Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn bia tạo lệ Việt Nam của Vũ Thị Lan Anh tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu văn bia tạo lệ việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Hán Nôm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

214
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu khoa học

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.6. Cấu trúc của luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

2.1. Khái quát chung về văn bia và văn bia Tạo lệ

2.2. Tình hình nghiên cứu văn bia Việt Nam

2.2.1. Công trình biên mục, lược thuật văn bia

2.2.2. Công trình nghiên cứu, giới thiệu về văn bia

2.2.3. Công trình biên dịch, giới thiệu văn bia theo lịch đại

2.2.4. Công trình nghiên cứu, giới thiệu văn bia theo vùng miền

2.2.5. Công trình nghiên cứu văn bia theo chủ đề

2.3. Nghiên cứu liên quan về Tạo lệ và văn bia Tạo lệ Việt Nam

2.3.1. Nghiên cứu liên quan đến vấn đề Tạo lệ

2.3.2. Nghiên cứu về văn bia Tạo lệ Việt Nam

2.4. Một số nhận xét về những nghiên cứu liên quan đến đề tài và định hướng nghiên cứu của luận án

3. CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM VĂN BIA TẠO LỆ VIỆT NAM

3.1. Lược sử văn bia Tạo lệ Việt Nam

3.2. Thông tin văn bia ghi việc Tạo lệ thời Trần

3.3. Thông tin văn bia ghi việc Tạo lệ thời Lê Sơ - Mạc

3.4. Văn bia Tạo lệ thời Lê Trung hưng - Tây Sơn

3.5. Văn bia Tạo lệ thời Nguyễn

3.6. Sự phân bố văn bia Tạo lệ Việt Nam

3.6.1. Phân bố theo thời gian

3.6.2. Phân bố theo không gian

3.7. Đội ngũ tạo tác

3.7.1. Tác gia soạn văn bia

3.7.2. Người viết chữ, người khắc

3.8. Đặc điểm hình thức của văn bia Tạo lệ

3.8.1. Bố cục trang trí

3.8.2. Văn tự trên văn bia Tạo lệ

3.8.3. Đặc điểm và kết cấu văn bản văn bia Tạo lệ

3.9. Phân loại văn bia Tạo lệ Việt Nam

4. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ CỦA VĂN BIA TẠO LỆ TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ BAN CẤP TẠO LỆ THẾ KỶ XVII - XIX

4.1. Mục đích của việc ban cấp chế độ Tạo lệ

4.2. Ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng đối với người điều hành đất nước

4.3. Tín ngưỡng thờ cúng trong tâm linh cộng đồng người dân Việt Nam

4.4. Sự ra đời các văn bản hành chính về Tạo lệ và qui trình ban cấp, thực thi chế độ Tạo lệ

4.4.1. Sự ra đời của các văn bản hành chính về Tạo lệ

4.4.2. Qui trình của việc ban cấp và thực hiện chế độ Tạo lệ

4.4.3. Phân cấp quản lý thực hiện chế độ Tạo lệ

4.4.4. Vai trò của nhà nước đối với việc ban cấp Tạo lệ

4.4.5. Trách nhiệm của chính quyền địa phương

4.4.6. Những qui định về việc thờ cúng tại di tích đối với dân Tạo lệ

4.5. Kinh nghiệm rút ra từ việc ban cấp và thực thi chế độ Tạo lệ

4.6. Những ràng buộc và ảnh hưởng khi thụ hưởng chế độ Tạo lệ

4.7. Những hạn chế nảy sinh trong quá trình ban cấp Tạo lệ

5. CHƯƠNG 4: GIÁ TRỊ CỦA VĂN BIA TẠO LỆ TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XVII - XIX

5.1. Văn bia Tạo lệ phản ánh đời sống kinh tế - xã hội

5.2. Những lợi ích mà người dân được hưởng khi được làm dân Tạo lệ

5.3. Một số đặc quyền liên quan đến nông nghiệp

5.4. Văn bia Tạo lệ phản ánh đời sống văn hóa - xã hội

5.5. Các sinh hoạt văn hóa nhằm tôn vinh di tích

5.6. Sự gắn kết cộng đồng thông qua trách nhiệm chăm lo di tích

5.7. Thông tin về lịch sử di tích

5.8. Thông tin về hành trạng của người có công

5.9. Vai trò của phụ nữ đối với vấn đề ban cấp Tạo lệ

5.10. Vấn đề bảo tồn di tích từng được ban cấp Tạo lệ trong đời sống văn hóa đương đại

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: DANH MỤC THÁC BẢN VĂN BIA TẠO LỆ HIỆN LƯU TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

