Tổng quan luận án
Công nghệ lưu trữ từ tính mật độ cao yêu cầu các hệ vật liệu mới có năng lượng dị hướng từ tinh thể lớn, kết hợp với hiệu ứng từ trở khổng lồ và công nghệ ghi dữ liệu theo phương vuông góc. Kể từ những năm 1990, mật độ ghi từ của ổ đĩa cứng tăng liên tục hàng năm và dần tiếp cận giới hạn vật lý đối với các vật liệu ghi từ thông thường vào đầu những năm 2000. Để vượt qua giới hạn siêu thuận từ, thu nhỏ kích thước các bit ghi xuống cấp độ nanomet và tiểu hình hóa các linh kiện điện tử, các hạt nano từ cứng trên cơ sở kim loại chuyển tiếp như FePt, CoPt và FePd trở thành đối tượng nghiên cứu quan trọng. Các hợp kim này sở hữu độ ổn định hóa học cao cùng dị hướng từ tinh thể đơn trục rất lớn khi ở pha trật tự tứ giác tâm mặt ($L1_0$). Cụ thể, hằng số dị hướng từ tinh thể $K_u$ đạt $6{,}6 - 10 \times 10^7\text{ erg/cm}^3$ đối với FePt, $4{,}9 \times 10^7\text{ erg/cm}^3$ đối với CoPt, và $1{,}8 \times 10^7\text{ erg/cm}^3$ đối với FePd. Ngoài lĩnh vực lưu trữ dữ liệu mật độ siêu cao, các hệ vật liệu này còn có tiềm năng ứng dụng trong chế tạo nam châm vĩnh cửu nanocomposite và y-sinh học (như làm chất tương phản trong chụp cộng hưởng từ hạt nhân).
Khoảng trống nghiên cứu chính được đặt ra là nhiệt độ chuyển pha từ cấu trúc bất trật tự sang pha trật tự $L1_0$ của các hệ vật liệu này thường khá cao (trong khoảng $500^\circ\text{C} - 650^\circ\text{C}$ hoặc cao hơn), gây khó khăn cho quá trình chế tạo và kiểm soát kích thước hạt ở thang nano do hiện tượng thiêu kết. Đồng thời, việc khảo sát quy trình tổng hợp hạt nano bằng các phương pháp hỗ trợ sóng siêu âm (như điện hóa siêu âm và hóa khử kết hợp siêu âm) và vai trò của quá trình chuyển pha cấu trúc đối với tính chất từ ở dải nhiệt độ rộng cần được làm sáng tỏ một cách hệ thống.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:
- Nghiên cứu chế tạo hệ vật liệu FePd sử dụng phương pháp điện hóa siêu âm và thử nghiệm chế tạo hệ vật liệu CoPt sử dụng phương pháp hóa khử kết hợp siêu âm.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo mẫu lên tính chất cấu trúc, và đánh giá vai trò của chuyển pha cấu trúc trong tính chất từ của vật liệu FePd và CoPt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hạt nano hợp kim FePd với các tỷ phần thành phần hóa học $Fe_xPd_{100-x}$ ($x = 42, 50, 55, 60, 63$) và hạt nano hợp kim CoPt với các tỷ phần $Co_xPt_{100-x}$ ($x = 50, 59, 73$).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các thực nghiệm chế tạo và phân tích được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (Trung tâm Khoa học Vật liệu, Khoa Vật lý, Trung tâm Nano và Năng lượng) cùng một số phép đo chuyên sâu tại các phòng thí nghiệm quốc tế.
- Điều kiện thực nghiệm: Khảo sát các thông số chế tạo (nồng độ tiền chất, xung dòng điện, xung siêu âm, cường độ siêu âm), chế độ xử lý nhiệt sau chế tạo (ủ đẳng nhiệt trong khoảng nhiệt độ từ $450^\circ\text{C}$ đến $700^\circ\text{C}$ với thời gian ủ 1 giờ), và đo đạc tính chất từ trong dải nhiệt độ từ $2\text{ K}$ đến $300\text{ K}$ dưới từ trường lên đến $50\text{ kOe}$ hoặc $70\text{ kOe}$.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu trước đây về hạt nano và màng mỏng hợp kim trật tự $L1_0$ đã được tác giả tổng hợp có hệ thống:
- Hệ vật liệu FePt: Sun và cộng sự (2000, 2001) đã sử dụng phương pháp hóa khử để chế tạo hạt nano FePt riêng rẽ; mẫu hạt $\text{Fe}{56}\text{Pt}{44}$ sau khi ủ nhiệt ở các nhiệt độ $500^\circ\text{C}$, $550^\circ\text{C}$ và $580^\circ\text{C}$ đạt các giá trị lực kháng từ $H_c$ tương ứng là $330\text{ Oe}$, $3200\text{ Oe}$ và $9000\text{ Oe}$. Hạt nano FePt kích thước $9\text{ nm}$ đã được chứng minh có tiềm năng làm chất tương phản trong kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hạt nhân. Nguyễn Thị Thanh Vân và Nguyễn Hoàng Lương đã chế tạo hạt nano FePt bằng phương pháp hóa siêu âm và điện hóa siêu âm, đạt lực kháng từ ở nhiệt độ phòng tương ứng là $4{,}36\text{ kOe}$ và $9\text{ kOe}$.
