Đặt vấn đề Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của xã hội ngày nay. Theo đó, hàng loạt các sản phẩm chức năng, các thuốc dược liệu được tổng hợp bằng phương pháp hóa học, sinh học,… đã ra đời để đáp ứng nhu cầu trên. Trong đó, dược liệu có nguồn gốc từ thực vật rất được con người ưa chuộng và nhu cầu sử dụng nguồn dược liệu này ngày càng tăng cao. Tuy nhiên nguồn nguyên liệu ngoài tự nhiên lại không đủ cung cấp cho nhân loại.
Cây Ba kích (Morinda officinalis How.) là cây dược liệu quý. Nhiều hợp chất đã được phân lập từ rễ của loài cây này như: Anthraquinon, glycoside, terpenoid, polysaccharide, amino acid (Zheng và Dong, 1997). Các ợp h chất này có tác dụng chống oxi hóa, nhuận tràng, chống trầm cảm, kháng khuẩn, chống ung thư,… Để tách chiết được các hợp chất trên từ rễ của cây Ba kích thì cần có một lượng lớn rễ của loài cây này. Song thực tế, cây Ba kích trồng ngoài tự nhiên phải mất thời gian 3 năm mới cho thu hoạch rễ.
Mặt khác, do những thay đổi về thời tiết, khí hậu cũng như điều kiện dinh dưỡng dẫn đến năng suất thu nhận thường khó ổn định. Điều này đồng nghĩa với việc cây Ba kích sẽ bị khai thác kiệt quệ và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Để khắc phục thực trạng này mà vẫn thu nhận được lượng lớn chất cần thiết phục vụ cho nhu cầu của con người và dùng cho nghiên cứu khoa học, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA AUXIN LÊN SỰ HÌNH THÀNH RỄ BẤT ĐỊNH CỦA CÂY BA KÍCH ( Morinda officinalis HOW.)” nhằm xác định loại và nồng độ auxin cảm ứng sự hình thành và nhân nhanh hiệu quả rễ bất định từ mẫu cấy cây Ba kích. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 1.
Mục đích • Khảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự hình thành rễ bất định của mẫu cấy lá cây Ba kích. • Khảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự hình thành rễ bất định của mẫu cấy thân cây Ba kích. • Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ đường lên sự hình thành rễ bất định của mẫu cấy thân cây Ba kích. 1 • Khảo sát ảnh hưởng của môi trường khoáng lên sự hình thành rễ bất định từ mẫu cấy thân cây Ba kích.
• Khảo sát ảnh hưởng của trạng thái môi trường thích hợp cho việc tăng sinh khối rễ của mẫu cấy thân cây Ba kích. • Tạo nguồn nguyên liệu cho các nghiên cứu sau. Yêu cầu • Xác định được loại và nồng độ chất điều hòa sinh trưởng thực vật thích hợp lên sự hình thành rễ bất định của mẫu cấy lá cây Ba kích. • Xác định được loại và nồng độ chất điều hòa sinh trưởng thực vật thích hợp nhất lên sự hình thành rễ bất định của mẫu cấy thân cây Ba kích.
• Xác định nồng độ đường thích hợp nhất lên sự hình thành rễ bất định của mẫu cấy thân cây Ba kích. • Xác định môi trường khoáng thích hợp nhất lên sự hình thành rễ bất định từ mẫu cấy thân cây Ba kích. • Xác định trạng thái môi trường thích hợp cho việc hình thành và tăng sinh khối rễ của mẫu cấy thân cây Ba kích. 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Giới thiệu về cây Ba kích (Morinda officinalis How. Vị trí phân loại Cây có tên tiếng Việt là Ba kích hay dây ruột gà, thuộc họ cà phê Rubiaceae. Cây thuộc dạng cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Trong tự nhiên thường thấy Ba kích ở các kiểu rừng thứ sinh hoặc rừng xen tre nứa.
