Tổng quan nghiên cứu
Vùng dân tộc thiểu số và miền núi tại Việt Nam chiếm vị thế chiến lược đặc biệt quan trọng về tài nguyên, môi trường sinh thái và quốc phòng an ninh, trải rộng trên 54 trong tổng số 64 tỉnh thành cả nước theo phân vùng quản lý. Mặc dù sở hữu nguồn nhân lực dồi dào với hơn 70% dân số trong độ tuổi lao động, nhưng chất lượng nguồn nhân lực tại các khu vực này vẫn còn nhiều khoảng trống lớn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chính quy chỉ đạt dưới 10%, năng suất lao động thấp và tỷ lệ hộ nghèo tại nhiều địa phương vùng sâu vùng xa vẫn duy trì ở mức trên 30%. Vấn đề nâng cao năng lực nghề nghiệp cho người lao động dân tộc thiểu số nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang là đòi hỏi cấp bách trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học tập trung giải quyết mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng năng lực nghề của người lao động dân tộc thiểu số trong các hoạt động kinh tế cụ thể. Trên cơ sở nhận diện mối quan hệ biện chứng giữa năng lực nghề với các yếu tố kinh tế, văn hóa tộc người và môi trường xã hội, công trình phân tích các nguyên nhân rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.
Phạm vi nghiên cứu không gian được triển khai tại xã Bộc Nhiêu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên - một địa bàn miền núi đặc thù thuộc diện thụ hưởng Chương trình 135 của Chính phủ, nơi cộng đồng người Tày sinh sống đan xen cùng người Kinh và một số tộc người thiểu số khác. Phạm vi thời gian tập trung khảo sát các dữ liệu thực tế trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012. Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ trực tiếp để địa phương phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mức trên 40% và giảm tỷ lệ nghèo đa chiều xuống dưới 15% theo định hướng phát triển bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết đa ngành hiện đại để phân tích chiều sâu vấn đề năng lực nghề nghiệp của cư dân bản địa:
Lý thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) khởi xướng từ công trình kinh điển của Adam Smith năm 1776 và được hoàn thiện bởi các nhà kinh tế học như Theodore Schultz và Gary Becker. Lý thuyết này khẳng định tri thức, kỹ năng thực hành và phẩm chất lao động là nguồn vốn đặc biệt do tích lũy thông qua giáo dục và đào tạo. Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến năng suất lao động, mức thu nhập cá nhân và tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội.
Lý thuyết Vốn xã hội (Social Capital Theory) dựa trên quan điểm của Lyda Judson Hanifan, Don Cohen, Laurence Prusak và Ngân hàng Thế giới. Vốn xã hội được nhìn nhận thông qua các mạng lưới liên kết cộng đồng, chuẩn mực hành vi, niềm tin tương hỗ và tinh thần đoàn kết dòng họ. Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vốn xã hội đóng vai trò như chất keo kết dính, vừa tạo điều kiện hỗ trợ tương trợ sản xuất, vừa có thể trở thành rào cản nếu mang tính khép kín và bảo thủ.
Cách tiếp cận Trật tự lao động mới (New Work Order) của James Paul Gee xuất bản năm 1996 cùng Khung chính sách phát triển bền vững theo Quyết định 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc. Cách tiếp cận này yêu cầu người lao động không chỉ thuần thục kỹ năng chuyên môn đơn lẻ mà phải sở hữu năng lực tổng hợp, linh hoạt thích ứng với biến động của thị trường lao động.
Các khái niệm nòng cốt trong nghiên cứu gồm: Nguồn nhân lực xã hội (lực lượng dân số từ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động); Năng lực nghề nghiệp theo Khuyến nghị 195 của Tổ chức Lao động Quốc tế (tổ hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc đạt chuẩn trong bối cảnh cụ thể); Đào tạo nghề theo Luật Dạy nghề (quá trình trang bị kỹ năng lý thuyết và thực hành để tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm); và Địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Phương pháp nghiên cứu
Công trình xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật thu thập định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính dân tộc học:
Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp có hệ thống từ các báo cáo kinh tế - xã hội, sổ sách hộ tịch, thống kê lao động việc làm của Ủy ban nhân dân xã Bộc Nhiêu và các niên giám thống kê huyện Định Hóa giai đoạn 2007 - 2012. Dữ liệu này giúp phác thảo bức tranh tổng thể về cơ cấu ruộng đất, ngành nghề và thu nhập của 100% các xóm trên địa bàn.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu trực tiếp 14 đối tượng then chốt theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Danh sách gồm 01 cán bộ phụ trách đào tạo tại Trung tâm Dạy nghề huyện Định Hóa; 01 cán bộ văn phòng thống kê xã; 01 cán bộ chuyên trách chính sách xã hội; 01 Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã; 02 trưởng xóm am hiểu địa bàn; cùng 08 người lao động nam và nữ đại diện cho các nhóm tuổi từ 18 đến 60 tuổi đang trực tiếp làm nông nghiệp, làm chè hoặc đi làm ăn xa.