- Hệ vật liệu FePd: Các phương pháp bốc bay chùm phân tử tạo hạt nano FePd $10\text{ nm}$ đạt lực kháng từ $0{,}6\text{ kOe}$ ($49%\text{ Pd}$, ủ $773\text{ K}/1\text{h}$), $1{,}2\text{ kOe}$ ($58%\text{ Pd}$, ủ $773\text{ K}/1\text{h}$), và $3{,}3\text{ kOe}$ ($58%\text{ Pd}$, ủ $873\text{ K}/1\text{h}$). Phương pháp khử Super-hydride tạo hạt $\text{Fe}{54}\text{Pd}{46}$ kích thước $2 - 10\text{ nm}$ cho $H_c$ đạt cực đại $3{,}5\text{ kOe}$ khi ủ tại $550^\circ\text{C}/1\text{h}$. Phương pháp Polyol tạo hạt nano kích thước $3 - 8\text{ nm}$ đạt $H_c$ từ $1{,}18\text{ kOe}$ đến $2{,}04\text{ kOe}$. Phương pháp hóa siêu âm tạo hạt nano FePd đạt $H_c = 2{,}1\text{ kOe}$ ở $300\text{ K}$ và $2{,}43\text{ kOe}$ ở $2\text{ K}$ khi ủ tại $550^\circ\text{C}$.
- Hệ vật liệu CoPt: Alloyeau và cộng sự chế tạo hạt CoPt kích thước $2 - 4{,}8\text{ nm}$ bằng xung laser, ghi nhận nhiệt độ chuyển pha trật tự - bất trật tự giảm xuống $175^\circ\text{C} - 325^\circ\text{C}$ đối với hạt kích thước $2{,}4 - 3\text{ nm}$. Shen và cộng sự dùng phương pháp hóa khử nhiệt độ cao chế tạo hạt CoPt $2{,}2\text{ nm}$, thu được $H_c = 1{,}25\text{ kOe}$ sau khi ủ $700^\circ\text{C}/2\text{h}$. Komogortsev và cộng sự chế tạo hạt CoPt $3 - 4\text{ nm}$ bằng phân hủy nhiệt, thu được $H_c$ là $1{,}59\text{ kOe}$ và $3{,}3\text{ kOe}$ tại $275\text{ K}$ khi ủ tại $400^\circ\text{C}$ lần lượt trong $4\text{ giờ}$ và $16\text{ giờ}$. Nguyễn Hoàng Lương và cộng sự đã chế tạo hạt nano CoPt bằng phương pháp điện hóa siêu âm.
