Chương 1 KHÁI LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 1.Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản 1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm tài sản Nói tới hợp đồng là nói tới hành vi pháp lý đa phương hay nói tới sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người làm tạo lập ra một hậu quả pháp lý [2, tr. Khoản 1, Điều 12, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 định nghĩa: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Điều 567, Bộ luật Dân sự năm 2005 có định nghĩa tương tự nhưng với một số thuật ngữ khác biệt như sau: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Bảo hiểm gắn liền với các rủi ro mà khi xảy ra có thể gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho con người. Khi nghiên cứu về rủi ro, người ta phân loại chúng thành rủi ro tài chính và rủi ro phi tài chính [1, tr. Bởi chỉ có thể bù đắp các thiệt hại về vật chất, nên chỉ có thể bảo hiểm các rủi ro tài chính, có nghĩa là các rủi ro mang tới thiệt hại về tài chính cho người phải gánh chịu. Qua các định nghĩa trên có thể thấy bảo hiểm là một cơ chế mà theo đó người nhận bảo hiểm (hay doanh nghiệp bảo hiểm) thay vì nhận một khoản tiền (được gọi là phí bảo hiểm) từ người mua bảo hiểm, phải bồi thường bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xãy ra (có nghĩa là có rủi ro xảy ra gây thiệt hại về tài chính cho người được bảo hiểm hay người thụ hưởng bảo hiểm).
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vậy hợp đồng bảo hiểm được xem là hình thức pháp lý của cơ chế bảo hiểm đó. Vì nhằm tìm kiểm một cam kết hỗ trợ về tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm để nhằm bù đắp những thiệt hại của mình, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận chuyển giao rủi ro giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm (có thể được coi như giá của rủi ro) để đổi lấy một cam kết bảo đảm về tài chính với điều kiện gắn vào trường hợp bên mua bảo hiểm phải gánh chịu những tổn thất về tài chính do rủi ro (sự kiện bảo hiểm) [5, tr. Sự kiện bảo hiểm là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống trong đời sống thực tế được các bên dự liệu và ghi vào hợp đồng bảo hiểm hoặc do pháp luật qui định liên quan trực tiếp đến đối tượng bảo hiểm.
Sự kiện bảo hiểm có thể phân chia làm hai loại: Thứ nhất, sự kiện bảo hiểm là rủi ro. Với đặc tính bất lợi và bất ngờ, rủi ro trực tiếp xâm hại đến sự tồn tại của đối tượng bảo hiểm hoặc làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý của người được bảo hiểm. Khi rủi ro mà các bên đã dự liệu trong hợp đồng hoặc pháp luật qui định xảy ra trên thực tế thì làm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường của doanh nghệp bảo hiểm. Thứ hai, sự kiện bảo hiểm là những sự kiện, hoàn cảnh, tình huống không mang tính bất lợi, bất ngờ nhưng do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật qui định nếu xảy ra trên thực tế thì làm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm [4, tr.
Trong thực tế hiện nay, tranh chấp hợp đồng bảo hiểm chủ yếu hiện nay là các bên không xác định được chính xác sự kiện bảo hiểm như thế nào. Do đó việc bảo vệ quyền lợi của các bên trong hợp đồng bảo hiểm chưa được đáp ứng một cách thỏa đáng. Từ những phân tích trên ta có thể khái quát đặc trưng cơ bản của hợp đồng bảo hiểm như sau: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, thỏa thuận của các bên trong hợp đồng gắn với các sự kiện ngẫu nhiên mang tính may rủi; Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm chính là giải quyết hậu quả của rủi ro; Thứ ba, hợp đồng bảo hiểm không xác định được trước hậu quả khi giao kết; Thứ tư, việc xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm phụ thuộc vào việc có xuất hiện hay không các sự kiện ngẫu nhiên mang tính may rủi [5, tr. Trong hợp đồng bảo hiểm, các bên tìm kiếm khả năng để phân phối những tổn thất có thể xảy ra do sự không may mắn, để tìm cách san sẻ rủi ro, nhằm làm cân bằng tài sản.
Mục đích của bảo hiểm là bù đắp tài chính để khắc phục thiệt hại, nhằm khôi phục lại tình trạng tài chính của bên mua bảo hiểm như ban đầu khi chưa bị tổn thất. Về nguyên tắc, sự đền bù này chỉ có thể bằng mà không thể tốt hơn trạng thái ban đầu của đối tượng bảo hiểm khi chưa bị tổn thất. Bên mua bảo hiểm không thể được hưởng lợi thông qua giao kết hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm thường được phân loại theo nghiệp vụ bảo hiểm.
