Tổng quan nghiên cứu

Khu vực ven biển Hải Phòng giữ vai trò đầu tàu kinh tế hàng hải tại miền Bắc, nơi tiếp nhận hơn 1.300 lượt tàu tải trọng lớn cập cảng mỗi năm. Tuy nhiên, hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình hàng năm đổ ra vùng ven biển khoảng 120 tỷ mét khối nước cùng 114 triệu tấn phù sa qua 9 cửa sông chính, gây ra hiện tượng bồi lắng nghiêm trọng tại các tuyến luồng hàng hải huyết mạch. Để giải quyết tình trạng quá tải tại cụm cảng sông truyền thống, dự án cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu giao thương quốc tế ngày càng gia tăng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá sự biến đổi trường thủy động lực học và quy luật vận chuyển bùn cát phức tạp tại vùng cửa sông Lạch Huyện. Mục tiêu cụ thể của luận văn là lượng hóa các đặc trưng thủy triều, dòng chảy, trường sóng và tính toán mức độ bồi xói luồng tàu dưới điều kiện tự nhiên cũng như sau khi bố trí công trình cảng biển. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại khu vực đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng, nằm ở tọa độ khoảng 20.1 độ Vĩ Bắc, với chuỗi số liệu quan trắc thủy văn và khí tượng được phân tích trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2011.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học định lượng giúp các nhà quản lý dự báo chính xác độ bồi lắng đáy luồng với mức độ biến thiên từ 1.0 mét đến 2.0 mét mỗi năm. Kết quả nghiên cứu góp phần trực tiếp vào việc tối ưu hóa phương án nạo vét duy tu luồng hàng hải ở cao trình thiết kế từ âm 7.0 mét đến âm 14.0 mét, giảm thiểu chi phí vận hành hàng chục tỷ đồng và đảm bảo sinh kế bền vững cho hơn 15.993 người dân tại 6 xã thuộc huyện Cát Hải.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thủy động lực học công trình biển và cơ học dòng bùn cát cửa sông hiện đại. Khung lý thuyết cốt lõi bao gồm hệ phương trình Navier-Stokes 3 chiều giải cho dòng chảy mặt thoáng với giả thiết thủy tĩnh, kết hợp phương trình bảo toàn khối lượng và phương trình liên tục trong hệ tọa độ cong trực giao phẳng và tọa độ sigma theo phương đứng. Quá trình rối được mô hình hóa bằng sơ đồ khép kín rối bậc 2.5 của Mellor và Yamada nhằm xác định chính xác hệ số nhớt rối và hệ số khuếch tán thẳng đứng.

Lý thuyết vận chuyển bùn cát tích hợp các mô hình tính toán xói mòn và lắng đọng của Krone, Partheniades và Van Rijn. Các khái niệm chính bao gồm: ứng suất cắt đáy tới hạn, nồng độ bùn cát lơ lửng, lưu lượng bùn cát di đáy và quá trình kết bông của hạt sét mịn khi độ mặn vượt ngưỡng 1 phần nghìn. Ngoài ra, lý thuyết về lớp đáy hoạt tính của Van Niekerk được ứng dụng để mô tả hiện tượng thô hóa bề mặt bùn cát dưới tác động của dòng chảy triều và sóng gió.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng bộ bình đồ địa hình vịnh Hải Phòng tỷ lệ 1/10.000 kết hợp số liệu quan trắc mực nước, dòng chảy và bùn cát tại 5 trạm thủy văn chính gồm Cửa Cấm, Do Nghi, Bến Bính, Cao Kênh và Hòn Dấu. Lưu lượng nước sông được phân tích theo hai mùa rõ rệt: mùa mưa có lưu lượng biến đổi từ 300 đến 2.200 mét khối mỗi giây, mùa khô giảm xuống chỉ còn khoảng 50 đến 300 mét khối mỗi giây.

Cỡ mẫu khảo sát địa chất bao gồm 24 mẫu trầm tích đáy được lấy dọc theo luồng Lạch Huyện và luồng Nam Triệu. Phương pháp chọn mẫu là lấy mẫu tầng mặt ngẫu nhiên phân tầng theo trắc dọc luồng từ Km 0 đến Km 42 nhằm xác định chính xác đường kính cấp phối hạt qua sàng. Phương pháp phân tích mô phỏng số trị 3 chiều trên bộ công cụ EFDC kết hợp tiền xử lý lưới cong phi cấu trúc Delft3D được lựa chọn vì khả năng mô phỏng chi tiết tương tác đa chiều giữa dòng chảy sông ngòi, nhật triều biên độ lớn và quá trình dịch chuyển phù sa dính. Quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình được thực hiện liên tục với bước thời gian tính toán tối ưu, đạt sai số mực nước và lưu tốc dưới 8% so với dữ liệu thực đo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích cấp phối hạt cho thấy sự khác biệt rõ rệt về thành phần trầm tích giữa các luồng tàu. Trầm tích tại cửa sông Nam Triệu chủ yếu là bùn sét dính với hơn 80% hàm lượng hạt có kích thước nhỏ hơn 63 micromet. Trong khi đó, luồng Lạch Huyện có thành phần thô hơn với đường kính hạt trung bình d50 dao động từ 0.01 mm đến 0.10 mm, và rất hiếm các hạt có đường kính vượt quá 250 micromet.

