Chương 1: CO SỞ LÝ LUẬN 11. NHỮNG THÀNH TỰU NGHIÊN CUU CAI TÔI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1. “Cái tôi” trong các lý thuyết nhân cách * Thuyết phân tâm học @ Quan điểm của S. Freud — cha đẻ của thuyết phân tâm học, khi bàn về nhân cách đã cho rằng cầu trúc nhân cách bao gồm ba phan: phan vô thức tương ứng với “cai Nó" (id), phần ý thức tương ứng với "cái Tôi” (ego) và phần siêu thức tương ứng với “cai siêu Tôi” (supper ego).
Trong cau trúc này "cái Nó” được coi là bản năng và hoạt động theo nguyên tắc khoái cảm. làm theo khoái cảm và luôn luôn tron tránh sự đau khô. “cái Nó” hay còn gọi là vô thức được ví như một đứa trẻ ưa những gi nó thích và được coi là bản năng chỉ nhằm thóa mãn những nhu câu của chính mình và không bị các giá trị, các chuân mực xã hội ngăn cản. Xung năng vô thức của con người hoạt động theo cách tìm kiếm toàn bộ sự giải phóng năng lượng ngay lập tức.
Freud thi “cai Nó” được coi là không có căn cứ, phi logic. không có các chuẩn mực đạo đức. Hay nói khác đi "cái Nó” là sự yêu cầu. đòi hỏi, sự bốc đồng, sự che đậy.
tính thiếu lý trí, tính ích kỉ và tất cả những gì mang tính bản năng. hắt chấp thực tế. Khái niệm thứ hai S. Freud để cập trong cấu trúc nhân cách là "Cái Tôi” hay còn gọi là ý thức (ego) hoàn toàn trái ngược với cái vô thức.
Nếu như cái võ thức di tìm sự khoái cam thì ý thức đi tìm kiếm hiện thức. “Cai Tôi” bao gồm ý thức của con người về các quy luật của cuộc sống, các chuẩn mực của xã hội. Chức năng của “Cai tôi” ý thức là kiểm hãm những nhu cau dưới các hình thức có thẻ được xã hội chấp nhận. “Cái tôi" luôn vận hành theo nguyên tắc thực tế.
“Cai tôi” luôn được coi là có logic, có lý trí, chịu đựng được sự ức chế và diéu hành nhân cách. Khái niệm thứ ba mà S, Freud dé cập là "Cái siêu Tôi" - "Cái Tôi” siêu ý thức. bao gồm các quy ước. luật lệ, chuẩn mực trong hoạt động hàng ngày của chúng ta.
Chức năng là kiêm soát hành vi theo các chuân mực. Nó ngăn cắm "Cái tôi” làm những điều không đúng nhằm thỏa mãn nhu cầu của "cái Nó". “cai siêu Tỏi" luôn thúc day "Cái Tôi” vươn tới cái lý tưởng. cái cao thượng.
Đặc điểm nôi bật trong cau trúc nhân cách của S.Freud là môi quan hệ giữa ba thành phần này là luôn kèm theo sự kiêm duyệt, đè nén, kiểm hãm. Vì vậy những động cơ vô thức luôn bị biển dạng. nó không biểu hiện một cách trực tiếp. Nêu không những động cơ này sẽ mâu thuẫn với ý thức và siêu thức.
Tóm lại, "Cái Tôi” của S. Freud luôn luôn bị đè nén, bị kiểm hãm và đây cùng là nguyên nhân gây ra bệnh tâm căn ở con người. Theo ông thì bệnh tâm thần xuất phát từ những xung đột gay gắt giữa những ham muôn vô thức bị kiểm nến và những chuẩn mực, lý tưởng mà con người phải tuân theo. Quan niệm "Cái tôi” của S.Freud chịu nhiều áp lức của bản nang, của vô thức cũng như cua các nguyên tắc trong xã hội loài người, trong đó bản nang là động lực chính và là nguồn gốc của hành vi con người.