Các nghiệp vụ này được phân chia thành hai loại chính là bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Trong bảo hiểm phi nhân thọ có bảo hiểm tài sản. Hợp đồng bảo hiểm tài sản, về bản chất cũng được hiểu như hợp đồng bảo hiểm nói chung, nhưng đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là tài sản. Như vậy đối tượng của hợp đống bảo hiểm tài sản bị thu hẹp hơn so với hợp đồng bảo hiểm nói chung.
Điều 40, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 qui định: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Căn cứ vào đối tượng của hợp đồng ta có thể phân biệt được hợp đồng bảo hiểm tài sản với các hợp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng bảo hiểm khác vì đối tượng hợp đồng là căn cứ cơ bản để phân loại hợp đồng và để xác định được bản chất, đặc trưng, nguyên tắc cơ bản của từng loại hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm con người có đối tượng là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn không thể định giá bằng tiền hoặc thay thế được. Ngoài con người còn có các mối quan hệ nhân thân phi tài sản, do đó pháp luật không qui định chặt chẽ đối với bên mua bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba. Trong khi đó, Hợp đồng bảo hiểm tài sản với đối tượng chính là tài sản lại được điều chỉnh sâu về phương diện đề phòng trục lợi bảo hiểm nhằm đảm bảo ổn định trật tự và đạo đức xã hội. Với các qui định nhằm định giá trị tài sản và số tiền bảo hiểm, ngăn chặn các nguy cơ trục lợi bảo hiểm thông thường như bảo hiểm dưới giá trị, bảo hiểm trên giá trị và bảo hiểm trùng, đồng thời gắn kết trách nhiệm của chủ tài sản không được từ bỏ tài sản được bảo hiểm, có nghĩa vụ cung cấp thông tin về thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm và thay đổi những biện pháp an toàn đối với tài sản được bảo hiểm. Bên cạnh đó doanh nghiệp bảo hiểm có quyền kiểm tra các điều kiện đảm bảo an toàn cho đối tượng bảo hiểm hoặc khuyến nghị, yêu cầu người được bảo hiểm áp dụng các biện pháp phòng trừ, hạn chế các tổn thất, có quyền yêu cầu chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn.
Các định nghĩa nêu trên cho thấy đặc trưng cơ bản của Hợp đồng bảo hiểm, đó là việc ghi nhận sự thỏa thuận và thực hiện cam kết của các bên gắn với việc xảy ra một “sự kiện bảo hiểm”. Theo qui định của pháp luật Việt Nam, “sự kiện bảo hiểm” được định nghĩa là “sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật qui định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm” (Điều 3, khoản10, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000). 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản Hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tài sản.
Hợp đồng bảo hiểm taì sản được giao kết để đối phó với hậu quả do rủi ro gây ra đối với tài sản của người được bảo hiểm. Do sự khác biệt về đối tượng bảo hiểm, bảo hiểm tài sản có những đặc điểm riêng: + Quyền bảo hiểm tài sản của người tham gia bảo hiểm: quyền bảo hiểm tài sản cho phép một người giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản để đảm bảo cho tài sản mà họ có lợi ích ở đó. Quyền này của một chủ thể phát sinh trên cơ sở tồn tại một mối liên hệ về quyền lợi giữa người đó với tài sản.Theo nguyên tắc quyền bảo hiểm tài sản, bất cứ ai khi có quyền lợi có thể được đảm hiểm trong tài sản thì đều có quyền mua bảo hiểm để đảm bảo cho quyền lợi đó của mình. Khoản 9, Điều 3, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định: “quyền lợi có thể được bảo hiểm trong tài sản thể hiện và phát sinh từ mối quan hệ về quyền sở hữu, chiếm hữu, sử dụng và quyền tài sản” mà bên mua bảo hiểm có trong đối tượng tài sản bảo hiểm.
+ Tính bồi thường trong bảo hiểm tài sản: bảo hiểm tài sản tuân thủ theo nguyên tắc bồi thường, theo đó, những thiệt hại mà rủi ro gây ra đối với tài sản của người được bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, tuy nhiên bên được bảo hiểm trong bất kì trường hợp nào cũng không thể nhận được một khoản tiền cao hơn thiệt hại thực tế mà người đó phải gánh chịu. Bảo hiểm tài sản là một loại hình bảo hiểm đối với thiệt hại, nó nhằm đảm bảo cho người được bảo hiểm có tình hình tài chính ổn định như thể rủi ro không xaỷ ra.