Bảng so sánh tính chất từ nội tại của FePd và CoPt với các vật liệu từ cứng khác được tác giả tổng hợp như sau:
| Vật liệu |
$K_1$ ($10^7\text{ erg/cm}^3$) |
$M_s$ ($\text{emu/cm}^3$) |
$H_A$ ($\text{kOe}$) |
$T_C$ ($\text{K}$) |
| FePd |
1,8 |
1100 |
33 |
760 |
| CoPt |
4,9 |
800 |
123 |
840 |
| FePt |
6,6 |
1140 |
116 |
750 |
| MnAl |
1,7 |
560 |
69 |
650 |
| Nd2Fe14B |
4,6 |
1270 |
73 |
585 |
| SmCo5 |
11 - 20 |
910 |
240 - 440 |
1000 |
Khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết:
Thiết lập quy trình công nghệ chế tạo hạt nano FePd bằng phương pháp điện hóa siêu âm và CoPt bằng phương pháp hóa khử kết hợp siêu âm; đánh giá chi tiết sự phụ thuộc của cấu trúc pha, thông số mạng, mức độ méo mạng tứ giác và tính chất từ ($M_s, H_c, K_{eff}$) vào thành phần hóa học, nhiệt độ ủ ($450^\circ\text{C} - 700^\circ\text{C}$) và nhiệt độ đo ($2\text{ K} - 300\text{ K}$).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Cấu trúc tinh thể và chuyển pha bất trật tự - trật tự: Hệ Fe-Pd và Co-Pt ở trạng thái nhiệt độ cao hoặc chưa xử lý nhiệt tồn tại ở pha bất trật tự $A1$ với cấu trúc lập phương tâm mặt (fcc), trong đó các nguyên tử kim loại phân bố ngẫu nhiên tại các nút mạng. Khi được xử lý nhiệt ở nhiệt độ thích hợp dưới nhiệt độ tới hạn $T_{th}$, quá trình khuếch tán và trật tự hóa diễn ra, các nguyên tử sắp xếp xen kẽ trên các mặt phẳng nguyên tử kế tiếp nhau dọc theo trục $c$, tạo thành pha trật tự $\gamma_1-L1_0$ có cấu trúc tứ giác tâm mặt (fct).
- Méo mạng tứ giác và thông số trật tự: Do sự khác biệt về bán kính nguyên tử giữa Fe ($r_{Fe} = 1{,}56\text{ \AA}$) và Pd ($r_{Pd} = 1{,}69\text{ \AA}$), mạng tinh thể bị co rút dọc theo trục $c$, dẫn đến tỷ số hằng số mạng $c/a < 1$ (ví dụ: ở FePd, pha $L1_0$ có $a = 3{,}852\text{ \AA}, c = 3{,}723\text{ \AA}, c/a = 0{,}967$; trong khi pha $A1$ có $a = 3{,}80\text{ \AA}$). Mức độ trật tự xa được định lượng qua thông số trật tự $S$ ($S = 0$ khi bất trật tự hoàn toàn và $S = 1$ khi trật tự lý tưởng).
- Năng lượng dị hướng từ tinh thể đơn trục: Năng lượng dị hướng từ tinh thể có nguồn gốc từ tương tác spin - quỹ đạo và tương tác trường tinh thể. Đối với tinh thể có một trục dễ từ hóa duy nhất dọc theo trục $c$, mật độ năng lượng dị hướng được mô tả theo công thức:
$$E_a = K_1 \sin^2\theta + K_2 \sin^4\theta + \dots$$
trong đó $\theta$ là góc giữa véctơ từ hóa và trục dễ từ hóa, $K_i$ là các hằng số dị hướng từ tinh thể bậc $i$.
- Vi cấu trúc và cơ chế ghim vách đômen: Quá trình chuyển pha hình thành các cấu trúc trung gian như cấu trúc tương phản nhám ("tweed contrast"), cấu trúc song tinh ("polytwinned" gồm microtwins và macrotwins) và các biên phản pha (antiphase boundaries - APBs). Các biên phản pha đóng vai trò là tâm ghim ngăn cản sự dịch chuyển của vách đômen từ, làm tăng mạnh lực kháng từ $H_c$.
- Hiệu ứng xâm thực sóng siêu âm: Sóng siêu âm truyền qua môi trường chất lỏng tạo ra các chu kỳ nén và giãn nở áp suất âm. Khi áp suất âm vượt quá sức căng bề mặt cục bộ, các lỗ hổng bọt khí hình thành, phát triển qua cơ chế khuếch tán chỉnh lưu đến kích thước cộng hưởng (khoảng $170\text{ }\mu\text{m}$ ở tần số $20\text{ kHz}$), sau đó suy sụp nhanh chóng. Quá trình này tạo ra các "điểm nóng" (hot spots) với nhiệt độ cục bộ lên tới xấp xỉ $5000^\circ\text{C}$, áp suất khoảng $2000\text{ atm}$, tốc độ thay đổi nhiệt độ đạt $10^{10}\text{ K/s}$ và thời gian sống dưới $1\text{ ms}$.
