CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN DỒN TÍCH VÀ TÍNH ỔN ĐỊNH DUY TRÌ CỦA BIẾN DỒN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA THỊ TRƯỜNG 1. Tổng quan về biến dồn tích Cơ sở của biến dồn tích chính là kế toán theo cơ sở dồn tích. Để hiểu rõ vấn đề này, có thể so sánh giữa kế toán theo cơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền. Kế toán theo cơ sở dồn tích có nghĩa là mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (VAS 01).
Kế toán theo cơ sở tiền có nghĩa là doanh thu và chi phí được ghi nhận chỉ trên cơ sở tiền thực sự đã thu được hoặc chi phí đã thực sự chi ra bằng tiền. Điểm khác nhau mấu chốt giữa kế toán theo cơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền là cách thức doanh thu và chi phí được ghi nhận. Điểm khác nhau quan trọng nữa là kế toán theo cơ sở dồn tích là sự áp dụng theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu và nguyên tắc phù hợp trong khi kế toán theo cơ sở tiền thì không áp dụng các nguyên tắc này. Theo đó, kế toán cần phải ghi nhận doanh thu khi doanh thu đã thực sự phát sinh và chi phí cần phải được ghi nhận phù hợp với việc tạo ra doanh thu trong kỳ kế toán.
Việc áp dụng nguyên tắc phù hợp bảo đảm cho lợi nhuận (được đo lường bằng doanh thu trừ chi phí) được đo lường một cách xác thực, phản ánh đúng đắn kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích dẫn đến thời điểm các khoản doanh thu và chi phí được nhận khác với kế toán theo cơ sở tiền như sau: 6 - Doanh thu chưa thu tiền: Doanh thu phát sinh được ghi nhận trước khi tiền thu được. - Chi phí chưa chi tiền: Chi phí phát sinh được ghi nhận trước khi tiền được chi ra. - Doanh thu chưa thực hiện: Doanh thu được ghi nhận sau khi tiền đã thu vào.
- Chi phí trả trước: Chi phí được ghi nhận sau khi tiền đã chi trả. Từ đó, có hai loại giá trị dồn tích cơ bản: dồn tích doanh thu và dồn tích chi phí. Doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp bán ra hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ. Để ghi nhận giá trị đi vào doanh nghiệp này, giá trị dồn tích của doanh thu ghi nhận giá trị tăng lên mà không phải bằng tiền.
Giá trị dồn tích của doanh thu thông thường nhất chính là các khoản phải thu được hình thành khi doanh nghiệp bán hàng chưa thu tiền, phản ánh một giá trị tăng lên mặc dù tiền chưa nhận được. Giá trị dồn tích chi phí ghi nhận giá trị phải bỏ ra trong việc tạo ra doanh thu mà không phải bằng tiền. Ví dụ, tiền lương phải trả phát sinh cho nhân công trong một thời kỳ. Các khoản dồn tích trên bảng cân đối kế toán có những ý nghĩa riêng – hoặc là tài sản hoặc là nợ phải trả.
Do phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách xác thực, kế toán theo cơ sở dồn tích chính là cơ sở quan trọng chi phối phương pháp ghi nhận các đối tượng kế toán trong doanh nghiệp (trừ một số loại hình doanh nghiệp áp dụng kế toán theo cơ sở tiền). Trong 15 năm qua, nghiên cứu tập trung vào biến dồn tích đã phát triển rất mạnh mẽ, với nghiên cứu được nhiều người biết đến như Jones [12] và Sloan [18]. Mặc dù các nghiên cứu này mang tính khảo cứu mở rộng trên các nghiên cứu trước đây để trả lời nhiều dạng câu hỏi, hầu hết, theo cách này hay cách kia, đều xem xét các thuộc tính thống kê của biến dồn tích – hay thuộc tính của dòng tiền so với lợi nhuận. Những biến phản 7 ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp này làm nảy sinh vấn đề làm thế nào để chuyển đổi các dữ liệu tài chính sang dòng tiền hay giá trị dồn tích của một thời kỳ.
Một cách tổng quan có thể thấy rằng có nhiều phương pháp tiếp cận để đo lường biến dồn tích. Một số dựa vào thay đổi trong tài khoản trên bảng cân đối kế toán (BS), số khác lại bắt nguồn từ bảng lưu chuyển tiền tệ (CF) sau đó điều chỉnh lại với các thông tin thu được từ báo cáo kết quả kinh doanh (IS). Những chi tiết cụ thể trong từng nghiên cứu riêng biệt có thể rất đa dạng, do đó người đọc dễ rơi vào cảm giác bối rối vì không biết phải áp dụng theo cách nào. Một người có thể xác nhận, theo cách an toàn rằng, các nghiên cứu không đưa ra một tiêu chuẩn nào trong việc sắp xếp các yếu tố dòng tiền, lợi nhuận và biến dồn tích lại với nhau.
Tuy nhiên, nỗ lực phổ biến để đo lường biến dồn tích dường như lại dựa vào hiểu biết chung về bản chất của biến dồn tích; bởi khi thảo luận về cách xác định biến dồn tích các tác giả thường đề cập đến biến dồn tích với ý nghĩa như nhau. Vắng bóng trong tất cả những nghiên cứu thực chứng này chính là một phân tích hẳn hoi về khái niệm hay cấu trúc biến dồn tích và ý nghĩa của nó. Thiếu sót đó gây ra khó khăn trong việc đưa ra đánh giá liệu còn cách khả thi nào khác để xác định biến dồn tích khác với các nghiên cứu trước hay không, trong khi theo giả thiết những cách này có thể làm tiền đề cho các phát hiện khác (có thể ít thiết thực hơn). Tất cả làm nảy sinh nhu cầu phải có một khái niệm toàn diện về biến dồn tích.
