CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO 1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI HÀNG TỒN KHO 1. Định nghĩa hàng tồn kho Để ghi nhận một tài sản là HTK, không chỉ xem xét tài sản đó có thỏa mãn các tiêu chuẩn ghi nhận tài sản của DN mà còn xem đến tài sản mua về sử dụng cho mục đích gì [8]. Theo CMKT HTK [2] thì HTK là những tài sản rơi vào một trong ba trường hợp sau: (1) Tài sản được mua về hoặc sản xuất ra nhằm mục đích bán ra trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường (2) Tài sản được mua về để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ (3) Tài sản đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang 1.
Phân loại hàng tồn kho a. Phân loại theo mục đích sử dụng Theo cách này, HTK được chia thành 3 loại - Các loại dự trữ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN. Tùy theo công dụng kinh tế, loại tồn kho này gồm những loại sau: + Nguyên liệu và vật liệu: là những yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất ở DN. Loại tồn kho này trong các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) thường chia thành các loại sau: Nguyên liệu và vật liệu chính: là những loại tồn kho hình thành nên thực thể sản phẩm ở DNSX.
Ở một góc độ rộng, khái niệm nguyên liệu dùng để chỉ những sản phẩm của công nghiệp hoặc của nông nghiệp khai thác từ trong tự nhiên chưa qua khâu chế biến công nghiệp như quặng sắt, bông hạt…Vật Luan van 8 liệu chính là sản phẩm đã được chế biến công nghiệp dùng làm đối tượng chế biến trong quá trình sản xuất Vật liệu phụ: là loại tồn kho có tác dụng kết hợp với nguyên liệu, vật liệu chính để nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc để đảm bảo cho công cụ, dụng cụ hoạt động bình thường. Nhiên liệu: là loại tồn kho tạo ra nhiệt năng như xăng, dầu, khí ga, than… Các loại vật liệu khác: như phế liệu thải từ quá trình sản xuất hay thanh lý TSCĐ, các loại phụ tùng thay thế cho các loại phương tiện sản xuất Các loại vật liệu khác: như phế liệu loại thải từ quá trình sản xuất hay thanh lý TSCĐ , các loại phụ tùng thay thế cho các loại phương tiện sản xuất, các loại vật tư phục vụ quá trình sản xuất ở doanh nghiệp nhưng không được xếp vào TSCĐ hay CCDC. + Công cụ, dụng cụ: là những tư liệu lao động không đủ các tiêu chuẩn về giá trị hoặc thời gian sử dụng quy định đôi với TSCĐ. Ví dụ: các loại xô, chậu, đồ bảo hộ hộ lao động sử dụng trong doanh nghiệp chế biến hải sản; các loại xe đẩy, đồ nghề chuyên dùng trong doanh nghiệp xây lắp.
Các loại tồn kho trên đều có đặc trưng chung là có giá trị nhỏ nhưng lại tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nên được xếp vào CDDC. Do những đặc điểm trên nên công tác quản lý CDDC cần kết hợp cả những đặc trưng quản lý nguyên liệu, vật liệu và quản lý TSCĐ. - Các loại dự trữ cho hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp. Thuộc loại này gồm có thành phẩm, bán thành phẩm có thể tiêu thụ trong DNSX, hoặc hàng hóa trong DNTM.
Thành phẩm là kết quả cuối cùng của quy trình sản xuất trong các DNSX, đạt các tiêu chuẩn về chất lượng có thể bán cho khách hàng. Bán thành phẩm là sản phẩm đã hoàn thành một hoặc một vài giai đoạn chế biến (trừ giai đoạn cuối cùng) của quy trình công nghệ sản xuất của Luan van 9 DNSX, được nhập kho, chuyển sang giai đoạn sau để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài. Hàng hóa là những sản phẩm được mua vào để nhằm mục đích bán ra ở các DNTM. - Các loại sản phẩm và dịch vụ dở dang.
Trong DNSX, loại tồn kho này là những sản phẩm đang chế tạo nên dây chuyền sản xuất, chưa hoàn thành quy trình công nghệ, chưa thể cung cấp cho khách hàng. Nói chung, bộ phận tồn kho này sẽ cấu thành trong các loại dự trữ cho hoạt động tiêu thụ ở doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp dịch vụ, đó là những dịch vụ còn đang trong quá trình cung cấp cho khách hàng chưa hoàn thành. Phân theo vị trí của hàng tồn kho trong quá trình luân chuyển HTK của DN được chia thành các loại sau: - Hàng mua đang đi đường: Là những vật tư, hàng hóa mà DN có quyền kiểm soát, nhưng các loại hàng này chưa về nhập kho ở DN do những đặc thù trong khâu cung ứng hay những quy định riêng rẽ trong khâu giao và cung cấp hàng hóa.
- Hàng đang dự trữ tại kho, quầy của DN: gồm các loại nguyên vật liệu, CDDC, hàng hóa, thành phẩm, sản phẩm dở dang đang được quản lý về mặt vật chất tại kho hay quầy hàng của DN. Đây là những loại tồn kho sẵn sàng phục vụ cho hoạt động sản xuất và tiêu thụ của DN. Sản phẩm dở dang cũng được xếp vào nhóm tồn kho này. - Hàng gửi đi bán: Là những loại thành phẩm, hàng hóa xuất khỏi kho của DN nhưng chưa được tiêu thụ.