Áp suất tại điểm nóng theo bán kính bọt khí tại tần số siêu âm $f = 20\text{ kHz}$ và cường độ $I = 10{,}06\text{ W/cm}^2$:
| Bán kính bọt khí $R_r$ ($\text{mm}$) |
Áp suất tại điểm nóng $P_{dn}$ ($\text{atm}$) |
| 0,05 |
29888,96 |
| 0,10 |
8120,34 |
| 0,20 |
2206,34 |
| 0,30 |
1029,40 |
| 0,40 |
599,37 |
| 0,50 |
349,01 |
Phương pháp thực nghiệm và thiết bị phân tích
- Phương pháp chế tạo:
- Điện hóa siêu âm: Sử dụng nguồn một chiều, cực dương (anot) là tấm Platin, cực âm (catôt) là còi siêu âm làm bằng hợp kim Titan (Ti:Al:V tỷ lệ 90:6:4). Chu trình gồm xung dòng điện lắng đọng mầm kim loại ($T_{on}$), nối tiếp bởi xung siêu âm cường độ cao làm bật hạt nano khỏi bề mặt điện cực ($T_{us}$), và thời gian nghỉ phục hồi trạng thái điện cực ($T_{off}$).
- Hóa khử kết hợp siêu âm: Sử dụng tác nhân khử hóa học kết hợp tác dụng cơ học và nhiệt động học của sóng siêu âm trong dung dịch.
- Kỹ thuật phân tích cấu trúc và hình thái:
- Phổ tán sắc năng lượng tia X (EDS): Xác định tỷ lệ phần trăm nguyên tử các nguyên tố Fe, Pd, Co, Pt trong mẫu.
- Nhiễu xạ tia X (XRD): Xác định cấu trúc tinh thể, pha tinh thể, sự tách đỉnh $(200)/(002)$, xuất hiện các đỉnh siêu mạng $(001), (110)$, và tính toán hằng số mạng $a, c$ cùng tỷ số $c/a$.
- Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) và phân giải cao (HRTEM): Quan sát hình thái vi cấu trúc, phân bố kích thước hạt nano, khoảng cách mặt mạng và cấu trúc biên phản pha.
- Kỹ thuật đo đạc tính chất từ:
- Từ kế mẫu rung (VSM): Khảo sát đường cong từ trễ $M(H)$, xác định từ độ bão hòa $M_s$, độ từ dư $M_r$, lực kháng từ $H_c$ ở nhiệt độ phòng ($300\text{ K}$).
- Giao thoa kế lượng tử siêu dẫn (SQUID): Đo đạc đường cong từ trễ và đường cong từ hóa ban đầu ở nhiệt độ thấp ($2\text{ K}, 50\text{ K}, 150\text{ K}, 300\text{ K}$) với từ trường ngoài lớn; làm khớp đường cong từ hóa ban đầu để xác định hằng số dị hướng từ hiệu dụng $K_{eff}$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hai hệ hợp kim Fe-Pd và Co-Pt. Tác giả phân tích chi tiết giản đồ pha cân bằng:
- Hệ Fe-Pd tồn tại các pha: pha lỏng $L$ ($> 1310^\circ\text{C}$); pha $\delta\text{-Fe}$ (bcc, $1394^\circ\text{C} - 1538^\circ\text{C}$, $0 - 3{,}7%\text{ Pd}$); pha $\alpha\text{-Fe}$ (bcc, sắt từ, $< 912^\circ\text{C}$, $0 - 3{,}5%\text{ Pd}$); pha $\gamma\text{-FePd}$ (cấu trúc $A1$ fcc, thuận từ, tồn tại đến $\sim 800^\circ\text{C}$); pha trật tự $\gamma_1\text{-L1}_0$ (fct, sắt từ, $48{,}5 - 60%\text{ Pd}$, nhiệt độ chuyển pha $605^\circ\text{C} - 790^\circ\text{C}$); và pha trật tự $\gamma_2\text{-L1}_2$ (fcc, $62 - 85%\text{ Pd}$).
- Hệ Co-Pt tồn tại các pha: pha lỏng $L$ ($1495^\circ\text{C} - 1773^\circ\text{C}$); pha $\gamma\text{-CoPt}$ (cấu trúc $A1$ fcc, $825^\circ\text{C} - 1495^\circ\text{C}$); pha trật tự $\gamma_1\text{-L1}_0\text{ CoPt}$ (fct, $< 825^\circ\text{C}$, $42 - 68%\text{ Pt}$); và pha trật tự $\gamma_2\text{-L1}_2\text{ CoPt}_3$ (fcc, $< 760^\circ\text{C}$, $68 - 85%\text{ Pt}$).