PHỤ LỤC 2: TUYỂN DỊCH MỘT SỐ VĂN BIA TẠO LỆ VIỆT NAM

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu văn bia tạo lệ Việt Nam luận án tiến sĩ

Nghiên cứu về văn bia tạo lệ Việt Nam trong luận án tiến sĩ là một lĩnh vực chuyên sâu, góp phần làm sáng tỏ giá trị lịch sử, văn hóa và pháp luật truyền thống của dân tộc. Văn bia tạo lệ là loại hình văn bia đặc thù ghi chép việc ban cấp chế độ Tạo lệ của triều đình quân chủ Việt Nam từ thế kỷ XVII đến XIX, phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước và cộng đồng dân cư trong việc quản lý và bảo tồn di tích lịch sử. Luận án tiến sĩ của Vũ Thị Lan Anh đã hệ thống hóa, phân tích hơn 90 đơn vị văn bia tạo lệ, cung cấp cái nhìn toàn diện về sự hình thành, phát triển và giá trị của thể loại văn bia này trong lịch sử Việt Nam. Việc nghiên cứu này không chỉ làm rõ vai trò của văn bia lịch sử Việt Nam mà còn góp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn di sản văn hóa Hán Nôm.

1.1. Khái quát chung về văn bia tạo lệ và vai trò trong lịch sử Việt Nam

Văn bia tạo lệ là loại văn bia ghi chép việc ban cấp chế độ Tạo lệ, một điển lệ thờ tự đặc biệt trong xã hội phong kiến Việt Nam. Loại văn bia này phản ánh sự quan tâm của triều đình đối với việc quản lý di tích và tín ngưỡng dân gian, đồng thời thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Văn bia tạo lệ có niên đại từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX, trải dài trên phạm vi 12 tỉnh từ trung du Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ, là nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu lịch sử, văn hóa và pháp luật truyền thống Việt Nam.

1.2. Tình hình nghiên cứu văn bia tạo lệ Việt Nam trong các luận án tiến sĩ

Mặc dù nghiên cứu văn bia nói chung đã được quan tâm, nhưng các công trình chuyên sâu về văn bia tạo lệ còn hạn chế. Luận án tiến sĩ của Vũ Thị Lan Anh là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về thể loại này, tổng hợp và phân tích các thác bản văn bia tạo lệ hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu giới thiệu, biên dịch hoặc khảo cứu từng văn bia riêng lẻ, chưa có cái nhìn tổng thể về sự phát triển và giá trị của văn bia tạo lệ trong lịch sử và xã hội Việt Nam.

II. Phân tích lịch sử phát triển và đặc điểm văn bia tạo lệ Việt Nam luận án tiến sĩ

Lịch sử phát triển của văn bia tạo lệ Việt Nam phản ánh quá trình hình thành và vận hành chế độ Tạo lệ từ thời Trần đến cuối triều Nguyễn. Văn bia tạo lệ xuất hiện sớm nhất vào đầu thế kỷ XVII, phát triển mạnh mẽ trong thời Lê Trung hưng và kết thúc vào cuối thế kỷ XIX. Đặc điểm phân bố văn bia theo thời gian và không gian cho thấy sự phổ biến của thể loại này tại các địa phương có di tích trọng điểm. Đội ngũ tạo tác, văn tự, hình thức và kết cấu văn bản văn bia tạo lệ cũng được nghiên cứu chi tiết, làm rõ nét đặc trưng của thể loại văn bia này trong hệ thống văn bia lịch sử Việt Nam.