Độ cao phân bố thường dưới 300 m, trên đất feralit đỏ vàng và hơi chua. Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Bộ : Rubiales Họ : Rubiaceae Chi : Morinda Loài : Morinda officinalis Tên khoa học: Morinda officinalis How. Phân bố Chi Morinda (Thiến thảo) gồm khoảng 80 loài, chỉ có ở vùng khí hậu nhiệt đới (Potterat, 2007). Morinda officinalis How., một trong bốn loại thuốc nam truyền thống của Trung Quốc, thường phân bố ở phía nam của Trung Quốc như tỉnh Quảng Tây, Vân Nam… Ở Việt Nam, cây mọc hoang ở vùng rừng thứ sinh, trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, dưới tán rừng nhiệt đới ẩm lá rộng gồm cây bụi và dây leo chằng chịt hoặc ở bờ nương rẫy.
Độ cao phân bố khoảng 100 m so với mặt biển. Có nhiều nhất ở Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Lạng Sơn, Hà Giang, Hà Tây, ngoài ra cây còn được tìm thấy ở các miền núi trung du như Phú Thọ, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên. Một số địa phương khác cũng đã tìm thấy cây Ba kích nhưng số lượng không đáng kể. Đặc điểm thực vật học Ba kích là cây chịu bóng, mọc tự nhiên dưới tán rừng nơi đất ẩm, thoáng nước, đất cát pha đến đất thịt, trong các lùm bụi.
Thích hợp ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm có hai mùa mưa và khô rõ rệt, nhiệt độ không khí mùa khô từ 8÷24°C và mùa nóng từ 25÷38°C. Các bộ phận của cây Ba kích. Thân Thân non màu tím, có lông, phía sau nhẵn , thuộc dây leo , thân cỏ, sống lâu năm, cuốn lên cây khác, có khi dài hàng mét, có nhiều lóng. Lá Lá mọc đối xứng, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn, cứng, dài từ 6÷14 cm, rộng 2,5÷6,0 cm, lúc non có màu xanhụcl hay tím nhạt, có lông dày hơn ở mặt dưới, thường tập trung ở gân chính và mép lá, sau khi già lông ít hơn và có màu trắng mốc, lá kèm thành bẹ ôm lấy thân.
Hoa Hoa nhỏ, lúc non màu trắng, sau hơi vàng, mỗi hoa có 2÷10 cánh, 4 nhị, tập trung thành tán ở đầ u cành, dài 0,3÷1,5 cm, đài hoa hình chén hoặc hình ống gồm 4 những lá đài nhỏ phát triển không đều, tràng hoa dính liền ở phía dưới thành ống ngắn, mùa hoa từ tháng 5 đến tháng 6. Quả Quả hình cầu, khi chín có màu đỏ, mang đài, còn lại ở đỉnh, bầu nhẵn, vòi chẻ đôi ở đỉnh, mùa quả chín khoảng tháng 11 đến tháng 12. Rễ Rễ củ, cong, nhiều đoạn thắt, xoắn như ruột gà (nên còn gọi là Dây ruột gà), dài đến 15÷20 cm hoặc hơn, to 1÷2 cm chia ra nhiều đoạn chỗ phình to, chỗ co lại rất đều đặn. Khi khô có màu nâu sẫm, vân ngoằn ngoèo.
Giữa có lõi gỗ, khó bị bẻ gãy, hình dạng giống như ruột gà, mùi khó ngửi. Thời gian sinh trưởng kéo dài đến 3 năm mới cho thu hoạch rễ cây để làm thuốc. Rễ có thể đào quanh năm, tốt nhất là vào mùa thu đông. Thành phần hóa học Trong Ba kích có gentianine, carpaine, choline, trigonelline, díogenin, yamogenin, gitogenin, tigogenin, vitexin, orientin, quercetin, luteolin, vitamin B1 (Li và cộng sự, 1991; Yang và cộng sự, 1992; Yoshikawa và cộng sự, 1995; Zheng và Dong, 1997; Yao và ộcng sự, 1998); rubiadin, rubiadin-1-methylether (Vương Yến Phương ,1986); palmitic acid, vitamin C, nonadecane, 2-4-ethylcholesterol (Lý Quán, 1991).