Thông số cấu trúc pha trật tự và bất trật tự của hệ Co-Pt được tổng hợp trong bảng:
| Hợp chất |
Trạng thái bất trật tự |
Trạng thái trật tự: Cấu trúc |
$a$ ($\text{\AA}$) |
$c$ ($\text{\AA}$) |
$c/a$ |
| CoPt |
Lập phương tâm mặt ($A1$) |
Tứ giác tâm mặt ($L1_0$) |
3,821 |
3,703 |
< 1 |
| CoPt3 |
Lập phương tâm mặt ($A1$) |
Lập phương tâm mặt ($L1_2$) |
3,890 |
3,890 |
1 |
Chương này cũng trình bày phép đo nhiệt lượng quét vi sai (DSC) xác định enthalpy chuyển pha $A1 \to L1_0$ của Fe-Pt là $(-10{,}2 \pm 2{,}1)\text{ kJ/nguyên tử gam}$ (năng lượng hoạt hóa $1{,}7 \pm 0{,}1\text{ eV}$) và của Co-Pt là $(-3{,}1 \pm 0{,}2)\text{ kJ/nguyên tử gam}$ ($2{,}8 \pm 0{,}2\text{ eV}$), cho thấy FePt chuyển pha ở nhiệt độ thấp hơn CoPt khoảng $120^\circ\text{C}$. Đồng thời, chương 1 phân tích nguyên lý hóa siêu âm và cơ chế xâm thực tạo các điểm nóng nhiệt độ - áp suất cao.
Chương 2: Thực nghiệm
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chế tạo và phương pháp đo đạc:
- Quy trình điện hóa siêu âm chế tạo FePd: Dung dịch phản ứng chứa hỗn hợp muối sắt axetat $\text{Fe}(\text{C}_2\text{H}_3\text{O}_2)_2$, palađi axetat $\text{Pd}(\text{C}_2\text{H}_3\text{O}_2)_2$ và chất điện ly $\text{Na}_2\text{SO}_4$. Sử dụng còi siêu âm titan làm catôt kết hợp tấm Platin làm anot trong bình phản ứng ba cổ. Sau điện hóa, hạt nano được rửa sạch, sấy khô và bảo quản.
- Quy trình hóa khử kết hợp siêu âm chế tạo CoPt: Tổng hợp từ dung dịch tiền chất chứa muối của Co và Pt, kết hợp tác nhân khử hóa học dưới tác động của còi rung siêu âm công suất cao.
- Xử lý nhiệt: Các mẫu bột hạt nano sau chế tạo được ủ đẳng nhiệt trong môi trường bảo vệ ở các dải nhiệt độ $450^\circ\text{C}, 500^\circ\text{C}, 550^\circ\text{C}, 600^\circ\text{C}, 650^\circ\text{C}, 700^\circ\text{C}$ trong thời gian 1 giờ nhằm kích hoạt quá trình chuyển pha $A1 \to L1_0$.
- Thiết lập hệ thống đo: Chi tiết cấu hình các thiết bị EDS, XRD, kính hiển vi điện tử truyền qua TEM/HRTEM, từ kế mẫu rung VSM và từ kế giao thoa kế lượng tử siêu dẫn SQUID.
Chương 3: Cấu trúc và tính chất từ của hạt nano FePd chế tạo bằng phương pháp điện hóa siêu âm
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm trên hệ hạt nano $\text{Fe}x\text{Pd}{100-x}$:
- Thành phần và hình thái: Phổ EDS xác định chính xác 5 tỷ phần thành phần gồm $\text{Fe}{42}\text{Pd}{58}$, $\text{Fe}{50}\text{Pd}{50}$, $\text{Fe}{55}\text{Pd}{45}$, $\text{Fe}{60}\text{Pd}{40}$ và $\text{Fe}{63}\text{Pd}{37}$. Ảnh TEM của mẫu $\text{Fe}{60}\text{Pd}{40}$ ngay sau khi chế tạo cho thấy các hạt có dạng hình cầu, kích thước phân bố trong khoảng $5 - 10\text{ nm}$. Khi ủ tại $600^\circ\text{C}/1\text{h}$, kích thước hạt tăng lên do quá trình phát triển nhiệt.
- Cấu trúc tinh thể và chuyển pha: Giản đồ XRD của các mẫu chưa ủ thể hiện cấu trúc lập phương tâm mặt $A1$ bất trật tự. Khi nhiệt độ ủ tăng từ $450^\circ\text{C}$ đến $700^\circ\text{C}$, xuất hiện sự tách đỉnh của cặp vân nhiễu xạ $(200)/(002)$ và xuất hiện các đỉnh siêu mạng $(001), (110)$, chứng minh sự hình thành pha trật tự $L1_0$. Hằng số mạng $a$ tăng trong khi hằng số mạng $c$ giảm, dẫn đến tỷ số $c/a$ giảm xuống dưới 1 (đạt mức méo mạng tứ giác mạnh nhất ở nhiệt độ ủ quanh $550^\circ\text{C} - 600^\circ\text{C}$). Phân tích tỷ lệ pha trên mẫu $\text{Fe}{55}\text{Pd}{45}$ cho thấy tỷ phần pha $L1_0$ tăng dần theo nhiệt độ ủ.
