Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TUỒNG VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Cho đến hiện nay, TH thần tiên là văn bản Tuồng Nôm duy nhất, đầu tiên viết về nhân vật lịch sử Trần Hƣng Đạo trong nghệ thuật sân khấu và là một trong những tác phẩm Tuồng tiên phong viết về nhân vật lịch sử Việt Nam đã đƣợc nhiều học giả quan tâm, tìm hiểu về nó. Vì vậy, ở chƣơng này tập trung giới thiệu một số nội dung chính về nguồn gốc, khái niệm, sự phát triển của nghệ thuật Tuồng và những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án trên cơ sở tiếp thu, kế thừa thành quả của ngƣời đi trƣớc để phát triển luận án. Một số vấn đề về Tuồng 1. Nguồn gốc và khái niệm về Tuồng, kịch bản Tuồng Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu sân khấu đi tìm hiểu về nguồn gốc của nghệ thuật Tuồng, nhƣng vẫn chƣa thống nhất về sự xuất hiện của Tuồng.
Có ý kiến dựa vào sự kiện Lý Nguyên Cát cho rằng Tuồng đƣợc du nhập từ Trung Quốc, nhƣ: Đoàn Nồng khẳng định trong sách Hát bội (1942), Đạm Phƣơng Nữ sử (Lƣợc khảo về Tuồng hát An Nam), Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lƣợc), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957) v.v… Các công trình Hội thoại về nghệ thuật Tuồng (1987) của Phạm Phú Tiết, Tuồng hài (1972) của Lê Ngọc Cầu, Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX (1997) của Nguyễn Lộc đã căn cứ vào những bộ sử, sách về phong tục, văn hoá Việt Nam để khẳng định nghệ thuật Tuồng đƣợc hình thành trên cơ sở xã hội và văn hoá Việt Nam. Ý kiến này đồng nhất với Trần Đức Vƣợng và Đinh Xuân Lâm cho rằng phải đặt Tuồng và Chèo vào một ngành nghệ thuật chung vì có những nét tƣơng tự về mặt biểu diễn, nhƣng Tuồng khác Chèo về lối vẽ mặt và nguồn gốc có lẽ từ những điệu nhảy múa thời nguyên thủy: “Trong khi đó, theo tập truyền, điệu múa Xuân phả (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa) với những ngƣời hóa trang, đeo mặt nạ kỳ dị, vừa làm động tác Chèo đò vừa hát lên những bài “man rợ”, đã xuất hiện từ thời Đinh Tiên Hoàng lập quốc. Theo Việt sử lƣợc, thời Lý Thái Tông (1028- 1054), một số điệu hát của Tuồng có ảnh hƣởng từ Chiêm Thành. Hoàng Châu Ký (Sơ thảo lịch sử nghệ thuật Tuồng, 1973) khẳng định, thời Lê Sơ cũng chỉ là bộ phận tiền thân của Tuồng chứ chƣa phải nghệ thuật Tuồng.
Thời Lê Thánh Tông (1460-1497) nghệ thuật ca múa nhạc phát triển đến trình độ khá cao cả nội dung nghệ thuật đến cách trình diễn; trò diễn phát triển rầm rộ cả ngoài dân gian lẫn chốn kinh đô và cung đình, nhƣ “trò Trang vƣơng sinh sáu ngƣời con có nội dung cốt truyện phong phú dài hơi, có kịch tính, mâu thuẫn và tính cách. 9 Những nhận định này dựa vào các nguồn sử liệu, nhƣng ý kiến cho rằng nghệ thuật Tuồng phát sinh từ những điệu ca múa dân gian thì chƣa xác đáng, bởi lẽ ở các thời Đinh, Lê, Lý chỉ là các hoạt động diễn xƣớng dân gian bắt đầu từ trò Tàng câu, chƣa có nhân vật xuất hiện. Theo chúng tôi, nghệ thuật Tuồng đƣợc hình thành trên cơ sở ca múa dân gian từ thời Lý. Trong quá trình phát triển, chịu sự tác động của sự kiện Lý Nguyên Cát, nghệ thuật Tuồng chịu ảnh hƣởng của ca múa nhạc Chiêm Thành và nghệ thuật hý khúc Trung Hoa.
