CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU Nội dung chương này trình bày một cách tổng quát về văn bia và văn bia Tạo lệ, tình hình nghiên cứu văn bia và văn bia Tạo lệ ở Việt Nam trong thời gian qua. Trên cơ sở đó định hướng nghiên cứu của đề tài nhằm giải quyết những vấn đề khoa học thuộc hệ thống văn bia Tạo lệ mà các đề tài nghiên cứu trước chưa từng đề cập đến. Khái quát chung về văn bia và văn bia Tạo lệ 1. Khái quát chung về văn bia Văn bia (碑文) là thuật ngữ dùng để chỉ một loại hình văn bản được khắc lại trên đá và có thời gian xuất hiện khá sớm trong lịch sử văn minh của một số nước phương Đông, tiêu biểu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam.
Văn bia ở Trung Quốc xuất hiện sớm từ thời nhà Tần và thời Hán. Theo như ý kiến của nhà nghiên cứu kim thạch Chu Kiếm Tâm 朱劍心 (Trung Quốc) trong cuốn Kim thạch học 金石 thì: “Sử kí, Tần Thủy Hoàng bản kỉ ghi việc Thủy Hoàng (221- 207 TCN) tuần du phương Đông, có 6 khắc đá: lên Trâu Dịch, lên Thái Sơn, lên Lang Nha, lên Chi Phù, lên Kiệt Thạch, lên Cối Kê, nhiều thuyết cho là khắc vào núi đá hoặc khắc vào tấm đá rồi dựng lên. Lại nói việc Nhị Thế (207- 136 TCN) tuần du các quận huyện phía đông đều có khắc lên tấm đá mà Thủy Hoàng đã dựng… cái tên khắc thạch bắt đầu từ đó” [192, 563]. Đó là về sự xuất hiện của văn bia ở Trung Quốc.
Ở Việt Nam, văn bia ra đời và phát triển muộn hơn ở Trung Quốc, Trịnh Khắc Mạnh trong quá trình nghiên cứu về văn bia Việt Nam đã nêu rõ: “Những nguyên tắc lập bia và những quy định về nội dung khi soạn bài văn, để khắc vào đá như Chu Kiếm Tâm nêu ra, chỉ có thể đúng với thời kì hình thành khai sáng ra thể loại văn bia mà thôi. Còn trên thực tế, trong quá trình phát triển, việc lập bia và soạn văn để khắc vào đá đã diễn ra hết sức phong phú, đa dạng. Có loại còn giữ được đến ngày nay, nhưng cũng có loại không được lưu truyền, điều này diễn ra không chỉ ở chính nơi có truyền thống sáng tạo văn bia, mà ở 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống này” [90, 22]. Mặc dù xuất hiện muộn nhưng văn bia Việt Nam cũng đã trải qua hơn 1.700 năm lịch sử và trở thành một di sản văn hóa đặc thù độc đáo của dân tộc.
Tấm bia có niên đại sớm nhất hiện nay tìm thấy là tấm bia đá có niên đại khoảng từ năm 314 đến năm 450 mới phát hiện năm 2013 tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh [93, 564]. Về phương thức thể hiện, đa phần văn bia được sử dụng bằng chữ Hán, một phần là bia chữ Nôm và có một số lượng nhỏ các văn bia sử dụng chữ Phạn, Khơme, Chăm, Pháp, Việt… tùy vào đặc trưng văn hóa vùng miền, diễn tiến lịch sử tạo nên sự phong phú cho thể loại văn bia Việt Nam. Văn bia Tạo lệ *Khái niệm Tạo lệ Tạo 皂 và lệ 隸 vốn là hai danh từ riêng biệt nhưng thống nhất về mặt ngữ nghĩa khi kết hợp. Theo đó, hai danh từ này cùng dùng để chỉ một khái niệm rất đặc thù về vị trí của một tầng lớp người trong xã hội cổ trung đại, có mối liên hệ với vấn đề đang được luận án nghiên cứu.