2.1. Lược sử phát triển văn bia tạo lệ qua các triều đại Việt Nam

Văn bia tạo lệ bắt đầu xuất hiện từ thời Trần, ghi nhận việc ban cấp chế độ Tạo lệ cho các di tích quan trọng. Tuy nhiên, văn bia có niên đại sớm nhất còn lại là từ đầu thế kỷ XVII, thời Lê Trung hưng. Thời kỳ này, văn bia tạo lệ phát triển mạnh mẽ, ghi chép chi tiết các sắc chỉ, lệnh chỉ của triều đình ban cho dân địa phương làm dân Tạo lệ. Thời Tây Sơn và đầu triều Nguyễn, văn bia tạo lệ vẫn tồn tại nhưng với số lượng ít hơn, đánh dấu sự chuyển biến trong chính sách quản lý di tích và tín ngưỡng dân gian.

2.2. Đặc điểm phân bố và hình thức văn bia tạo lệ Việt Nam luận án tiến sĩ

Văn bia tạo lệ phân bố chủ yếu ở 12 tỉnh từ trung du Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ, với 90 đơn vị văn bia và 185 mặt thác bản hiện lưu trữ. Phân bố theo thời gian cho thấy văn bia tập trung nhiều nhất vào thế kỷ XVII và XVIII, đặc biệt trong thời Lê Trung hưng. Hình thức văn bia tạo lệ mang đặc trưng của văn bia thời kỳ này với bố cục trang trí, văn tự Hán Nôm, kết cấu văn bản rõ ràng, thể hiện tính pháp lý và tín ngưỡng. Đội ngũ tạo tác gồm tác gia soạn văn bia, người viết chữ và người khắc đá, góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật và lịch sử của văn bia.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp phân tích văn bia tạo lệ Việt Nam luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ sử dụng phương pháp nghiên cứu đa dạng và liên ngành để phân tích văn bia tạo lệ một cách toàn diện. Các phương pháp bao gồm văn bản học, phiên dịch học, định lượng, khảo sát điền dã và nghiên cứu liên ngành nhằm làm rõ nội dung, hình thức, giá trị lịch sử, văn hóa và pháp luật truyền thống của văn bia tạo lệ. Giải pháp nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa tư liệu, phân loại văn bia theo không gian, thời gian và loại hình di tích, đồng thời phân tích sâu sắc các giá trị nội dung và vai trò của chế độ ban cấp Tạo lệ trong đời sống xã hội Việt Nam thời trung đại.

3.1. Phương pháp văn bản học và phiên dịch học trong nghiên cứu văn bia tạo lệ

Phương pháp văn bản học giúp khảo sát, làm rõ thực trạng các thác bản văn bia tạo lệ viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, xác định các văn bản thiện bản làm cơ sở nghiên cứu. Phương pháp phiên dịch học được áp dụng để biên dịch, giải nghĩa các văn bia, giúp thấu hiểu nội dung và minh giải sâu sắc các thông điệp lịch sử, văn hóa và pháp luật truyền thống được ghi chép trên bia đá.

3.2. Phương pháp định lượng và nghiên cứu liên ngành trong luận án tiến sĩ

Phương pháp định lượng bao gồm thống kê, phân loại các thác bản văn bia tạo lệ theo không gian, thời gian và loại hình di tích, từ đó nêu lên đặc trưng văn bản và sự phát triển của thể loại này. Nghiên cứu liên ngành kết hợp kiến thức lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội và tôn giáo để làm rõ vai trò của chế độ ban cấp Tạo lệ và ảnh hưởng của văn bia tạo lệ đối với các bình diện xã hội Việt Nam thời trung đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu văn bia tạo lệ Việt Nam luận án tiến sĩ

Kết quả nghiên cứu văn bia tạo lệ cung cấp tư liệu quý giá cho công tác quản lý di tích lịch sử, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam. Văn bia tạo lệ phản ánh rõ nét chế độ ban cấp Tạo lệ của nhà nước phong kiến, vai trò của cộng đồng dân cư trong việc chăm sóc di tích, cũng như các đặc quyền và nghĩa vụ của dân Tạo lệ. Nghiên cứu này góp phần nâng cao nhận thức về giá trị di sản Hán Nôm, hỗ trợ các nhà quản lý văn hóa trong việc xây dựng chính sách bảo tồn di tích phù hợp với thực tiễn đương đại.