Đời Trần, nghệ thuật Tuồng mới bắt đầu có nhân vật cụ thể theo cốt truyện (Dƣơng Khƣơng đóng vai Vƣơng mẫu trong tích Tây Vƣơng mẫu hiến bàn đào), hình thức trình diễn sân khấu, biểu diễn trong cung đình đƣợc hình thành. Đến thời nhà Nguyễn (1802- 1945), Tuồng hoàn thiện và phát triển phồn thịnh cả về mặt nội dung lẫn hình thức, dần dần xuất hiện các đội Tuồng của các vua, quan, các gánh hát biểu diễn chuyên nghiệp ở nhiều địa phƣơng gần kinh kỳ và các đô thị lớn. Về khái niệm Tuồng (hay còn gọi là Hát bội, Hát bộ) là một khái niệm dùng để chỉ một loại nghệ thuật sân khấu truyền thống của Việt Nam. Trƣớc kia, Tuồng là tên gọi của ngƣời miền Bắc, Hát bội (hay Hát bộ) là tên gọi của ngƣời miền Trung, miền Nam.
Có giả thuyết cho rằng Hát bội xuất phát từ chữ “Phƣờng Chèo bội”, trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ chép: “Tiếng hát bi ai nghe rất cảm động, tục gọi là phƣờng Chèo bội”[181, tr. Tuy nhiên ý kiến này chƣa thực sự thuyết phục, bởi lẽ chữ “倍 bội” có nghĩa là tăng lên nhiều lần, nó không liên quan nhiều đến hát xƣớng. Phạm Phú Tiết (2009), trong công trình Chầu đôi - Hội thoại về vấn đề lịch sử sân khấu hát bội cho rằng các danh từ “linh nhân 伶人, linh công 伶公 đều có nghĩa là ngƣời hát, ngƣời diễn viên”[175, tr.22], “Bài ƣu 排優 đây là gốc tích của danh từ hát bội. Bài ƣu cũng nhƣ ƣu xƣớng 優唱 đều có nghĩa là ngƣời hát.
hai âm “bài” và “bồi” phát âm gần nhƣ nhau, và ở Huế kiêng húy tên Nguyễn Hữu Bài đọc là Nguyễn Hữu Bồi”[175, tr. Danh từ “tuồng” đến cuối thế kỷ XIX xuất hiện trong Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, ở đây từ hát bội là “con hát, kẻ làm nghề ca hát”, Hát nam là “hát giọng ngâm nga” và hát khách là “hát giọng mạnh mẽ”. Còn theo từ điển Hán Việt giải thích từ bài ƣu 排優, có nghĩa là Tuồng hoạt kê, tạp hí. Trong công trình Hát Bội (Thé âtre traditionnel VietNam, 1970), Từ điển nghệ thuật hát bội Việt Nam của Nguyễn Lộc (chủ biên, 1998), từ Hát bội ở đây gắn với từ “Hát bội miền Nam, Hát bội miền Trung” để chỉ về một kịch chủng truyền thống của Việt Nam.
Từ những cứ liệu trên, thấy rằng chữ bài 排 ở đây đọc theo âm Nôm là bài, bày, có nghĩa có bày đặt, sắp xếp và từ này đƣợc Hoàng Cao Khải sử dụng trong TH thần tiên để ghi phần “Bày diễn tích 排演迹” (sắp đặt diễn theo tích) ở đầu văn bản. Do đó, 10 có thể bắt nguồn từ bày 排 này, âm địa phƣơng đọc chệch thành “bồi”, “bội” và danh từ Hát bội bắt nguồn từ đó. Danh từ Hát bội dùng để chỉ một kịch chủng truyền thống của Việt Nam và dùng phổ biến ở miền Nam, vì cả nƣớc hiện nay có bảy đơn vị nghệ thuật biểu diễn kịch chủng truyền thống này, thì chỉ có thành phố Hồ Chí Minh lấy tên là “Nhà hát nghệ thuật hát bội thành phố Hồ Chí Minh”. Còn về từ Hát bộ, chữ bộ 步 có nghĩa là bƣớc, chỉ về nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu của Hát bội.
Vì năm 1918, khi vở cải lƣơng Bùi Kiệm Nguyệt Nga của Trƣơng Duy Toản ra đời trên sân khấu Sài Gòn đã đánh dấu sự xuất hiện của nghệ thuật cải lƣơng. Khán giả Sài Gòn thấy Hát bội vừa hát, vừa múa và ra bộ, đánh võ trên sân khấu, nên ngƣời ta dùng danh từ Hát bộ để phân biệt Tuồng với cải lƣơng. Nhƣng danh từ Hát bộ này không đƣợc dùng phổ biến và hiện nay nó chỉ còn tồn tại trong các tƣ liệu trƣớc kia. Về chữ Tuồng: Chữ tuồng xuất hiện trong thơ Nôm của đại thi hào Nguyễn Trãi, nhƣ: “Tuồng ni cóc đƣợc bề hơn thiệt, chƣa dễ bằng ai đắn với đo”.