Vì thế chúng tôi thống nhất viết hoa danh từ Tạo lệ, để khu biệt với các vấn đề nghiên cứu khác. Các khái niệm về Tạo lệ được hiểu như sau: Từ điển Từ nguyên 辭源 định nghĩa về Tạo, Lệ và Tạo lệ như sau: “Tạo: Sai dịch, một vị trí trong xã hội thời cổ đại, dưới bậc sĩ, phục vụ cho việc lao dịch. sau này, người làm việc tạp dịch ở phủ quan thì được gọi là Tạo lệ”1. “Lệ, tức là nô lệ, người làm những công việc thấp kém.
người đời sau chuyên dùng để chỉ [chân] sai dịch ở nha môn”2. Tạo lệ “Tạo lệ tức là nô lệ. Sách Tả truyện, Tương công năm thứ 14: Các hạng thứ nhân với thợ nghề, nhà buôn, Tạo lệ với giám ngục đều có người giúp việc để cùng trợ giúp. Sau gọi những người làm sai dịch ở nha môn thời xưa là Tạo lệ.
Niên hiệu Hồng Vũ thứ 4 (1371) đời Minh qui định chế độ trang phục cho người đàn ông làm Tạo lệ được mặc đồ màu đen quấn vào người, đeo khăn đỉnh bằng, kết thừng trắng 1 Nguyên văn:皂,差役古代一種身份,在士以下,服勞役,. 後來官府之雜役,稱皂隸. 2 Nguyên văn: 隸奴隸供賤役的人. 後世特旨衙役 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com buộc vào và mang thẻ bài”1 [189, 2176].
Hán Việt từ điển giải thích: Tạo, tức là người đầy tớ, người hèn hạ. Lệ, tức là phụ thuộc, đầy tớ. Kết hợp lại có thể khái quát nghĩa đầy đủ của hai chữ Tạo lệ tức là chỉ người làm công việc phục dịch, đầy tớ [2, 236]. Các sử liệu Việt Nam viết về Tạo lệ, trước hết phải kể đến Lê Quí Đôn trong Kiến văn tiểu lục ở mục Chế độ bổng lộc có dẫn: “Sách Hoàng triều thông kỷ chép, thời đại Vĩnh Lạc2 triều thần đều cho những người Tạo và Lệ về nhà làm ruộng và bắt họ phải nộp bạc để thay thế cho củi đuốc rau cỏ.
Như vậy có thể thấy, Tạo lệ là từ mà người Trung Quốc cổ đại dùng để chỉ những người làm công việc phục dịch. Vào đời nhà Minh ở nước này, những người làm Tạo lệ đã có những qui định về trang phục và chức phận riêng. Một số chi tiết về việc ban cấp bổng lộc cho người làm công việc Tạo lệ cũng đã được Lê Quí Đôn nhắc đến trong phần này sẽ tiếp tục đề cập ở phần sau. Từ những ghi chép của Lê Quí Đôn bước đầu cho thấy, khái niệm Tạo lệ đã sớm được lưu hành trong xã hội Trung Quốc từ thời Xuân Thu.
Ở đó, Tạo lệ dùng để chỉ địa vị rất thấp trong các giai tầng xã hội, chuyên dùng để chỉ đội ngũ những người làm công việc phục dịch theo quy định của triều đình. Ở Việt Nam, mặc dù chưa biết rõ điển lệ Tạo lệ có từ bao giờ, nhưng về “dân Tạo lệ” đã xuất hiện từ thời Lý và được nhắc đến trong sách Đại Việt sử kí toàn thư: “Mậu Thân, Thiên Thuận năm thứ 1 [1128]… ngày Giáp Tuất, xuống chiếu cấm gia nô và Tạo lệ của các quan không được lấy con gái nông dân” [35, t. Sau đó, trải mấy trăm năm lịch sử, cũng trong Đại Việt sử kí toàn thư, hai chữ Tạo lệ được nhắc lại ở một sự việc khác: “Nhâm Dần, [Vĩnh Thọ] năm thứ 5 [1662] - Mùa hạ, tháng 5, sai Tham tụng Lễ bộ Thượng thư Kiêm Đông các Đại học sĩ Thiếu bảo Yên Quận công Phạm Công Trứ trông coi dân 1 Nguyên văn: 皂隸奴隸左傳襄公十四年 “庶人工商,皂隸牧囹皆有親暱以相輔佐也.後稱舊 時衙門的差役為皂隸.明洪武四年,規定皂隸公使人服制,穿皂盤,领彩,戴平頂巾,結白搭賻帶牌. 2 Vĩnh Lạc: niên hiệu Minh Thành Tổ (1403-1425) 3 Dương Sĩ Kỳ (1366-1444): người đất Thái Hòa nhà Minh, khoảng năm Vĩnh Lạc làm quan Tả xuân phường đại học sĩ.