4.1. Giá trị văn bia tạo lệ trong nghiên cứu chế độ ban cấp Tạo lệ thế kỷ XVII XIX

Văn bia tạo lệ ghi chép chi tiết về mục đích, quy trình ban cấp và thực thi chế độ Tạo lệ, phân cấp quản lý từ trung ương đến địa phương. Qua đó, thể hiện vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ di tích và tín ngưỡng thờ cúng, đồng thời phản ánh trách nhiệm của chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong việc duy trì và phát huy giá trị di tích.

4.2. Ảnh hưởng của văn bia tạo lệ đến kinh tế văn hóa xã hội Việt Nam thế kỷ XVII XIX

Văn bia tạo lệ phản ánh đời sống kinh tế - xã hội của dân Tạo lệ, bao gồm các đặc quyền về ruộng đất, miễn thuế, và các quyền lợi liên quan đến nông nghiệp. Ngoài ra, văn bia còn ghi lại các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, sự gắn kết cộng đồng qua trách nhiệm chăm lo di tích, vai trò của phụ nữ và các nhân vật có công trong xã hội. Những thông tin này giúp hiểu rõ hơn về đời sống tinh thần và vật chất của người dân thời trung đại.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu văn bia tạo lệ Việt Nam luận án tiến sĩ

Nghiên cứu văn bia tạo lệ Việt Nam trong luận án tiến sĩ đã làm rõ sự hình thành, phát triển và giá trị nội dung của thể loại văn bia đặc thù này trong lịch sử và văn hóa Việt Nam. Văn bia tạo lệ không chỉ là nguồn tư liệu lịch sử quan trọng mà còn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nhà nước và cộng đồng trong việc quản lý di tích và tín ngưỡng truyền thống. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai cần mở rộng phạm vi khảo sát, khai thác thêm tư liệu chưa được công bố, đồng thời ứng dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành để làm sâu sắc hơn giá trị của văn bia tạo lệ trong bối cảnh hiện đại.

5.1. Tổng kết giá trị nghiên cứu và đóng góp của luận án tiến sĩ văn bia tạo lệ

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích hơn 90 đơn vị văn bia tạo lệ, cung cấp cái nhìn toàn diện về lịch sử, hình thức và giá trị của thể loại văn bia này. Nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của chế độ ban cấp Tạo lệ trong quản lý di tích và đời sống xã hội Việt Nam thời trung đại, đồng thời bổ sung vào kho tàng nghiên cứu Hán Nôm và bi ký học Việt Nam.

5.2. Hướng nghiên cứu và bảo tồn văn bia tạo lệ trong tương lai

Cần tiếp tục khảo sát, sưu tầm và công bố các văn bia tạo lệ chưa được biết đến, đặc biệt ở các vùng chưa có tư liệu. Việc ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn và phổ biến văn bia tạo lệ sẽ giúp nâng cao giá trị nghiên cứu và giáo dục. Đồng thời, nghiên cứu liên ngành kết hợp lịch sử, văn hóa, pháp luật và xã hội học sẽ mở rộng hiểu biết về vai trò của văn bia tạo lệ trong đời sống đương đại và phát triển du lịch văn hóa.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU Nội dung chương này trình bày một cách tổng quát về văn bia và văn bia Tạo lệ, tình hình nghiên cứu văn bia và văn bia Tạo lệ ở Việt Nam trong thời gian qua. Trên cơ sở đó định hướng nghiên cứu của đề tài nhằm giải quyết những vấn đề khoa học thuộc hệ thống văn bia Tạo lệ mà các đề tài nghiên cứu trước chưa từng đề cập đến. Khái quát chung về văn bia và văn bia Tạo lệ 1. Khái quát chung về văn bia Văn bia (碑文) là thuật ngữ dùng để chỉ một loại hình văn bản được khắc lại trên đá và có thời gian xuất hiện khá sớm trong lịch sử văn minh của một số nước phương Đông, tiêu biểu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam.