Rõ ràng đây là lý thuyết còn phiên điện. Nó tạo nên “Cai tôi” không đích thực và có xu hướng bản nang hóa con người. Sự suy diễn và không thé kiêm chứng được “Cai tôi” trong thuyết phân tâm là một trong những lý do khiến cho lý thuyết này không được hoan nghênh ở nhiều vùng văn hóa. ® Quan điểm của C.Jung Người thứ hai đại diện cho trường phái phân tâm học là C.
Jung, khắc phục quan điểm ban năng của S.Freud về “cdi Tôi", C.Jung đã dé cập nhiều đến tính xã hội trong "cái Tôi” của con người. Ong đã bắt đầu đẻ cập "cái Tôi” như một cái gì giống tỉnh thần hoặc toàn bộ nhân cách. Và ông đã tìm kiếm những nền tảng mang tính chủng tộc về nhân cách và đã phát triển các nguyên mẫu đó. Nguyên mẫu là thé hiện bản thân thông qua các biéu tượng khác nhau.
Theo ông khái niệm chính trong tâm lý học phải là “cái Tôi” với sự thông nhất mang tính tong the của nó. "Cái Tôi” là mục đích cuộc sống, một mục đích mà con người luôn phan dau nhưng ít khi đạt được. Giống như tất ca những nguyên mẫu. nó thúc đây hành vi con người và là nguyên nhân dé người đó tìm kiểm một tông thê trọn vẹn.
Sự xuất hiện "cái tôi” rất can cho những thành phản khác nhau của cá nhân. khiến họ có thê phát triển một cách day đủ và độc đáo. Với lý do này, nguyên mẫu về "cái tôi” không thé rd ràng cho đến khi con người ở mdi trung niên. Khái niệm "cái tôi” là sự phát hiện vẻ tâm lý học quan trọng nhất của C.Jung và kết quả nghiên cứu của ông tập trung chủ yêu vào những nguyên mẫu.
Như vậy, “cai tôi” của Jung cũng không rõ rang, không hiện thực và cũng như Freud, không đê cập gì đến tinh chủ thê của con người trong các hành vi của mình. Tuy nhiên những đóng góp to lớn của các nhà phân tâm học. Đặc biệt là Freud đã xây dựng được một hệ thông khái niệm như vô thức. tiềm thức, tự vệ.Freud đã có găng tìm hiểu thé giới phức tạp bên trong con người thông qua các khái niệm này, Đối với lĩnh vực lâm sàng, các nhà phân tâm học đã đóng góp vẻ mặt phương pháp trị liệu.
Họ đã đưa ra phương pháp chữa bệnh cho những người bị bệnh tâm căn bang cách giải toa những xung đột. những đồn nén trong thé giới nội tâm. Ho là người đầu tiên sử dung các kĩ thuật mới trong nghiên cứu. như phương pháp liên tưởng tự do, giải thích giắc mơ và nhắn mạnh đến ý nghĩa trong việc phát triển cũng như việc xây dựng và sử dung test chuyên biệt dé đo nhân cách.
Bên cạnh những đóng góp của mình thuyết phân tâm học cùng bộc lộ không ít những hạn chế. Phân tâm học đổi lập với tâm lý học duy vật biện chứng. Họ nhắn mạnh đến cái vô thức, cái bản năng. coi bản năng tình dục chỉ phối đời sống tâm lý con người và bỏ qua vai trò của ý thức.
* Thuyết hiện sinh Nếu như cách tiếp cận của phân tâm học nhắn mạnh đến xung năng. bản ngã và cái vô thức thì Carl Rogers (dẫn trong Pervin, 1997), một nhà tâm lý học đại diện cho trường phái hiện sinh, lại tiếp cận theo hướng ngược lại. Ông nhắn mạnh đến nhận thức, cảm nhận, tự thuật mang tính chủ quan, hiện thực hóa “cai tôi” và tiền trình của sự thay đôi. Trong lý thuyết về nhân cách, C.Rogers nhân mạnh khái niệm “cái tôi” và coi đó là khái niệm chủ đạo trong nghiên cứu nhân cách.
cá nhân tiếp nhận thực tiền khách quan bên ngoài. sự trai nghiệm và khoác cho chúng một ý nghĩa nào đó. Toàn bộ hệ thong tri giác và các giá trị của chúng hình thành nên hiện tượng của cá nhân. Khái niệm "cái tôi” đại diện cho tô chức và luôn phù hợp với mo hình nhận thức.