Rễ chứa antraglycozid, đường, nhựa, acid hữu cơ, phytosterolmorindin và ít tinh dầu. Các hợp chất có hoạt động chống trầm cảm đã được phân lập từ rễ của Ba kích. Các hợp chất này được xác định là acid succinic, nystose, 1F-fructofuranosylnystose, hexasaccharide inulin-loại và heptasaccharide (Chinese traditional Yang-tonic drug). Tác dụng dược lý và giá trị sử dụng 2.
Tác dụng dược lý Tăng sức dẻo dai: Thí nghiệm được thực hiện trên chuột nhắt trắng, Ba kích với liều 5-10 g/kg dùng liên tiếp 7 ngày có tác dụng tăng sức dẻo dai cho chuột thí nghiệm. 5 Tăng sức đề kháng: Dùng phương pháp gây nhiễm độc cấp bằng Ammoni Clorua trên chuột n hắt trắng, với liều 15 g/kg, Ba kích có tác dụng tăng cường sức đề kháng chung của cơ thể đối với các yếu tố độc hại. Chống viêm: Trên mô hình gây viêm thực nghiệm ở chuột cống trắng bằng kaolin với liều lượng 5-10 g/kg, Ba kích có tác dụng chống viêm rõ rệt. Đối với hệ thống nội tiết: Thí nghiệm trên chuột lớn và chuột nhắt cho thấy Ba kích không có tác dụng kiểu androgen Nước sắc Ba kích có tác dụng làm cho tuyến ức chuột con bị teo.
Nước sắc Ba kích có tác dụng làm tăng co bóp ruột của chuột và hạ huyết áp. Có độ độc rất thấp: Liều lượng gây chết trung bình của Ba kích được xác định trên chuột nhắt trắng bằng đường uống là 193 g/kg. Rễ Ba kích chiết xuất bằng rượu có tác dụng giảm huyết áp, có tác dụng nhanh đối với các tuyến cơ năng, tăng cường não. Đối với những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường, Ba kích có tác dụng làm tăng khả năng giao hợp, đặc biệt đối với những trườn g hợp giao hợp yếu và thưa.
Ba kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu nó không làm tăng đòi hỏi tình dục, không thấy có tác dụng kiểu androgen. Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực. Còn các trường hợp tinh dịch ít, tinh trùng chết nhiều, không có tinh trùng, không xuất tinh khi giao hợp thì sử dụng Ba kích chưa thấy kết quả. Trong cuộc điều tra đối với 35 nam giới có hoạt động sinh dục không bình thường, xuất tinh sớm và 30 phụ nữ bị vô sinh, lãnh cảm, khi được điều trị với 250-300 mg Ba kích kéo dài trong ba tháng,ếtkquả thu được là hơn 90 % bệnh nhân cải thiện được tình trạng đáng kể (Shen, 1985).
Đối với cơ thể những người tuổi già, những bệnh nhân không biểu hiện mệt mỏi, ăn kém, ngủ ít, gầy yếu mà không thấy có những yếu tố bệnh lý gây nên và một số trường hợp có đau mỏi các khớp, Ba kích có tác dụng tăng lực rõ rệt, thể hiện qua những cảm giác chủ quan như đỡ mệt mỏi, ăn ngon, ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực. Còn đối với bệnh nhân đau 6 mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba kích dài ngày, các triệu chứng đau mỏi giảm rõ rệt. Giá trị sử dụng Cây Ba kích được sử dụng rộng rãi như một loại dược liệu quý có tác dụng bổ thận âm, bổ thận dương, tăng cường gân cốt, khử phong thấp. Dịch chiết cồn từ củ cây Ba kích có tác dụng giảm huyết áp, tác dụng nhanh đối với các tuyến cơ năng, bổ trí não, giúp ăn và ngủ ngon.
Như vậy có thể thấy rằng Ba kích là một cây thuốc quý, vừa có giá trị trong nước vừa được xuất khẩu.