- Tính chất từ ở nhiệt độ phòng (300 K): Các mẫu chưa ủ có lực kháng từ rất nhỏ, thể hiện tính chất từ mềm. Khi nhiệt độ ủ tăng, $H_c$ tăng mạnh và đạt giá trị cực đại khi ủ tại $550^\circ\text{C} - 600^\circ\text{C}$ (mẫu $\text{Fe}{60}\text{Pd}{40}$ ủ tại $600^\circ\text{C}$ đạt lực kháng từ cao nhất trong hệ), sau đó suy giảm ở $700^\circ\text{C}$ do sự phát triển kích thước hạt và tái phân bố pha. Từ độ bão hòa $M_s$ và độ từ dư $M_r$ cũng biến thiên đồng thời theo sự gia tăng của tỷ phần pha $L1_0$.
- Tính chất từ ở nhiệt độ thấp (2 K - 300 K): Đo đạc bằng SQUID trên mẫu $\text{Fe}{60}\text{Pd}{40}$ tại các mốc nhiệt độ $2\text{ K}, 50\text{ K}, 150\text{ K}, 300\text{ K}$ cho thấy lực kháng từ tăng mạnh khi nhiệt độ đo giảm về $2\text{ K}$. Làm khớp đường cong từ hóa ban đầu theo phương pháp lý thuyết cho phép xác định hằng số dị hướng từ hiệu dụng $K_{eff}$ tại $300\text{ K}$ và $2\text{ K}$, khẳng định sự đóng góp vượt trội của năng lượng dị hướng tinh thể pha $L1_0$ ở nhiệt độ thấp.
Chương 4: Cấu trúc và tính chất từ của hạt nano CoPt chế tạo bằng phương pháp hoá khử kết hợp siêu âm
Chương 4 khảo sát hệ mẫu hạt nano $\text{Co}x\text{Pt}{100-x}$:
- Thành phần và hình thái: Phổ EDS xác định ba nhóm tỷ phần thành phần: $\text{Co}{50}\text{Pt}{50}$, $\text{Co}{59}\text{Pt}{41}$ và $\text{Co}{73}\text{Pt}{27}$. Ảnh TEM và biểu đồ phân bố kích thước hạt cho thấy các mẫu chưa ủ có kích thước hạt mịn và tương đối đồng đều ($2 - 5\text{ nm}$). Sau khi ủ nhiệt tại $500^\circ\text{C}$ trong 1 giờ, kích thước hạt trung bình tăng nhẹ nhưng vẫn duy trì cấu trúc nano phân tán.
- Phân tích cấu trúc: Giản đồ XRD của cả ba hệ mẫu theo nhiệt độ ủ ($450^\circ\text{C} - 700^\circ\text{C}$) ghi nhận sự chuyển biến cấu trúc từ fcc ($A1$) sang fct ($L1_0$). Đồ thị hằng số mạng $a, c$ và tỷ số $c/a$ theo nhiệt độ ủ của các mẫu $\text{Co}{50}\text{Pt}{50}$, $\text{Co}{59}\text{Pt}{41}$ và $\text{Co}{73}\text{Pt}{27}$ cho thấy tỷ số $c/a$ giảm rõ rệt ở nhiệt độ ủ từ $500^\circ\text{C}$ trở lên, tương ứng với sự hình thành pha trật tự $L1_0$.
- Tính chất từ:
- Ở nhiệt độ phòng ($300\text{ K}$), đường cong từ trễ cho thấy $H_c$ và $M_s$ phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ ủ và tỷ lệ Co:Pt. Mẫu $\text{Co}{50}\text{Pt}{50}$ có sự gia tăng lực kháng từ mạnh nhất sau khi ủ nhiệt.