Ông là một học giả nổi tiếng. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tạo lệ của Quốc tử giám để phục dịch” [35, t. Ở nước ta, sách Lê triều chiếu lịnh thiện chính (hay Quốc triều chiếu lệnh thiện chính) là một bộ Hội điển tiêu biểu được biên soạn công phu dưới thời Trịnh Căn, trong phần Hộ thuộc (thuộc về Hộ) có nhắc đến vấn đề liên quan tới ruộng Tạo lệ như sau: “Các người nào có được lịnh cấp cho ruộng công thần (các quan có công) ruộng các quan đi sứ, cùng là ruộng tế lễ của ông các quan có công trạng, ruộng tạo lệ đều theo như lịnh cũ mà vẫn cấp cho…”[42, 81]. Hay như trong mục Thể lệ về lễ nghi sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn cũng đã nhắc tới việc Tạo lệ: “.Từ năm Vĩnh Khánh1 trở đi, quan văn, quan võ, người có công lao và người ngoại thích, hoặc người vào chầu giảng nghĩa sách, người vào chầu giữ chức Tham tụng, Bồi tụng, hoặc người do quân công, người siêng năng công việc khi bao phong phúc thần đều được truy phong là đại vương, lập miếu thờ và cấp cho dân Tạo lệ.
Tham khảo một số bộ sử được biên soạn vào đời Nguyễn sau này như Lịch triều tạp kỷ cho thấy vào giai đoạn Lê Trung hưng thuật ngữ Tạo lệ được dùng khá nhiều trong các văn bản sắc chỉ, lệnh chỉ của vua Lê chúa Trịnh, ví dụ: “Quý Mão, năm [Bảo Thái] thứ 4 (1723), … mùng 6 tháng 2, Phủ liêu vâng mệnh bàn định, trong Thanh Hoa, Nghệ An và tứ trấn, phàm các dân xã đã lấy làm Tạo lệ, Thủ lệ, canh giữ kho vựa nhà nước… các dân Tạo lệ phục dịch bốn vị chí tôn. các dân Tạo lệ giữ lăng, điện, cung miếu, mỗi dân được trừ 200 suất. Sách Đại Nam thực lục, là bộ chính sử biên niên của triều Nguyễn cũng đã ghi chép việc vào những năm đầu triều Nguyễn, vua Gia Long vẫn tiến hành ban chiếu cấp cho dân Tạo lệ như sau: Năm Gia Long thứ 1 (1802): “Tháng 9, phong cho dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Hoán làm Diên Tự công… Chiếu rằng: “Vương giả dựng nước, suy tôn dòng dõi đời trước là giữ hậu đạo. Nhà Lê từ khi mở nước đến lúc trung hưng, đời đời nối nhau hơn 300 năm, trước sau 25 vua.
Quãng giữa tuy là không quyền những vẫn là vua chung cả nước. Kịp khi Tây Sơn nổi loạn, miếu thờ bỏ nát. Nay ta vâng đem uy trời, thống nhất bờ cõi, nghĩ tôn điển lễ để giữ thờ cúng cho họ Lê…Vậy đặc phong 1 Vĩnh Khánh: niên hiệu vua Lê Duy Phường (1729-1732). 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho ngươi làm Diên Tự công, cho thế tập tước vị, để vâng giữ việc thờ cúng ở miếu nhà Lê, cấp cho tự dân 1.016 người, tư điền 10.
Ngươi nên kính sửa lễ tiết, thờ cúng lâu đời để giữ phúc chung”. Các chi họ Lê đều được miễn binh dao và thân thuế” [34, 365]. Hay vào năm Gia Long thứ 8, trong sách này còn ghi lại: “Vua giao xuống cho bầy tôi bàn, mọi người đều cho rằng Văn miếu ở Kinh sư, Sĩ vương và Chu An chưa liệt vào hạng tòng tự. Ở thành nên lấy Kinh sư làm chuẩn.
Vua theo lời. Lại sai Lễ bộ xét lại điển thờ, thấy Sĩ vương và Chu An đều đã có đền thờ, cho dân sở tại giữ việc thờ cúng, tha dao dịch cho 61 người.