Khái niệm này được ông phát triển qua các thang đo của mình. cách đánh giá của con người về bản thân tại một thời điểm nào đó và trong hoàn cảnh nào đó thường có liên quan đến quan điềm của họ vẻ chính mình 6 thời điểm khác và trong hoàn cảnh khác. mọi hành vi và lời nói của con người đều thê hiện chính bản thân người đó. Và ông cũng khang định rằng, bản thân con người có rất nhiều tiềm nang khác nhau và khi con người ý thức được tiêm năng đó thì chính là hiện thực hóa.
Cau trúc cơ bản của “cai tôi” có thé dựa trên các nên văn hóa khác nhau. Ví dụ "cái tôi” của người phương Đông được nhìn nhận như một sự gắn kết với người khác, với tập thé. Cá nhân chi được thé hiện “cái tôi" khi họ được sông trong tập thê. Ngược lại ở phương Tây.
“cdi tôi" là sự độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân. bị tách biệt khỏi tập thê. Vì vậy khi nghiên cứu "cái tôi” rất cần phải chú ý đến đặc điểm van hóa của từng vùng. từng dan tộc.
Rogers đưa ra khái niệm “cái tôi lý tưởng”. "Cái tôi lý tưởng” là sự tự nhận thức mà cá nhân muốn trải qua nhất. Nó bao gồm những nhận thức và ý nghĩa mang tính tiềm ân về "cái tôi” và được đánh giá cao ở moi cá nhân. Rogers, khi nói về nhân cách đã nhân mạnh đến sự thay đôi của nó.
Suy nghĩ của con người giống như sự đi chuyên vẻ phía trước. vì vậy, ông đưa ra khái niệm hiện thức hóa “cai tôi” và khuynh hướng cơ bản của con người là hiện thực hóa “cdi tôi" nên luôn luôn phan dau dé lý tưởng hóa. duy trì và nâng cao kinh nghiệm của bản thân. Cũng trong lý thuyết và nghiên cứu của mình, C.
Rogers đã nhân mạnh đến tính nhất quán và sự tương đồng giữa "cái tôi” và kinh nghiệm. đó là những gì con người cảm nhận cùng với cách con người nhìn nhận vẻ bản thân minh. Chúng ta trải nghiệm tình trạng không tương đồng khi có sự khác nhau giữa chấp nhận “cái tôi” và kinh nghiệm thực tế. Tinh trạng không tương dong là do nhừng bối dỗi và ức chế bên trong.
Khi chúng xuất hiện, cá nhân không thé nhận thức được vì họ bị tôn thương hoặc quá lo lắng. Sự lo lắng là kết qua của sự khác biệt giữa kinh nghiệm và nhận thức về ban thân. Khi cá nhân thiểu sự tương đồng giữa việc đánh giá của bản thân và kinh nghiệm thực tế sé làm cá nhân đó để bị tôn thương. gây cảm giác lo lắng.
không an Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thé nhận thức được kinh nghiệm như là sự cảnh báo. sự chống lại "cái tôi” và không chấp nhận nó trở thành ý thức. 10 Cơ thê con người cô găng duy trì khái niệm “cái tôi". Đáp lại sự không tương đông đê đưa ra lời cảnh báo vé sự trải nghiệm chông lại “cái tôi” — đó là sự bao về.
Một kinh nghiệm không được nhận thức một cách rõ ràng cùng có nghĩa là không đồng dạng với "cái tôi” và nó phản ứng lại sự tu vệ dé từ chối nhận thức về kinh nghiệm. Rogers đã có nhiều đóng góp cho tâm lý học lâm sàng, ông là người dau tiên đưa ra thuật ngữ “than chủ trọng tâm”.