Lý do lựa chọn phương pháp: Trong giai đoạn thử nghiệm điền dã ban đầu với 100 phiếu điều tra bảng hỏi, tác giả nhận thấy người dân địa phương có tâm lý e ngại, trả lời thiếu trung thực đối với các câu hỏi nhạy cảm về thu nhập thực tế và trình độ học vấn. Nhằm đảm bảo tính chính xác và chiều sâu khoa học, tác giả quyết định hủy bỏ phương pháp điều tra đại trà bằng bảng hỏi để chuyển sang kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc và quan sát tham dự tại ruộng chè, đồng lúa, kết hợp đối soát dữ liệu hành chính chuẩn xác từ xã.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát thực địa tại xã Bộc Nhiêu giai đoạn 2007 - 2012 đã làm sáng tỏ 4 phát hiện cốt lõi về thực trạng năng lực nghề:
Thứ nhất, cơ cấu ngành nghề mang tính thuần nông tuyệt đối. Có tới hơn 85% tổng số lao động trong độ tuổi tại xã Bộc Nhiêu làm việc trong khu vực nông - lâm nghiệp truyền thống với các hoạt động chủ lực là thâm canh lúa nước, chăm sóc và chế biến chè cành, khai thác đồi rừng. Tỷ trọng lao động tham gia vào lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ chỉ dao động khiêm tốn từ 10% đến 15%, cho thấy nền kinh tế địa phương vẫn mang nặng tính tự cung tự cấp.
Thứ hai, mặt bằng năng lực nghề và trình độ học vấn còn nhiều giới hạn. Tỷ lệ người lao động chưa từng trải qua bất kỳ khóa đào tạo nghề chính quy nào chiếm trên 90%. Về học vấn, khoảng 60% lao động dừng lại ở trình độ trung học cơ sở, gần 25% đạt trình độ trung học phổ thông, và tỷ lệ có bằng trung cấp, cao đẳng hay đại học chỉ dưới 5%. Năng lực nghề chủ yếu hình thành qua con đường tự học, tích lũy kinh nghiệm truyền thống từ gia đình theo lối cha truyền con nối mà thiếu các kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại.
Thứ ba, sự bộc lộ rõ nét của làn sóng dịch chuyển lao động tự phát. Ước tính có khoảng 20% đến 25% lực lượng lao động trẻ trong độ tuổi 18 - 35 rời địa phương để tìm kiếm việc làm tại các đô thị lớn hoặc khu công nghiệp ngoài tỉnh. Do không có chứng chỉ nghề và kỹ năng công nghiệp, hơn 80% trong số họ chỉ làm các công việc phổ thông, thời vụ với mức thu nhập bấp bênh từ 3 đến 5 triệu đồng mỗi tháng, đồng thời để lại khoảng trống thiếu hụt nhân lực trẻ phục vụ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại quê nhà.
Thứ tư, nhu cầu nâng cao năng lực nghề rất lớn nhưng chưa gặp được nguồn cung phù hợp. Khảo sát cho thấy hơn 70% người dân tộc Tày mong muốn được tập huấn chuyên sâu về kỹ thuật cải tạo giống chè, bảo vệ thực vật sinh học và cơ giới hóa nông nghiệp. Tuy nhiên, các chương trình dạy nghề ngắn hạn tại huyện Định Hóa thời gian qua còn nặng về lý thuyết, thời gian thực hành ít, nội dung đào tạo chưa bám sát chu kỳ canh tác thực tế của từng mùa vụ.
Thảo luận kết quả
Thực trạng hạn chế về năng lực nghề tại xã Bộc Nhiêu xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính lịch sử và xã hội sâu xa. Về mặt địa lý, địa hình đồi núi phức tạp chia cắt giao thông khiến người dân gặp khó khăn khi tiếp cận các trung tâm giáo dục nghề nghiệp. Về mặt văn hóa, nếp nghĩ tiểu nông tự thỏa mãn, tâm lý ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ trợ cấp của Nhà nước và thói quen ngại thay đổi đã kìm hãm động lực học tập suốt đời của người lao động.