Văn bia ở Trung Quốc xuất hiện sớm từ thời nhà Tần và thời Hán. Theo như ý kiến của nhà nghiên cứu kim thạch Chu Kiếm Tâm 朱劍心 (Trung Quốc) trong cuốn Kim thạch học 金石 thì: “Sử kí, Tần Thủy Hoàng bản kỉ ghi việc Thủy Hoàng (221- 207 TCN) tuần du phương Đông, có 6 khắc đá: lên Trâu Dịch, lên Thái Sơn, lên Lang Nha, lên Chi Phù, lên Kiệt Thạch, lên Cối Kê, nhiều thuyết cho là khắc vào núi đá hoặc khắc vào tấm đá rồi dựng lên. Lại nói việc Nhị Thế (207- 136 TCN) tuần du các quận huyện phía đông đều có khắc lên tấm đá mà Thủy Hoàng đã dựng… cái tên khắc thạch bắt đầu từ đó” [192, 563]. Đó là về sự xuất hiện của văn bia ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam, văn bia ra đời và phát triển muộn hơn ở Trung Quốc, Trịnh Khắc Mạnh trong quá trình nghiên cứu về văn bia Việt Nam đã nêu rõ: “Những nguyên tắc lập bia và những quy định về nội dung khi soạn bài văn, để khắc vào đá như Chu Kiếm Tâm nêu ra, chỉ có thể đúng với thời kì hình thành khai sáng ra thể loại văn bia mà thôi. Còn trên thực tế, trong quá trình phát triển, việc lập bia và soạn văn để khắc vào đá đã diễn ra hết sức phong phú, đa dạng. Có loại còn giữ được đến ngày nay, nhưng cũng có loại không được lưu truyền, điều này diễn ra không chỉ ở chính nơi có truyền thống sáng tạo văn bia, mà ở 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống này” [90, 22]. Mặc dù xuất hiện muộn nhưng văn bia Việt Nam cũng đã trải qua hơn 1.700 năm lịch sử và trở thành một di sản văn hóa đặc thù độc đáo của dân tộc.

Tấm bia có niên đại sớm nhất hiện nay tìm thấy là tấm bia đá có niên đại khoảng từ năm 314 đến năm 450 mới phát hiện năm 2013 tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh [93, 564]. Về phương thức thể hiện, đa phần văn bia được sử dụng bằng chữ Hán, một phần là bia chữ Nôm và có một số lượng nhỏ các văn bia sử dụng chữ Phạn, Khơme, Chăm, Pháp, Việt… tùy vào đặc trưng văn hóa vùng miền, diễn tiến lịch sử tạo nên sự phong phú cho thể loại văn bia Việt Nam. Văn bia Tạo lệ *Khái niệm Tạo lệ Tạo 皂 và lệ 隸 vốn là hai danh từ riêng biệt nhưng thống nhất về mặt ngữ nghĩa khi kết hợp. Theo đó, hai danh từ này cùng dùng để chỉ một khái niệm rất đặc thù về vị trí của một tầng lớp người trong xã hội cổ trung đại, có mối liên hệ với vấn đề đang được luận án nghiên cứu.

Vì thế chúng tôi thống nhất viết hoa danh từ Tạo lệ, để khu biệt với các vấn đề nghiên cứu khác. Các khái niệm về Tạo lệ được hiểu như sau: Từ điển Từ nguyên 辭源 định nghĩa về Tạo, Lệ và Tạo lệ như sau: “Tạo: Sai dịch, một vị trí trong xã hội thời cổ đại, dưới bậc sĩ, phục vụ cho việc lao dịch. sau này, người làm việc tạp dịch ở phủ quan thì được gọi là Tạo lệ”1. “Lệ, tức là nô lệ, người làm những công việc thấp kém.

người đời sau chuyên dùng để chỉ [chân] sai dịch ở nha môn”2. Tạo lệ “Tạo lệ tức là nô lệ. Sách Tả truyện, Tương công năm thứ 14: Các hạng thứ nhân với thợ nghề, nhà buôn, Tạo lệ với giám ngục đều có người giúp việc để cùng trợ giúp. Sau gọi những người làm sai dịch ở nha môn thời xưa là Tạo lệ.

