CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề lý luận về chuyển đổi doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của chuyển đổi doanh nghiệp 1. Khái niệm của chuyển đổi doanh nghiệp Quá trình chuyển đổi doanh nghiệp có thể được xem là quá trình thay đổi mối quan hệ giữa các thành viên doanh nghiệp với nhau, thay đổi mối quan hệ về quản trị doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các thành viên doanh nghiệp với doanh nghiệp và đôi khi thay đổi trách nhiệm của thành viên doanh nghiệp đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trong khi doanh nghiệp vẫn tồn tại và không ngừng hoạt động.
Doanh nghiệp được tạo lập nên bởi ý chí của thành viên hoặc các thành viên, nên việc chuyển đổi phải được tự do theo sự lựa chọn của thành viên hoặc các thành viên. Tuy nhiên doanh nghiệp là một thực thể kinh doanh hay là một chủ thể của pháp luật có thể gây ảnh hưởng tới cộng đồng và người thứ ba. Maurice Cozian và Alain Viandier trong cuốn “Tổ chức lại công ty, Tập 2”, do Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Tý (1989) dịch từ cuốn “Droit des Societes” đưa ra khái niệm: “Cải hóa công ty là chuyển từ hình thái công ty này sang hình thái công ty khác: công ty vô danh chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh chuyển thành công ty cấp vốn đơn giản, công ty dân dụng trở thành công ty vô danh”1. Đây là quan niệm thể hiện đúng bản chất của việc chuyển đổi công ty nói riêng và chuyển đổi doanh nghiệp nói chung.
1 Maurice Cozian, Alaũi Viandier, Tổ chức công ty, Tập 1, do Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Tý (1989) dịch từ cuốn “Droit des Societes” (Litec.l 988) và được hiệu đính bởi Nguyễn Văn Thảo, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Hà Nội. Chuyển đổi doanh nghiệp là tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp sẽ thay đổi từ hình thức doanh nghiệp này sang hình thức doanh nghiệp khác, có nghĩa là thay đổi các yếu tố kết cấu chủ yếu để tạo lập thành các hình thức doanh nghiệp như mối quan hệ giữa các thành viên, mối quan hệ giữa các thành viên với doanh nghiệp, chế độ trách nhiệm của các thành viên đối với khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của thành viên. Việc thay đổi các yếu tố không ảnh hưởng tới hình thức doanh nghiệp do pháp luật đã xác định không được xem là thay đổi hình thức doanh nghiệp, ví dụ, thay đổi vốn điều lệ, thay đổi thành viên, thay đổi người đại diện theo pháp luật. Chuyển đổi doanh nghiệp là thay đổi hình thức doanh nghiệp và có thể dẫn đến thay đổi hình thức sở hữu hoặc không dẫn đến thay đổi hình thức sở hữu trong doanh nghiệp.
Ví dụ, hình thức sở hữu của doanh nghiệp không thay đổi khi chuyển đổi DNTN thành công ty TNHH một thành viên, nhưng việc chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Việc chuyển đổi doanh nghiệp không làm chấm dứt hay thay đổi nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp chuyển đổi vì về nguyên tắc doanh nghiệp là một thương nhân nên phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ. Bởi vậy, pháp luật chỉ can thiệp vào chuyển đổi doanh nghiệp ở các khía cạnh: thủ tục chuyển chổi, các trường hợp chuyển đổi, vấn đề bảo vệ người thức ba, các khoản nợ của doanh nghiệp đối với người thứ ba trong trường hợp chuyển đổi hình thức doanh nghiệp. Khi chuyển đổi doanh nghiệp mà tài sản của doanh nghiệp tăng lên, thì khả năng chi trả nợ của doanh nghiệp tăng lên theo.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã xếp chuyển đổi doanh nghiệp vào “Chương IX - Tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp” và dự liệu hai trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp đó là: (1) chuyển đổi giữa công ty trách nhiệm hữu hạn với công ty cổ phần và ngược lại; (2) chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; (3) chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Như vậy, pháp luật Việt Nam có 8 ghi nhận khái niệm chuyển đổi doanh nghiệp, theo đó, doanh nghiệp bao gồm tất cả các thực thể kinh doanh, kể cả doanh nghiệp tư nhân, trừ những người buôn bán nhỏ lẻ và hộ kinh doanh. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, “doanh nghiệp” trong khái niệm “chuyển đổi doanh nghiệp” không bao gồm HTX, do HTX tổ chức và hoạt động theo một luật khác. Về bản chất kinh tế và pháp lý, chuyển đổi doanh nghiệp chỉ là việc thay đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp, do chính doanh nghiệp đó quyết định, không làm tiêu biến thương nhân đó, cũng không thể khiến thương nhân đó rũ bỏ các khoản nợ đối với bên thứ ba.
Doanh nghiệp vẫn tồn tại liên tục về mặt kinh tế. Điều đó có nghĩa là việc chuyển đổi doanh nghiệp không làm chấm dứt nghĩa vụ trả nợ của thương nhân. Tuy nhiên, việc chuyển đổi có thể làm biến đổi chế độ trách nhiệm của thành viên đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu các hình thức doanh nghiệp, nhất là về đặc điểm pháp lý, có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu về chuyển đổi doanh nghiệp.