Thứ hai, chế độ thủy hải văn khu vực mang tính chất nhật triều thuần nhất với biên độ triều lớn từ 2.5 mét đến 4.0 mét. Thời gian triều rút luôn dài hơn thời gian triều dâng từ 1 giờ 05 phút tại cảng Hải Phòng đến 2 giờ 16 phút tại Hòn Dáu. Vận tốc dòng triều trong mùa mưa đạt cực đại từ 0.9 đến 1.3 mét mỗi giây, kéo theo nồng độ bùn cát lơ lửng tăng cao lên mức 0.35 đến 0.65 gam trên lít, gấp khoảng 2.8 lần so với mùa khô (chỉ dao động từ 0.10 đến 0.22 gam trên lít).

Thứ ba, dữ liệu quan trắc 5 năm sau nạo vét chỉ ra hiện tượng sa bồi diễn ra mạnh nhất trong năm đầu tiên, chiếm trên 45% tổng khối lượng bồi tích lũy. Khu vực sa bồi tập trung nghiêm trọng nhất nằm ở đoạn luồng ngoài từ Km 36 đến Km 42, nơi kết thúc của doi cát ven đảo Cát Hải.

Thứ tư, kết quả mô phỏng số trị sau 1 năm bố trí công trình cảng cho thấy sự thay đổi phân bố dòng chảy cục bộ. Tại các mặt cắt ngang đại diện, độ sâu luồng tàu bị bồi lắng từ 0.6 mét đến 1.4 mét ở những vùng góc khuất có vận tốc dòng chảy giảm dưới 0.3 mét mỗi giây, đồng thời xuất hiện hiện tượng xói lở chân luồng từ 0.3 mét đến 0.5 mét tại các vị trí dòng chảy bị thu hẹp cục bộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng sa bồi cục bộ tại đoạn luồng Km 36 đến Km 42 là do sự suy giảm đột ngột của năng lượng dòng chảy khi luồng tàu đi qua doi cát nhô ra biển, kết hợp với trường sóng hướng Đông Nam chiếm tần suất 18.33% và hướng Đông Bắc chiếm 12.70%. Khi dòng triều rút mang nồng độ phù sa lớn từ sông Bạch Đằng gặp vùng nước sâu ngoài khơi có độ dốc đáy biển 1/600, ứng suất cắt đáy giảm mạnh khiến các hạt bùn cát mịn nhanh chóng lắng đọng xuống đáy luồng.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thủy địa mạo cửa sông ven biển miền Bắc, khẳng định quy luật bồi lắng giảm dần theo thời gian sau khi lòng dẫn đạt trạng thái cân bằng động mới. Các diễn biến thủy động lực học và độ đục phù sa trong nghiên cứu có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ đường quá trình mực nước thực đo so với tính toán tại trạm Cửa Cấm và Do Nghi, cùng bảng tổng hợp khối lượng sa bồi trắc dọc đường tim luồng giúp đơn vị quản lý dễ dàng nhận diện các điểm xung yếu cần xử lý kỹ thuật.

Đề xuất và khuyến nghị

Để đảm bảo hiệu quả vận hành và an toàn hàng hải cho cảng Lạch Huyện, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể:

Thực hiện nạo vét duy tu định kỳ 12 tháng một lần tại cung đoạn trọng điểm từ Km 36 đến Km 42 nhằm duy trì ổn định chuẩn tắc độ sâu âm 14.0 mét cho luồng tàu, do Cục Hàng hải Việt Nam và Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc trực tiếp chỉ đạo thực hiện từ năm 2024.

Xây dựng hệ thống đê chắn sóng và đê chắn cát phía bờ Đông đảo Cát Hải với chiều dài dự kiến 2.5 km nhằm giảm 35% đến 40% khối lượng phù sa xâm nhập vào vũng quay tàu và tuyến luồng chính, giao Ban Quản lý Dự án Hàng hải triển khai thi công trong giai đoạn 2024 - 2027.

Lắp đặt mạng lưới trạm quan trắc hải văn và bùn cát tự động theo thời gian thực tại 5 vị trí xung yếu với chu kỳ thu thập dữ liệu 15 phút mỗi lần, giúp cảnh báo sớm nguy cơ bồi lấp sau các đợt bão có sức gió cấp 6 đến cấp 10 (từ 10.8 đến 28.4 mét mỗi giây), hoàn thành trong năm 2025 bởi Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng.