Tuy nhiên, ẩn sau đó lại là một vấn đề thậm chí còn cơ bản hơn. Bởi vì, chỉ sau khi xác định được cấu trúc của biến dồn tích, chúng ta mới có thể xem xét trong những trường hợp nào biến dồn tích thể hiện vai trò thực tế trong xác định giá trị nhờ tác dụng bổ sung hữu ích cho lợi nhuận bằng tiền. Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện cho phân tích khi nào biến dồn tích 8 có khuynh hướng khiến nhà đầu tư đưa ra nhận định sai lệch hơn là cung cấp thông tin có ích. Các giáo trình, như Penman [15], đã đề cập tới biến dồn tích như một “sự thay đổi trong tài sản hoạt động ròng”.
Theo đó cấu trúc của biến dồn tích mang những đặc điểm sau: - Cấu trúc của biến dồn tích chỉ phụ thuộc vào các bảng cân đối kế toán (giữa các kỳ liền kề nhau) và sự phân loại tài sản, nợ phải trả thành tài sản, nợ phải trả tài chính và tài sản, nợ phải trả hoạt động. - Trên khía cạnh lý thuyết và thực tế, xác định một biến dồn tích từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ kết hợp với số liệu lợi nhuận có thể gây ra nhầm lẫn. Sự kết hợp này nói chung cũng không giúp xác định những chi phí không liên quan tới tiền như khấu hao khi xác định tổng giá trị dồn tích của một kỳ. - Xét về khía cạnh kinh tế học, một khoản dồn tích có liên quan tới sự phát triển trong hoạt động kinh doanh đơn thuần.
Trong những điều kiện lý tưởng, đo lường mức phát triển của hoạt động kinh doanh đơn thuần và biến dồn tích là tương quan một đối một. - Sự phụ thuộc của chất lượng lợi nhuận vào giá trị dồn tích về cơ bản là độc lập với nguyên tắc thận trọng áp dụng đối với các khoản mục trên bảng cân đối kế toán (thận trọng trong ghi nhận giá trị tài sản). Chính sự thay đổi trong mức độ thận trọng này mới được tính đến. Trong ngữ cảnh này chất lượng của lợi nhuận được hiểu là gắn liền với ý nghĩa rằng giá trị dồn tích hiện tại ảnh hưởng việc dự đoán lợi nhuận theo chiều hướng tăng lên hay giảm đi.
Nếu lợi nhuận tăng thì lợi nhuận hiện tại là có chất lượng cao và ngược lại. Tương tự, nội dung thông tin của biến dồn tích không nên được thể hiện trên 9 phương diện lý luận như là mức độ tài sản, nợ phải trả hoạt động lệch khỏi với giá trị thị trường hợp lý của nó. - Giải quyết vấn đề chất lượng lợi nhuận của kế toán theo GAAP trở thành nỗ lực tìm ra phương pháp đo lường mức độ tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh, điều cung cấp thông tin nhiều hơn giá trị dồn tích mà GAAP hàm ý. Cách thức đo lường mức độ tăng trưởng đó hỗ trợ cho dự báo lợi nhuận hoạt động theo GAAP trong tương lai.
Mức tăng trưởng doanh thu có thể hữu ích miễn là nó phải liên quan tới sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh. Nếu không đề cập tới nguyên tắc kế toán cụ thể nào, kế toán cho ra biến dồn tích bởi vì các giao dịch có thể có hoặc không có giao dịch thực tế bằng tiền: Lợi nhuận bằng tiền + Giá trị Biến dồn tích = Lợi nhuận Mối quan hệ này là mang tính định nghĩa và không thể bàn cãi. Nếu lợi nhuận là được xác định bởi GAAP và lợi nhuận bằng tiền được xác định bằng chế độ kế toán nào đó nhất quán với khái niệm lợi nhuận bằng tiền thì giá trị dồn tích được xác định. Một cách tổng quát, bất cứ một yếu tố nào trong ba yếu tố trên cũng có thể được xác định từ hai yếu tố kia.
Các nghiên cứu cho đến nay thể hiện nhiều cách thức khác nhau để xác định giá trị biến dồn tích nhưng dường như lợi nhuận luôn là yếu tố được xem là có sẵn để có thể sử dụng để đo lường giá trị biến dồn tích. Các mối quan hệ và quan sát cho đến nay mới chỉ dừng lại ở các định nghĩa, phân loại và cấu trúc về kế toán. Thực chất vẫn chưa giải quyết cái gọi là “nội dung thông tin” của thành phần dồn tích trong tương quan với thành phần dòng tiền trong lợi nhuận. Chính từ đó đã nảy sinh câu hỏi: vậy mục đích thông tin mà biến dồn tích mang lại là gì? 10 Quan điểm kế toán truyền thống giải quyết các câu hỏi trên bằng cách đề cập tới hai cách tiếp cận hơi khác biệt: một tập trung vào bảng cân đối kế toán cuối kỳ, một dựa vào cách đo lường lợi nhuận của một kỳ kế toán.