Niên hiệu Hồng Vũ thứ 4 (1371) đời Minh qui định chế độ trang phục cho người đàn ông làm Tạo lệ được mặc đồ màu đen quấn vào người, đeo khăn đỉnh bằng, kết thừng trắng 1 Nguyên văn:皂,差役古代一種身份,在士以下,服勞役,. 後來官府之雜役,稱皂隸. 2 Nguyên văn: 隸奴隸供賤役的人. 後世特旨衙役 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com buộc vào và mang thẻ bài”1 [189, 2176].

Hán Việt từ điển giải thích: Tạo, tức là người đầy tớ, người hèn hạ. Lệ, tức là phụ thuộc, đầy tớ. Kết hợp lại có thể khái quát nghĩa đầy đủ của hai chữ Tạo lệ tức là chỉ người làm công việc phục dịch, đầy tớ [2, 236]. Các sử liệu Việt Nam viết về Tạo lệ, trước hết phải kể đến Lê Quí Đôn trong Kiến văn tiểu lục ở mục Chế độ bổng lộc có dẫn: “Sách Hoàng triều thông kỷ chép, thời đại Vĩnh Lạc2 triều thần đều cho những người Tạo và Lệ về nhà làm ruộng và bắt họ phải nộp bạc để thay thế cho củi đuốc rau cỏ.

Như vậy có thể thấy, Tạo lệ là từ mà người Trung Quốc cổ đại dùng để chỉ những người làm công việc phục dịch. Vào đời nhà Minh ở nước này, những người làm Tạo lệ đã có những qui định về trang phục và chức phận riêng. Một số chi tiết về việc ban cấp bổng lộc cho người làm công việc Tạo lệ cũng đã được Lê Quí Đôn nhắc đến trong phần này sẽ tiếp tục đề cập ở phần sau. Từ những ghi chép của Lê Quí Đôn bước đầu cho thấy, khái niệm Tạo lệ đã sớm được lưu hành trong xã hội Trung Quốc từ thời Xuân Thu.

Ở đó, Tạo lệ dùng để chỉ địa vị rất thấp trong các giai tầng xã hội, chuyên dùng để chỉ đội ngũ những người làm công việc phục dịch theo quy định của triều đình. Ở Việt Nam, mặc dù chưa biết rõ điển lệ Tạo lệ có từ bao giờ, nhưng về “dân Tạo lệ” đã xuất hiện từ thời Lý và được nhắc đến trong sách Đại Việt sử kí toàn thư: “Mậu Thân, Thiên Thuận năm thứ 1 [1128]… ngày Giáp Tuất, xuống chiếu cấm gia nô và Tạo lệ của các quan không được lấy con gái nông dân” [35, t. Sau đó, trải mấy trăm năm lịch sử, cũng trong Đại Việt sử kí toàn thư, hai chữ Tạo lệ được nhắc lại ở một sự việc khác: “Nhâm Dần, [Vĩnh Thọ] năm thứ 5 [1662] - Mùa hạ, tháng 5, sai Tham tụng Lễ bộ Thượng thư Kiêm Đông các Đại học sĩ Thiếu bảo Yên Quận công Phạm Công Trứ trông coi dân 1 Nguyên văn: 皂隸奴隸左傳襄公十四年 “庶人工商,皂隸牧囹皆有親暱以相輔佐也.後稱舊 時衙門的差役為皂隸.明洪武四年,規定皂隸公使人服制,穿皂盤,领彩,戴平頂巾,結白搭賻帶牌. 2 Vĩnh Lạc: niên hiệu Minh Thành Tổ (1403-1425) 3 Dương Sĩ Kỳ (1366-1444): người đất Thái Hòa nhà Minh, khoảng năm Vĩnh Lạc làm quan Tả xuân phường đại học sĩ.