Ứng dụng mô hình số trị 3D EFDC để cập nhật dự báo bồi xói 6 tháng một lần dựa trên bình đồ đo sâu thực tế, nhằm tối ưu hóa 20% chi phí nạo vét hàng năm, do Doanh nghiệp khai thác cảng phối hợp cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành thực hiện thường xuyên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư thiết kế công trình thủy và cảng biển: Tiếp cận quy trình thiết lập mô hình toán 3D EFDC, phương pháp tạo lưới cong trực giao và thiết lập điều kiện biên hải văn thực tế để ứng dụng vào tính toán kết cấu bến cảng, đê chắn sóng.

Cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp khai thác cảng: Sử dụng bức tranh sa bồi định lượng và số liệu biến động đáy luồng để lập kế hoạch nạo vét duy tu, quản lý ngân sách hàng hải và phân luồng tàu thuyền an toàn.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Công trình biển, Thủy văn học: Sử dụng tài liệu như một nghiên cứu điển hình về phương pháp giải hệ phương trình Navier-Stokes và lý thuyết động lực học bùn cát cửa sông ven biển.

Chuyên gia quy hoạch và đánh giá tác động môi trường: Khai thác các dữ liệu về đặc trưng sinh thái bãi triều, chế độ dòng chảy và tác động kinh tế xã hội đối với cộng đồng 4.045 hộ dân tại huyện đảo Cát Hải để xây dựng báo cáo phát triển bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính gây bồi lấp luồng tàu Lạch Huyện là gì? Hiện tượng bồi lấp bắt nguồn từ lượng phù sa 114 triệu tấn mỗi năm của hệ thống sông Hồng đổ ra biển kết hợp với nhật triều biên độ lên tới 4.0 mét. Khi dòng chảy đi qua vùng nước sâu ngoài khơi, vận tốc giảm khiến bùn cát lắng đọng mạnh tại đoạn Km 36 đến Km 42.

Mô hình EFDC có ưu điểm gì trong tính toán thủy động lực học ven biển? Mô hình EFDC tích hợp giải đồng thời hệ phương trình thủy tĩnh 3 chiều và bài toán lan truyền bùn cát trên hệ tọa độ cong sigma. Điều này giúp mô tả chính xác ứng suất cắt đáy và dòng chảy phân tầng ở các cửa sông có hình học phức tạp.

Tại sao khối lượng sa bồi năm đầu tiên sau nạo vét lại cao nhất? Sau khi nạo vét sâu xuống âm 7.0 mét, lòng dẫn bị mất cân bằng địa mạo đột ngột khiến độ dốc đáy thay đổi. Dòng chảy triều và sóng nhanh chóng vận chuyển bùn cát lấp đầy các hố sâu, chiếm hơn 45% tổng lượng bồi tích lũy của 5 năm.

Đặc điểm cấp phối trầm tích đáy tại Lạch Huyện có gì khác biệt so với cửa Nam Triệu? Luồng Nam Triệu có hơn 80% là hạt sét mịn dưới 63 micromet do nằm sát cửa sông Cấm. Ngược lại, luồng Lạch Huyện có cỡ hạt thô hơn với đường kính hạt trung bình d50 từ 0.01 mm đến 0.10 mm nhờ sự hiện diện của các doi cát ven biển.

Dự án cảng Lạch Huyện ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của cư dân Cát Hải? Dự án tác động trực tiếp đến 15.993 người dân tại 6 xã ven biển vốn phụ thuộc vào nghề làm muối và đánh bắt thủy sản. Việc phát triển hạ tầng và cầu vượt biển Tân Vũ giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang dịch vụ cảng biển và du lịch.

Kết luận

Luận văn đã lượng hóa toàn diện đặc trưng thủy hải văn và trường dòng chảy nhật triều với biên độ từ 2.5 mét đến 4.0 mét tại khu vực cửa sông Lạch Huyện.

Ứng dụng thành công mô hình 3D EFDC để mô phỏng chính xác trường dòng chảy và quá trình vận chuyển bùn cát trong điều kiện tự nhiên theo hai mùa mưa và mùa khô.

Xác định được quy luật sa bồi cục bộ tại đoạn luồng Km 36 đến Km 42 với độ dày bồi lắng từ 0.6 mét đến 1.4 mét mỗi năm, làm rõ nguyên nhân do tương tác giữa doi cát và sóng biển.

Đánh giá định lượng tác động xói bồi của công trình cảng biển và đề xuất hệ thống giải pháp công trình đê chắn cát kết hợp quy trình nạo vét duy tu định kỳ hàng năm.

Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để triển khai các bước nghiên cứu tiếp theo trong giai đoạn 2025 - 2030, phục vụ công tác giám sát bùn cát bằng ảnh viễn thám và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao hiệu quả khai thác cảng biển nước sâu.