Về mặt vật chất, những loại hàng này không được quản lý ở kho của đơn vị. Tuy nhiên, DN vẫn có quyền kiểm soát những tài sản này cho đến khi chuyển phần lớn rủi ro và quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cho khách hàng. Quy mô của hàng gửi đi bán tùy thuộc vào các thức tổ chức kênh phân phối trong hoạt động tiêu thụ của DN. HỆ THỐNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO Do HTK của DN thường đa dạng, luôn biến động với số lượng lớn nên quản lý HTK còn liên quan đến khả năng DN có theo dõi liên tục, kịp thời tình hình nhập – xuất – tồn của từng loại hàng hay không về mặt số lượng và giá trị.
Kế toán HTK cần lựa chọn hệ thống HTK thích hợp để quản lý tình hình biến động vật tư hàng hóa. Trên thực tế công tác kế có hai hệ thống quản lý HTK, gọi là phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kê khai định kỳ. Hệ thống quản lý hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) là phương pháp phản ánh thường xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất, tồn kho vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán. Khi áp dụng phương pháp này thì tài khoản HTK được dùng để phản ánh số dư hiện có, tình hình tăng, giảm của từng loại HTK ở DN.
Vì vậy, số lượng và giá trị của mỗi loại HTK trên sổ sách kế toán có thể xác định được ở bât kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán. Số liệu trên sổ kế toán về HTK là cơ sở để đối chiếu với số liệu tồn kho để kiểm kê qua thực tế vào cuối kỳ kế toán. Tuy nhiên, sai lệch giữa số liệu tồn kho trên sổ kế toán và tồn kho thực tế là cơ sở để phát hiện tình hình thừa thiếu từng loại hàng, qua đó có biện pháp đảm bảo của đơn vị không được thất thoát, sử dụng lãng phí. Để đảm bảo những yêu cầu về quản lý HTK như trên, việc tổ chức ghi chép chi tiết tại bộ phận kế toán và bộ phận kho hàng phải tương xứng.
Trên thực tế có ba cách tổ chức ghi chép chi tiết HTK là phương pháp thẻ song song, phương pháp sổ số dư và phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển. Tóm lại, với hệ thống kê khai thường xuyên, kế toán có thể cung cấp thông tin kịp thời về số hiện có và tình hình biến động của loại tồn kho cả về số lượng và giá trị, qua đó tăng cường trách nhiệm của các bộ phận có liên Luan van 11 quan ở DN đến HTK. Hệ thống này vì thế được sử dụng phổ biến ở nhiều DN, nhất là trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin. Hệ thống quản lý hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ Trong một số trường hợp, HTK của DN có rất nhiều, không thể theo dõi cụ thể giá trị cho mỗi lần xuất kho do hạn chế về khả năng xử lý số liệu.
Để thay thế cho cách quản lý tồn kho trên, kế toán chỉ có thể phản ánh tình hình tồn kho đầu kỳ, tình hình mua vào và tình hình tồn kho cuối kỳ qua kiểm kê thực tế. Quản lý HTK trong trường hợp này thuộc phương pháp kiểm kê định kỳ. Như vậy, phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên, liên tục trên sổ kế toán tình hình biến động của từng loại hàng của DN. Khi áp dụng phương pháp này thì toàn bộ các loại vật tư, hàng hóa.
mua vào đều được theo dõi qua tài khoản mua hàng. Trong kỳ, các khoản xuất kho vật tư, hàng hóa không được phản ánh vào các tài khoản HTK tương ứng mà cuối kỳ phải tiến hành kiểm kê thực tế của chúng để ghi vào các tài khoản HTK. Phương pháp này áp dụng ở những DN có nhiều chủng loại vật tư, hàng hóa với mẫu mã khác nhau, có giá trị thấp. Hạn chế của phương pháp này là thất thoát vật tư, hàng hóa do quản lý lỏng lẻo sẽ không bị phát hiện vì số lượng xuất dùng để ghi chép dựa trên kiểm kê tồn kho thực tế.
Vì vậy, để áp dụng phương pháp này, đòi hỏi phải tăng cường quản lý vật tư, hàng hóa tại kho, quầy, bến bãi. Như vậy, căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh và khả năng xử lý thông tin, đơn vị có thể sử dụng một trong hai phương pháp trên và phải tuân thủ nguyên tắc nhất quán. Dù vận dụng phương pháp nào đi nữa thì cuối kỳ cũng phải kiểm kê tồn kho thực tế. Kết quả kiểm kê trong phương pháp kiểm Luan van 12 kê định kỳ là cơ sở để tính giá trị hàng xuất kho; còn đối với phương pháp kê khai thường xuyên là cơ sở đối chiếu với số liệu số sách và xác định hàng thừa, thiếu (nếu có).
ĐO LƯỜNG HÀNG TỒN KHO 1. Xác định giá trị của HTK khi doanh nghiệp tiếp nhận HTK được tiếp nhận ở DN quan quá trình mua hàng sản xuất, chế biến; hoặc nhận được từ sự góp vốn của người chủ sở hữu. HTK tăng lên trong những trường hợp này được đo lường theo nguyên tắc giá gốc. Theo nguyên tắc này, giá gốc (hay còn gọi là giá thực tế) bao gồm toàn bộ các chi phí thực tế có liên quan đến hình thành HTK ở trạng thái sẵn sàng để bán hay chuẩn bị cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.