Tóm lại, chuyển đổi doanh nghiệp là hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp, là quá trình chuyển từ loại hình doanh nghiệp này thành loại hình doanh nghiệp khác, diễn ra trong sự tồn tại liên tục của doanh nghiệp (với ý nghĩa là một thực thể kinh doanh) và có sự chuyển giao quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trước và sau chuyển đổi. Đặc điểm pháp lý của chuyển đổi doanh nghiệp Doanh nghiệp là một thực thể pháp lý tách biệt với chủ sở hữu của nó. Chuyển đổi doanh nghiệp có bản chất là một hành vi pháp lý. Do đó đặc điểm pháp lý của chuyển đổi doanh nghiệp rất phức tạp.
Các đặc điểm đó xuất phát từ bản chất hợp đồng của sự chuyển đổi hay hành vi pháp lý đơn phương của sự chuyển đổi, đồng thời cũng xuất phát từ các yêu cầu đặc biệt của pháp luật nhằm bảo vệ trật tự chung của cộng đồng và các chủ sở hữu doanh nghiệp. Có thể tóm tắt các đặc điểm của chuyển đổi doanh nghiệp như sau: + Về tính chất: Chuyển đổi doanh nghiệp là hoạt động mang tính thủ tục 9 pháp lý, theo đó, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường trước, trong và sau quá trình chuyển đổi. + Chủ thể quyết định việc chuyển đổi: Chủ sở hữu doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông công ty cổ phần) là người quyết định nội dung, hình thức, thời gian chuyển đổi doanh nghiệp. + Lý do chuyển đổi: Lý do chuyển đổi thường mang tính tự nguyện nhằm triển khai định hướng phát triển công ty phù hợp với điều kiện mới của chủ đầu tư, song cũng có thể mang tính bắt buộc để tránh nguy cơ giải thể (ví dụ khi số lượng thành viên công ty giảm dưới mức tối thiểu, nếu không muốn giải thể, lại không kết nạp thêm thành viên mới thì doanh nghiệp buộc phải thực hiện chuyển đổi).
+ Hệ quả pháp lý của việc chuyển đổi doanh nghiệp: Chuyển đổi doanh nghiệp sẽ làm thay đổi loại hình doanh nghiệp, do vậy, về thủ tục pháp lý, tất yếu sẽ phải cấp lại giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp sau chuyển đổi. Chuyển đổi doanh nghiệp có thể dẫn đến thay đổi sở hữu doanh nghiệp, nếu khi chuyển đổi doanh nghiệp xuất hiện thêm thành viên công ty hay cổ đông mới. Trường hợp này còn được gọi là chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cũng có những trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp không có sự thay đổi về chủ sở hữu doanh nghiệp mà chỉ thay đổi về loại hình doanh nghiệp, như trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu.
Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp sau chuyển đổi đương nhiên kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp trước chuyển đổi. Phân loại chuyển đổi doanh nghiệp 1. Chuyển đổi doanh nghiệp có liên quan đến thay đổi chế độ trách nhiệm tài sản Chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH và chuyển đổi công 10 ty TNHH thành DNTN có thể được xem là một dạng đặc biệt của chuyển đổi doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành, theo đó, các chuyển đổi này dẫn đến thay đổi chế độ trách nhiệm tài sản của chủ đầu tư, từ trách nhiệm vô hạn thành trách nhiệm hữu hạn hoặc ngược lại. Do vậy, việc chuyển đổi này có rất nhiều vấn đề pháp lý phải xem xét một cách cẩn trọng.
Mặc dù, khi thành lập Doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp có đăng ký vốn đầu tư hoặc được tăng giảm vốn đăng ký trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, số vốn đó không tự động được xác định là phần vốn góp như trong công ty TNHH. Trong chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân, bên giao dịch với chủ doanh nghiệp thường quan tâm đến nghĩa vụ phát sinh trước khi chuyển đổi, vì đó là nghĩa vụ luật định và vô hạn của chủ doanh nghiệp cũng như các vấn đề quan trọng nhất mà các bên quan tâm là việc chuyển giao các tài sản như quyền sử dụng đất, các đối tượng sở hữu công nghiệp. Do vậy, các bên khi giao kết hợp đồng góp vốn phải tiến hành định giá các tài sản của doanh nghiệp tư nhân và thoả thuận rõ các loại tài sản góp vốn của DNTN.
Trên cơ sở định giá xác định được giá trị, các bên lượng hóa được phần vốn góp của chủ doanh nghiệp trong công ty chuyển đổi, đồng thời thoả thuận rõ phạm vi trách nhiệm tài sản mà chủ DNTN phải kế thừa. Các bên tiếp tục phải xác lập quyền sở hữu cho công ty chuyển đổi đối với số tài sản góp vốn, đặc biệt là những tài sản phải đăng ký sử dụng hoặc sở hữu. Chuyển đổi hình thức giữa các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn với nhau Hiện tại có nhiều quan điểm về tính chịu trách nhiệm hữu hạn của công ty: Có những cách gọi lâu rồi thì thành quen chứ bản thân công ty và cổ đông của nó đều không chịu trách nhiệm hữu hạn. Công ty chịu trách nhiệm đối với mọi chủ nợ bằng tất cả mọi thứ tài sản mà nó có - có nghĩa là vô hạn và đến cùng2.