Từ ngữ cảnh trong câu thơ này thì từ “Tuồng” ở đây có nghĩa là vẻ, có vẻ, bộ tịch. Hay chữ “嘥 Tuồng” có nghĩa là bọn trong câu thơ “Ra Tuồng trên bộc trong dâu, Thì con ngƣời ấy ai cầu làm chi” (Truyện Kiều của Nguyễn Du). Từ Tuồng (從)đƣợc tác giả J. Génibrel liệt vào mục danh từ trong J.
Génibrel (Saigon 1898) Từ điển Annam – Pháp (Dictinonnaire Annamite – Françaises) và giải thích nghĩa thứ nhất là: Làm tuồng, tuồng cách, tuồng phết, tuồng đồ và nghĩa thứ hai là: làm tuồng, vai tuồng, ra tuồng, làm trò làm tuồng, tấn tuồng, tuồng hát, nói tuồng[227, tr. Nhƣng Nguyễn Thị Oanh cho rằng, “tuồng” theo Toàn thƣ cũng nhƣ các bộ môn nghệ thuật tạp kỹ cổ điển khác xuất hiện từ thời nhà Trần, năm Đại Trị thứ 5 (1370), chữ Hán viết là “cổ truyện hý”古傳戲, ngƣời dịch Toàn thƣ dịch từ này là “tuồng”, nhƣng chƣa có căn cứ [61, tr. Lúc này, các từ điển song ngữ Hán Việt vẫn chƣa xuất hiện mục từ “tuồng” với nghĩa là loại hình sân khấu truyền thống. Đến cuốn Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895), Tuồng mới đƣợc chính thức đƣợc đƣa vào biên soạn thành mục từ, viết bằng chữ Hán “tùng”從 (chữ Nôm đọc là “tuồng”) với nghĩa là “Cách thể bộ tịch, khuôn rập sự tích cũ làm ra chuyện ca hát”.
Ở mục tuồng còn có các từ nhƣ “tuồng cách”, “tuồng phết”, “tuồng tập”; “vai tuồng”, “làm tuồng”, “đánh dấu tuồng”, “ra tuồng”. Ngƣời đầu tiên viết “kịch bản tuồng” cũng theo Toàn thƣ là Lý Nguyên Cát, “Nguyên Cát sáng tác các vở tuồng cổ truyện có các tích nhƣ Tây vƣơng Mẫu hiến bàn đào…[61, tr. Từ “tuồng” còn đƣợc Dƣơng Quảng Hàm đề cập trong Việt Nam văn học sử yếu: “Chữ tuồng có ngƣời cho là bởi chữ 11 tƣợng 象 mà ra, vậy tuồng là hình dung, dáng dấp, cử chỉ của ngƣời đời xƣa. Lối Tuồng thƣờng diễn những sự tích oanh liệt hoặc sầu thảm, lời lẽ trang nghiêm hùng hồn dễ làm cho ngƣời xem cảm động”[44, tr.
Nhƣ vậy, ý kiến này trùng với Toàn thƣ là từ “tuồng” tức là tích chuyện. Phạm Phú Tiết trong Chầu Đôi - Hội thoại về vấn đề lịch sử sân khấu hát bội cho rằng ngôn ngữ Việt Nam có chữ “tuồng” với ý nghĩa là hình dung sự vật diễn lại trƣớc mắt ta. Chúng tôi tán đồng ý kiến của Dƣơng Quảng Hàm, Phạm Phú Tiết, vì chữ tuồng đã đƣợc Huỳnh Tịnh Paulus Của liệt vào mục từ trong từ điển Đại Nam quấc âm tự vị và nó tồn tại từ lâu trong ngôn ngữ. Tiêu biểu là vào năm 1920 - 1923, chữ “Tuồng” này đƣợc dùng phổ biến để chỉ các tác phẩm sân khấu, tiêu biểu là Phạm Quỳnh đã dịch hai tác phẩm kịch nói Le Cid và Horace của tác giả Pierre Corneille (Pháp) sang chữ Quốc ngữ ghi là “Tuồng Lôi Xích: Tuồng dịch ra chữ Quốc ngữ” (số 38, 39) và “Tuồng Hòa lạc: Tuồng Pháp dịch ra chữ Quốc ngữ” (số 73, 74, 75, năm 1923) đăng trên Nam Phong tạp chí.