Khi so sánh với các nghiên cứu của Bùi Tôn Hiến năm 2009 về việc làm sau đào tạo nghề hay báo cáo của Ủy ban Dân tộc do Võ Văn Bảy chủ nhiệm, kết quả tại Bộc Nhiêu hoàn toàn tương đồng về bức tranh chung: hiệu quả đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số còn thấp, tỷ lệ làm đúng nghề sau đào tạo chưa vượt qua ngưỡng 30%. Đóng góp riêng biệt của luận văn này là tiếp cận dưới góc độ Nhân học và Dân tộc học, chứng minh rằng vốn xã hội dòng họ của người Tày dù gắn kết rất chặt chẽ nhưng lại vận hành theo khuôn mẫu đóng kín, thiếu mạng lưới liên kết với các thị trường việc làm hiện đại bên ngoài.
Trong luận văn, toàn bộ các phát hiện trên được hệ thống hóa trực quan thông qua các bảng số liệu chi tiết về cơ cấu sử dụng quỹ đất lâm nghiệp - nông nghiệp, bảng phân loại việc làm theo chương trình mục tiêu quốc gia, cùng các biểu đồ so sánh cơ cấu ngành nghề năm 2010 và tháp trình độ văn hóa của cư dân bản địa. Cách trình bày này giúp các nhà quản trị dễ dàng hình dung quy luật biến thiên của năng lực lao động theo từng độ tuổi và tộc người.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết luận nghiên cứu, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực nghề cho lao động dân tộc thiểu số:
Tái cấu trúc nội dung và phương thức đào tạo nghề theo hướng thực hành: Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa chỉ đạo Trung tâm Dạy nghề huyện phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân xã Bộc Nhiêu đổi mới 100% giáo trình dạy nghề ngắn hạn. Chuyển đổi phương thức dạy học trên lớp sang mô hình cầm tay chỉ việc ngay trên đồng ruộng và nương chè, tập trung vào kỹ thuật thâm canh chè an toàn tiêu chuẩn VietGAP và chăn nuôi đại gia súc. Mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo thực hành lên 45%.
Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động và tư vấn nghề nghiệp tại cơ sở: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Định Hóa chủ trì phối hợp với Đoàn Thanh niên và Hội Phụ nữ xã Bộc Nhiêu định kỳ tổ chức 02 phiên giao dịch việc làm lưu động mỗi năm. Thiết lập điểm cung cấp thông tin tuyển dụng minh bạch tại nhà văn hóa các xóm, phấn đấu định hướng đào tạo và kết nối việc làm ổn định cho 100 đến 150 lao động trẻ mỗi năm.
Mở rộng nguồn vốn tín dụng ưu đãi gắn với chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Định Hóa triển khai các gói vay vốn sinh kế ưu đãi với hạn mức từ 30 đến 50 triệu đồng mỗi hộ gia đình nghèo và cận nghèo có thành viên tham gia học nghề. Gắn kết chặt chẽ việc giải ngân vốn vay với việc áp dụng quy trình kỹ thuật mới nhằm bảo đảm tỷ lệ hoàn vốn đạt trên 98% và tăng thu nhập bình quân đầu người lên 1,5 lần sau 3 năm.
Hoàn thiện chính sách hỗ trợ đặc thù và nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước: Các cấp chính quyền đẩy mạnh thực thi hiệu quả Nghị định 05/2011/NĐ-CP và Quyết định 153/2004/QĐ-TTg. Bố trí ngân sách hỗ trợ 100% tiền học phí, hỗ trợ tiền ăn trưa từ 30.000 đến 50.000 đồng mỗi ngày cho học viên dân tộc thiểu số khi tham gia các khóa học nghề tập trung từ năm 2014 trở đi, đảm bảo tính công bằng trong tiếp cận cơ hội giáo dục.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
Cán bộ hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Các chuyên viên thuộc Ủy ban Dân tộc, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh miền núi có thể sử dụng các kết luận thực tiễn để tham mưu ban hành chính sách đào tạo nghề đặc thù, phân bổ ngân sách Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững sát với đặc điểm văn hóa từng tộc người.
Lãnh đạo và giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ban giám hiệu các trường trung cấp nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp khu vực trung du và miền núi phía Bắc có thể tham khảo để thiết kế chương trình đào tạo linh hoạt, loại bỏ các kiến thức hàn lâm, tăng thời lượng thực hành lên mức 70% tổng thời lượng khóa học.
Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên đại học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Dân tộc học, Xã hội học, Kinh tế phát triển và Quản lý công có thể khai thác khung lý thuyết tích hợp giữa vốn con người và vốn xã hội, cùng quy trình xử lý phương pháp điền dã kết hợp phỏng vấn sâu chất lượng cao.