Ông là một học giả nổi tiếng. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tạo lệ của Quốc tử giám để phục dịch” [35, t. Ở nước ta, sách Lê triều chiếu lịnh thiện chính (hay Quốc triều chiếu lệnh thiện chính) là một bộ Hội điển tiêu biểu được biên soạn công phu dưới thời Trịnh Căn, trong phần Hộ thuộc (thuộc về Hộ) có nhắc đến vấn đề liên quan tới ruộng Tạo lệ như sau: “Các người nào có được lịnh cấp cho ruộng công thần (các quan có công) ruộng các quan đi sứ, cùng là ruộng tế lễ của ông các quan có công trạng, ruộng tạo lệ đều theo như lịnh cũ mà vẫn cấp cho…”[42, 81]. Hay như trong mục Thể lệ về lễ nghi sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn cũng đã nhắc tới việc Tạo lệ: “.Từ năm Vĩnh Khánh1 trở đi, quan văn, quan võ, người có công lao và người ngoại thích, hoặc người vào chầu giảng nghĩa sách, người vào chầu giữ chức Tham tụng, Bồi tụng, hoặc người do quân công, người siêng năng công việc khi bao phong phúc thần đều được truy phong là đại vương, lập miếu thờ và cấp cho dân Tạo lệ.

Tham khảo một số bộ sử được biên soạn vào đời Nguyễn sau này như Lịch triều tạp kỷ cho thấy vào giai đoạn Lê Trung hưng thuật ngữ Tạo lệ được dùng khá nhiều trong các văn bản sắc chỉ, lệnh chỉ của vua Lê chúa Trịnh, ví dụ: “Quý Mão, năm [Bảo Thái] thứ 4 (1723), … mùng 6 tháng 2, Phủ liêu vâng mệnh bàn định, trong Thanh Hoa, Nghệ An và tứ trấn, phàm các dân xã đã lấy làm Tạo lệ, Thủ lệ, canh giữ kho vựa nhà nước… các dân Tạo lệ phục dịch bốn vị chí tôn. các dân Tạo lệ giữ lăng, điện, cung miếu, mỗi dân được trừ 200 suất. Sách Đại Nam thực lục, là bộ chính sử biên niên của triều Nguyễn cũng đã ghi chép việc vào những năm đầu triều Nguyễn, vua Gia Long vẫn tiến hành ban chiếu cấp cho dân Tạo lệ như sau: Năm Gia Long thứ 1 (1802): “Tháng 9, phong cho dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Hoán làm Diên Tự công… Chiếu rằng: “Vương giả dựng nước, suy tôn dòng dõi đời trước là giữ hậu đạo. Nhà Lê từ khi mở nước đến lúc trung hưng, đời đời nối nhau hơn 300 năm, trước sau 25 vua.

Quãng giữa tuy là không quyền những vẫn là vua chung cả nước. Kịp khi Tây Sơn nổi loạn, miếu thờ bỏ nát. Nay ta vâng đem uy trời, thống nhất bờ cõi, nghĩ tôn điển lễ để giữ thờ cúng cho họ Lê…Vậy đặc phong 1 Vĩnh Khánh: niên hiệu vua Lê Duy Phường (1729-1732). 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho ngươi làm Diên Tự công, cho thế tập tước vị, để vâng giữ việc thờ cúng ở miếu nhà Lê, cấp cho tự dân 1.016 người, tư điền 10.

Ngươi nên kính sửa lễ tiết, thờ cúng lâu đời để giữ phúc chung”. Các chi họ Lê đều được miễn binh dao và thân thuế” [34, 365]. Hay vào năm Gia Long thứ 8, trong sách này còn ghi lại: “Vua giao xuống cho bầy tôi bàn, mọi người đều cho rằng Văn miếu ở Kinh sư, Sĩ vương và Chu An chưa liệt vào hạng tòng tự. Ở thành nên lấy Kinh sư làm chuẩn.

Vua theo lời. Lại sai Lễ bộ xét lại điển thờ, thấy Sĩ vương và Chu An đều đã có đền thờ, cho dân sở tại giữ việc thờ cúng, tha dao dịch cho 61 người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