- Đo đạc ở nhiệt độ thấp ($2\text{ K} - 300\text{ K}$) bằng SQUID trên mẫu $\text{Co}{50}\text{Pt}{50}$ ghi nhận lực kháng từ $H_c$, từ độ bão hòa $M_s$ và độ từ dư $M_r$ tăng đơn điệu khi hạ nhiệt độ đo. Đường cong từ hóa ban đầu tại $300\text{ K}$ và $2\text{ K}$ được làm khớp để xác định giá trị hằng số dị hướng từ hiệu dụng $K_{eff}$ tại các mốc nhiệt độ này.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và công nghệ
- Phương pháp chế tạo: Luận án đã áp dụng phương pháp điện hóa siêu âm để chế tạo hạt nano FePd và phương pháp hóa khử kết hợp siêu âm để chế tạo hạt nano CoPt. Việc sử dụng sóng siêu âm cường độ cao giúp tạo ra môi trường phản ứng xâm thực với các điểm nóng vi mô, hỗ trợ quá trình tạo mầm và phân tán hạt nano kim loại chuyển tiếp.
- Quy luật chuyển pha cấu trúc: Luận án đã làm rõ sự biến đổi cấu trúc tinh thể từ pha bất trật tự $A1$ (fcc) sang pha trật tự $L1_0$ (fct) theo thành phần hóa học và nhiệt độ ủ ($450^\circ\text{C} - 700^\circ\text{C}$). Xác định được sự thay đổi của hằng số mạng $a, c$, tỷ số $c/a < 1$, và sự xuất hiện của các đỉnh siêu mạng $(001), (110)$ trên giản đồ nhiễu xạ tia X.
- Mối quan hệ giữa cấu trúc và tính chất từ: Luận án đã chứng minh thực nghiệm vai trò quyết định của pha trật tự $L1_0$ đối với tính chất từ cứng. Lực kháng từ $H_c$ tăng tương ứng với sự gia tăng tỷ phần pha $L1_0$ và mức độ méo mạng tứ giác; các biên phản pha (APBs) hình thành trong quá trình trật tự hóa đóng vai trò là các tâm ghim vách đômen từ.
- Bộ dữ liệu từ tính nhiệt độ thấp: Luận án cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm về các thông số từ tính ($M_s, M_r, H_c$) và xác định hằng số dị hướng từ hiệu dụng $K_{eff}$ của hai hệ hạt nano FePd và CoPt trong dải nhiệt độ từ $2\text{ K}$ đến $300\text{ K}$.
Kiến nghị và định hướng ứng dụng
- Kết quả nghiên cứu về quy trình công nghệ và cơ chế chuyển pha có thể sử dụng làm cơ sở định hướng cho việc phát triển các vật liệu ghi từ mật độ siêu cao và tiểu hình hóa các linh kiện từ tính.
- Cần tiếp tục nghiên cứu các giải pháp công nghệ nhằm hạ thấp hơn nữa nhiệt độ chuyển pha trật tự hóa $L1_0$ và hạn chế sự kết tụ kích thước hạt nano khi xử lý nhiệt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu được trình bày trong luận án:
- Hạn chế:
- Quá trình xử lý nhiệt ở nhiệt độ cao ($500^\circ\text{C} - 700^\circ\text{C}$) để kích hoạt chuyển pha $L1_0$ dẫn đến sự phát triển kích thước hạt và hiện tượng kết tụ hạt nano.
- Phạm vi khảo sát thành phần tập trung vào các tỷ phần rời rạc ($Fe_xPd_{100-x}$ với $x = 42, 50, 55, 60, 63$ và $Co_xPt_{100-x}$ với $x = 50, 59, 73$) trong điều kiện thời gian ủ cố định 1 giờ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu bổ sung các chất hoạt hóa bề mặt hoặc lớp đệm vô cơ chịu nhiệt để ngăn chặn sự kết tụ của hạt nano trong quá trình ủ nhiệt độ cao.
- Khảo sát sâu hơn ảnh hưởng của thời gian ủ và tốc độ làm nguội đến cấu trúc vi mô và tỷ phần pha trật tự $L1_0$.
- Thử nghiệm chế tạo màng hạt nano tự tổ chức hoặc nanocomposite định hướng ứng dụng trực tiếp trên các đế ghi từ thực tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Vật lý chất rắn, Khoa học vật liệu, Vật lý kỹ thuật và Công nghệ nano.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu:
- Tham khảo quy trình thực nghiệm tổng hợp hạt nano bằng phương pháp điện hóa siêu âm và hóa khử siêu âm (Chương 2).