Chính quyền cơ sở xã Bộc Nhiêu và huyện Định Hóa: Đội ngũ lãnh đạo Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể địa phương trực tiếp sử dụng hệ thống khuyến nghị làm cẩm nang hành động để quy hoạch vùng sản xuất chè đặc sản, thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Năng lực nghề của người lao động dân tộc thiểu số tại xã Bộc Nhiêu chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi những yếu tố nào? Yếu tố ảnh hưởng quyết định bao gồm trình độ học vấn phổ thông còn thấp với hơn 60% chỉ học hết cấp hai, thói quen sản xuất tiểu nông tự cấp tự túc, sự thiếu hụt các cơ sở dạy nghề tại chỗ và mạng lưới giao thông đồi núi cách trở gây khó khăn cho việc giao lưu kinh tế.
Tại sao tác giả lại từ bỏ phương pháp điều tra bảng hỏi 100 phiếu để chuyển hoàn toàn sang phỏng vấn sâu? Trong quá trình thử nghiệm điều tra ban đầu, người dân bản địa tỏ ra e ngại, trả lời thiếu trung thực về các chỉ số học vấn và thu nhập cá nhân. Phương pháp phỏng vấn sâu 14 mẫu đích giúp tạo dựng sự tin cậy, khai thác thông tin chân thực qua trò chuyện tại nương chè và đối chiếu chuẩn xác với số liệu hành chính của xã.
Vốn xã hội thể hiện vai trò như thế nào trong đời sống kinh tế của đồng bào Tày tại địa bàn nghiên cứu? Vốn xã hội thể hiện qua tinh thần tương thân tương ái, đổi công mùa vụ và hỗ trợ lẫn nhau trong dòng họ. Tuy nhiên, tính chất khép kín của mạng lưới quan hệ truyền thống này cũng khiến người lao động chậm đổi mới tư duy, e dè trước các mô hình kinh doanh hiện đại và thị trường lao động bên ngoài.
Những ngành nghề nào có tiềm năng tạo việc làm và tăng thu nhập bền vững nhất tại Bộc Nhiêu? Ngành nghề có tiềm năng đột phá cao nhất là trồng, chăm sóc và chế biến chè cành chất lượng cao theo tiêu chuẩn an toàn, kết hợp phát triển kinh tế đồi rừng và chăn nuôi gia súc có kiểm soát thú y. Đây là các lĩnh vực tận dụng tối đa thế mạnh tự nhiên và kỹ năng bản địa sẵn có của người dân.
Luận văn đóng góp điểm mới nào nổi bật so với các nghiên cứu kinh tế lao động thông thường? Điểm mới nổi bật là luận văn tiếp cận năng lực nghề từ góc độ Nhân học văn hóa và Dân tộc học. Công trình không chỉ xem xét năng lực qua bằng cấp mà đi sâu mổ xẻ mối quan hệ hữu cơ giữa kỹ năng nghề với tập quán canh tác, tâm lý tộc người và bối cảnh chuyển đổi xã hội của cư dân miền núi.
Kết luận
- Luận văn phác họa chân thực bức tranh năng lực nghề của lao động dân tộc thiểu số tại xã Bộc Nhiêu với hơn 90% chưa qua đào tạo chính quy và trên 85% gắn bó với nông nghiệp truyền thống.
- Nhận diện chính xác các điểm nghẽn kìm hãm kinh tế địa phương bao gồm trình độ dân trí chưa đồng đều, nếp nghĩ tiểu nông tự thỏa mãn và sự bất cập trong công tác dạy nghề ngắn hạn.
- Vận dụng sáng tạo khung lý thuyết vốn con người kết hợp vốn xã hội để luận giải sâu sắc mối liên hệ giữa văn hóa tộc người Tày với khả năng thích ứng thị trường lao động.
- Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp khả thi với trọng tâm là dạy nghề cầm tay chỉ việc, hỗ trợ vốn vay 30 đến 50 triệu đồng và kết nối thông tin thị trường việc làm tại cơ sở.
- Xác định lộ trình then chốt hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên mức trên 45%, góp phần giảm nghèo bền vững cho địa bàn miền núi giai đoạn tiếp theo.
Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cao cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và giảng viên quan tâm đến bài toán phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hãy áp dụng ngay các luận cứ và giải pháp từ công trình để xây dựng những chính sách đào tạo nghề thiết thực, hiệu quả và bền vững cho cộng đồng miền núi.