CHƯƠNG 1. Vật liệu Fe-Pd Trong các hệ vật liệu nền Fe và Co có cấu trúc trật tự L10 nhƣ FePt, CoPt, …, hợp kim FePd cũng là một hệ vật liệu có dị hƣớng từ tinh thể lớn và có nhiều tính chất từ đáng chú ý có thể sử dụng trong nhiều ứng dụng. Các tính chất từ của hệ vật liệu này phụ thuộc nhiều vào cấu trúc tinh thể. Hợp kim FePd có thể tồn tại với các cấu trúc khác nhau tuỳ thuộc vào nhiệt độ ủ và hợp phần của vật liệu.
Tính từ cứng cao của hệ vật liệu này thƣờng gắn với cấu trúc tứ giác tâm mặt (face-centered tetragonal - fct) L10 đƣợc hình thành khi ủ nhiệt tạo chuyển pha bất trật tự - trật tự khiến vật liệu có lực kháng từ lớn [2, 67, 87, 89, 98]. Giản đồ pha của hệ vật liệu Fe-Pd Hình 1. Giản đồ pha của hệ vật liệu Fe-Pd [52]. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 thể hiện giản đồ pha của hệ hợp kim FePd [52].
Các pha của hệ hợp kim hình thành tại các điều kiện nhiệt độ và tỷ phần khác nhau. Tính chất từ của hệ vật liệu có thể thay đổi khi thay đổi các thông số này, từ các dạng vật liệu từ mềm nhƣ FePd3 với các tỷ phần trên 60 % của Pd đến vật liệu từ cứng FePd với tỷ phần Pd trong khoảng 50 – 60 % và nhiệt độ dƣới 800°C. Trong pha từ cứng, ta có thể thấy nhiệt độ chuyển pha từ tính là cỡ trên 400°C tùy thuộc vào các tỷ phần khác nhau. Pha từ cứng này thƣờng đƣợc gắn với cấu trúc trật tự γ1 của hợp kim FePd có cấu trúc tứ giác tâm mặt (fct) loại L10.
Cấu trúc tinh thể của hệ vật liệu Fe-Pd Hợp kim FePd tại pha trật tự L10 thể hiện tính tứ giác dọc theo trục c, có năng lƣợng dị hƣớng từ tinh thể đơn trục cao [18], độ bền cơ học tốt, chống ăn mòn hóa học tốt [101]. Hệ hợp kim Fe-Pd có thể tồn tại trong trạng thái bất trật tự với sự phân bố của các nguyên tử Fe và Pd là tự do hay trật tự một phần hoặc trong trạng thái trật tự hoàn toàn, mà ở đó các nguyên tử Fe và Pd chiếm những vị tr xác định (hình 1. Trong trạng thái trật tự, hợp kim FePd3 có cấu trúc lâp phƣơng tâm mặt (face-centered cubic - fcc) kiểu L12 (loại AuCu3) còn hợp kim FePd có cấu trúc fct kiểu L10 (loại AuCu). Trong pha trật tự L10, các nguyên tử Fe chiếm giữ các vị trí (000), (½ ½ 0) và Pd chiếm giữ các vị trí (½ 0 ½), (0 ½ ½) tạo nên các mặt phẳng luân phiên dọc theo trục c, dẫn tới sự méo mạng tứ diện, đối với pha lập phƣơng bất trật tự (hình 1.
Trong pha trật tự FePd3 kiểu L12, các nguyên tử Pd (Fe) chiếm giữ vị trí (000) và các nguyên tử Fe (Pd) chiếm giữ các vị trí (½ ½ 0), (0 ½ ½) và (½ 0 ½). 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Pha bất trật tự (fcc) (a), chuyển sang pha trật tự (fct) (b) sau khi ủ mẫu ở nhiệt độ thích hợp (hình tròn to màu xám là nguyên tử Pd, hình tròn nhỏ màu đen là nguyên tử Fe) [95]. Ở cấu trúc trật tự hoàn toàn L10 (fct), các nguyên tử Fe và Pd sẽ lần lƣợt chiếm các mặt phẳng kế tiếp nhau dọc theo trục c của ô nguyên tố, trong khi đó ở cấu trúc bất trật tự (fcc), xác suất các nguyên tử Fe và Pd chiếm bất kỳ mặt phẳng nguyên tử nào là hoàn toàn nhƣ nhau.
