.
Thực vật LSNG quan trọng cho tính bền vững vì trong quá trình khai thác chúng vẫn đảm bảo cho rừng ở trạng thái tự nhiên. Thực vật LSNG quan trọng trong đời sống bởi nó có thể cung cấp nhiều dạng sản phẩm nhƣ thực vật ăn đƣợc, nhựa, thuốc nhuộm, tanin, sợi, cây làm thuốc,… và ngoài sử dụng trực tiếp ngƣời thu hái có thể đem bán, trao đổi (một trong các yếu tố không thể thiếu của xã hội). Do đó, ông khẳng định rừng nhƣ là một nhà máy quan trọng của xã hội và thực vật LSNG là một trong những sản phẩm quan trọng của nhà máy này. LSNG đƣợc hiểu theo nhiều cách dựa vào định nghĩa của các nhà khoa học đƣa ra ở các thời điểm khác nhau: De.
Beer (1989) đã quan niệm LSNG là “Tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ mà chúng đƣợc khai thác từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu tiêu 5 dùng của loài ngƣời. LSNG bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, chất đốt và các nguyên liệu thô, song, mây, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi…”. [44] Theo Wicken (1991): “LSNG bao gồm tất cả sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp), gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy, có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng đƣợc dùng trong gia đình, mua bán hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa xã hội, việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm thuộc về lãnh vực dịch vụ của rừng.” Theo FAO (1999): “LSNG là các lâm sản có nguồn gốc sinh vật loại trừ gỗ lớn có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng. Beer định nghĩa về LSNG nhƣ sau: “LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ đƣợc khai thác từ rừng để phục vụ con ngƣời.
Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô nhƣ tre, nứa, song mây, gỗ nhỏ và sợi.” [44], [25] Nhƣ vậy, việc định nghĩa cho rõ ràng thế nào là LSNG là vấn đề khó khăn và không thể có một định nghĩa duy nhất đúng. Nó có thể thay đổi chút ít phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, quan điểm và nhu cầu khác nhau của các địa phƣơng cũng nhƣ các thời điểm. Tuy nhiên qua các khái niệm trên có thể đƣa ra những cách nhìn chung về LSNG, và qua đó giúp chúng ta nhận thức một cách đúng đắn về giá trị của nó. Cũng đã có nhiều nghiên cứu cho thấy giá trị của LSNG về kinh tế rất lớn.
Nghiên cứu của Peter (1989) đã chỉ ra giá trị thu nhập hiện tại từ LSNG có thể lớn hơn giá trị thu nhập hiện tại từ bất kì loại hình thức sử dụng đất nào.