- Khai thác dữ liệu thực nghiệm về giản đồ pha, hằng số mạng, cơ chế chuyển pha trật tự - bất trật tự và bộ số liệu đo từ tính ở nhiệt độ thấp ($2\text{ K} - 300\text{ K}$) của hai hệ hợp kim FePd và CoPt (Chương 3 và Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc tinh thể pha trật tự $L1_0$ khác biệt như thế nào so với pha bất trật tự $A1$ trong hợp kim FePd và CoPt?
Ở pha bất trật tự $A1$, tinh thể có cấu trúc lập phương tâm mặt (fcc), các nguyên tử kim loại (Fe/Pd hoặc Co/Pt) phân bố ngẫu nhiên tại các nút mạng. Ở pha trật tự $L1_0$, tinh thể chuyển sang cấu trúc tứ giác tâm mặt (fct), các nguyên tử sắp xếp có trật tự thành các mặt phẳng xen kẽ luân phiên dọc theo trục $c$, gây ra sự co mạng dọc theo trục $c$ và làm cho tỷ số hằng số mạng $c/a < 1$.
2. Sóng siêu âm đóng vai trò gì trong phương pháp điện hóa siêu âm chế tạo hạt nano FePd?
Trong phương pháp điện hóa siêu âm, sóng siêu âm phát xung ($T_{us}$) ngay sau xung dòng điện ($T_{on}$) có tác dụng làm bật các mầm tinh thể hạt nano vừa hình thành ra khỏi bề mặt điện cực catôt còi titan đưa vào dung dịch, khôi phục lớp điện tích kép, loại bỏ bóng khí, ngăn cản sự hình thành màng liên tục và làm sạch bề mặt điện cực.
3. Hiện tượng xâm thực sóng siêu âm tạo ra điều kiện nhiệt độ và áp suất cục bộ như thế nào?
Hiện tượng xâm thực do sóng siêu âm gây ra làm các bọt khí phát triển đến kích thước cộng hưởng rồi suy sụp đột ngột, hình thành các "điểm nóng" (hot spots) cục bộ với nhiệt độ xấp xỉ $5000^\circ\text{C}$, áp suất khoảng $2000\text{ atm}$, thời gian sống dưới $1\text{ ms}$ và tốc độ biến thiên nhiệt độ đạt $10^{10}\text{ K/s}$.
4. Tại sao sự hình thành pha $L1_0$ lại làm tăng mạnh lực kháng từ $H_c$ của hạt nano?
Pha $L1_0$ có năng lượng dị hướng từ tinh thể đơn trục rất cao do liên kết spin - quỹ đạo mạnh và sự phá vỡ tính đối xứng lập phương. Đồng thời, quá trình chuyển pha tạo ra các biên phản pha (APBs) và cấu trúc song tinh đóng vai trò là các tâm ghim cản trở sự dịch chuyển của vách đômen từ, dẫn đến lực kháng từ $H_c$ tăng cao.
5. Sự khác biệt về enthalpy chuyển pha bất trật tự - trật tự giữa hệ Fe-Pt và Co-Pt được đo bằng phương pháp DSC là bao nhiêu?
Phương pháp nhiệt lượng quét vi sai (DSC) ghi nhận enthalpy chuyển pha của Fe-Pt là $(-10{,}2 \pm 2{,}1)\text{ kJ/nguyên tử gam}$ (năng lượng hoạt hóa $1{,}7 \pm 0{,}1\text{ eV}$), lớn gấp khoảng 3 lần so với của Co-Pt là $(-3{,}1 \pm 0{,}2)\text{ kJ/nguyên tử gam}$ ($2{,}8 \pm 0{,}2\text{ eV}$). Do đó, FePt bắt đầu chuyển pha ở nhiệt độ thấp hơn CoPt khoảng $120^\circ\text{C}$.
Kết luận
Luận án của tác giả Trương Thành Trung đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về quy trình chế tạo hạt nano FePd bằng phương pháp điện hóa siêu âm và CoPt bằng phương pháp hóa khử kết hợp siêu âm. Công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa điều kiện xử lý nhiệt ($450^\circ\text{C} - 700^\circ\text{C}$), sự chuyển pha cấu trúc từ lập phương tâm mặt $A1$ sang tứ giác tâm mặt trật tự $L1_0$, và sự biến đổi của các thông số từ tính ($M_s, M_r, H_c, K_{eff}$) trong dải nhiệt độ từ $2\text{ K}$ đến $300\text{ K}$. Các kết quả thu được cung cấp cơ sở khoa học và thực nghiệm phục vụ việc nghiên cứu phát triển các vật liệu từ cứng kích thước nanomet ứng dụng trong lưu trữ thông tin mật độ cao.