Sự hình thành pha L10 trong vật liệu Fe-Pd Các pha tồn tại trong hệ vật liệu Fe-Pd đƣợc thể hiện trong hình 1.1 [52], chi tiết nhƣ sau: (1) L là pha lỏng tồn tại ở nhiệt độ trên 1310°C đối với nồng độ nguyên tử trong hệ Fe-Pd tƣơng đƣơng; (2) δ-Fe pha nhiệt độ cao trong khoảng từ 1394°C đến 1538°C ở đây tồn tại pha lập phƣơng tâm khối (bcc) với tỷ phần Fe-Pd là 0-3,7 % nguyên tử Pd; (3) pha α- Fe cấu trúc lập phƣơng tâm khối (bcc) tồn tại dƣới 912oC với tỷ phần nguyên tử Pd lên tới 3,5 %; (4) γ-FePd tồn tại pha A1 cấu trúc lập phƣơng tâm mặt (fcc) tại nhiệt độ trong khoảng từ pha lỏng đến ~ 800°C đối với hầu hết các tỷ phần Fe-Pd; (5) pha γ1-L10 với nhiệt độ chuyển pha bất trật tự - trật tự dao 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động trong khoảng từ 605°C (đối với tỷ phần 48,5 % Pd) đến 790°C (~ 60 % Pd); (6) pha γ2-L12 với tỷ phần nguyên tử Pd từ ~ 62 % đến 85 % Pd với nhiệt độ chuyển pha bất trật tự - trật tự tối đa là 820°C tại ~ 66 % Pd. Đối với vùng có 50 % nguyên tử Pd, pha L10 tồn tại ở vùng hai pha từ 700°C đến 660°C và tồn tại đơn pha đối tới nhiệt độ < 660°C. Các pha khác nhau tồn tại trong hệ vật liệu Fe-Pd [52]. Tỷ phần nguyên Cấu trúc pha Tính chất từ tử Pd (% Pd) L 0 - 100 Lỏng A2 lập phƣơng δ-Fe 0 – 3,7 tâm khối (bcc) A2 lập phƣơng α-Fe 0 – 3,5 Sắt từ tâm khối (bcc) A1 lập phƣơng γ-FePd 0 – 100 Thuận từ tâm mặt (fcc) L10 tứ giác tâm γ1-L10 48,5 – 60 Sắt từ mặt (fct) L12 lập phƣơng γ2- L12 62 - 85 tâm mặt (fcc) Hultgren và Zopffe đã công bố trong nghiên cứu của mình về hằng số mạng của hai pha L10 và 1, trong đó pha trật tự L10 có hằng số mạng a = 3,852 Å, c = 3,723 Å, và tỷ lệ c/a = 0,967 trong khi đó với cùng tỷ phần Fe-Pd pha A1 có hằng số mạng a = 3,80 Å [34].
Một số nghiên cứu cũng cho thấy rằng nhiệt độ Curie của pha A1 và L10 cũng rất khác nhau. Đối với mẫu FePd có tỷ lệ thành phần 50:50, pha A1 có nhiệt độ Curie trong khoảng từ 400oC - 480oC, trong khi đó pha L10 lại có nhiệt độ Curie dao động trong khoảng 420oC - 490oC [91, 95]. Từ đây ta có thể phỏng đoán rằng nhiệt độ Curie của FePd phụ thuộc nhiều vào cả sự thay đổi cấu trúc mạng tinh thể và mức độ trật tự hoá học, cả hai điều trên lại đều phụ thuộc vào điều kiện chế tạo của vật liệu. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nghiên cứu ủ đẳng nhiệt đã mô tả những thay đổi trong cấu trúc của vật liệu FePd vi cấu trúc nhƣ là một hàm biến thiên theo thời gian ủ.
Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển pha từ 1 → L10, đã quan sát thấy trong mẫu FePd đơn tinh thể pha 1 đƣợc ủ ở 550°C trong 4 giờ, cấu trúc trong giai đoạn này thể hiện là cấu trúc tƣơng phản nhám “tweed contrast” [106]. Cấu trúc “tweed contrast” đƣợc hình thành là do sự tồn tại của sóng dịch chuyển đàn hồi của các nguyên tử làm biến dạng mạng tinh thể ban đầu, điều này gây ra bởi sự chuyển pha nội tại, đây là dấu hiệu của sự tạo mầm của pha mới [91, 106]. Giai đoạn sau của quá trình chuyển pha trật tự đƣợc đặc trƣng bởi một cấu trúc vi mô “polytwinned” (đây là một hỗn hợp bao gồm hai hoặc nhiều hơn các phần đƣợc đảo ngƣợc theo hƣớng đối với nhau (thƣờng là do sự phản chiếu trong một mặt phẳng cụ thể) bao gồm các microtwins (thang nano) và macrotwins (thang micron) [6, 39, 45, 107]. Zhang và cộng sự [107, 108] đã quan sát đƣợc sự hình thành và chuyển pha trong quá trình ủ đẳng nhiệt của FePd trong khoảng nhiệt độ từ 500°C- 650°C là quá trình tạo mầm và phát triển của pha L10.
Trong đó cấu trúc “tweed contrast” hình thành do sự tạo mầm của pha L10 xảy ra theo ba hƣớng riêng rẽ trên mạng tinh thể A1. Hằng số mạng giữa các pha A1 và L10 là do sự biến dạng mạng tinh thể và các dải microtwin hình thành dọc theo các mặt phẳng {110} trong mạng A1. Vlasova cùng các cộng sự [92, 93] cũng đã công bố trong nghiên cứu của mình rằng, quá trình chuyển pha bất trật tự - trật tự A1⟶L10 không đơn giản chỉ là sự méo mạng tinh thể trong pha A1, mà trong quá trình hình thành pha L10 trong cấu trúc tinh thể xuất hiện thêm một pha trung gian là pha A6 [92]. Họ đề xuất rằng quá trình chuyển pha A1⟶L10 là sự kết hợp của hai quá trình A1⟶A6 và A6⟶L10, trong đó chuyển pha A1⟶A6 xảy ra thông 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua quá trình dịch chuyển phối vị (không khuếch tán) trong khi quá trình chuyển pha A6⟶L10 là một quá trình trật tự hoá học [92, 93].
Nguyên nhân chính của quá trình chuyển pha bất trật tự - trật tự là do sự tạo mầm và phát triển mầm pha trật tự L10 trong mạng tinh thể, điều này dẫn đến sự thay đổi trong xác suất chiếm giữ các vị trí nút mạng trong mạng tinh thể, dẫn đến sự méo mạng kéo theo thay đổi hằng số mạng c/a sẽ nhỏ hơn 1. Quá trình chuyển pha bất trật tự - trật tự phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện chế tạo vật liệu [91, 92] đặc biệt là quá trình xử lý nhiệt. Chế độ ủ đƣợc điều chỉnh để các nguyên tử có đủ năng lƣợng nhiệt để chuyển động tới vị trí của chúng và định xứ ở đó (hình 1. Sự sắp xếp trật tự của các nguyên tử trong hợp kim tạo ra nội năng nhỏ hơn so với sắp xếp bất trật tự, điều này dẫn tới việc tạo ra siêu cấu trúc ở nhiệt độ thấp [41].
Ở nhiệt độ cao kích thích nhiệt làm tăng sự linh động của nguyên tử, do đó làm giảm mức độ trật tự của siêu cấu trúc. Sự thay đổi của cấu trúc từ trạng thái trật tự sang trạng thái bất trật tự và ngƣợc lại gọi là chuyển pha bất trật tự - trật tự [16, 82-84, 106]. Ở cấu trúc trật tự hoàn toàn fct pha L10, các nguyên tử Fe và Pd sẽ lần lƣợt chiếm các mặt phẳng kế tiếp nhau dọc theo trục c của ô nguyên tố, trong khi đó ở cấu trúc bất trật tự (fcc, gọi là cấu trúc A1 (hình 1.2) [92, 98]), xác suất các nguyên tử chiếm bất kỳ vị tr nào cũng nhƣ bất kỳ mặt phẳng nguyên tử nào là hoàn toàn nhƣ nhau. Trong quá trình chuyển pha bất trật tự - trật tự, những nguyên tử Fe và Pd sẽ di chuyển vào trong tinh thể để sắp xếp lần lƣợt trong các mặt phẳng xen kẽ, dẫn đến sự co lại theo phƣơng trục c.