ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ thống các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) của Việt Nam bắt đầu đƣợc hình thành từ khi thành lập Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng năm 1962. Cho đến nay, đƣợc sự quan tâm của Chính phủ và của các cấp, các ngành, hệ thống Khu bảo tồn (KBT) của Việt Nam không ngừng đƣợc mở rộng về diện tích và số lƣợng. Tính đến năm 2018, cả nƣớc đã có 164 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2. Các Khu bảo tồn này đã thực sự trở thành “kho báu” quốc gia, phát huy tốt vai trò bảo vệ thiên nhiên, phòng hộ môi trƣờng, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nƣớc.
Trong phần lớn các Khu bảo tồn ở Việt Nam đều có ngƣời dân sinh sống. Nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sống phụ thuộc vào tài nguyên của các Khu khu bảo tồn này. Tuy nhiên, việc xây dựng kế hoạch quản lý và hoạt động của nhiều KBT chƣa thực sự quan tâm đến những cộng đồng dân tộc này. Điều này đã đặt ngƣời dân với vai trò là ngƣời ngoài cuộc trong công tác bảo vệ rừng và BTTN.
Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa bảo tồn với những lợi ích của cộng đồng dân tộc vốn sinh sống phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng ngày càng trở nên gay gắt. Nhiều nơi, thay vì tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên, ngƣời dân đã đối đầu với lực lƣợng quản lý bảo vệ rừng và chính quyền địa phƣơng. Do đó để quản lý tài nguyên rừng một cách hiệu quả và bền vững, không thể bỏ qua việc phát huy vai trò của cộng đồng ngƣời dân sống gần rừng trong việc quản lý, bảo vệ rừng. Phát huy vai trò tham gia của các cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên rừng vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc vừa giúp công tác quản lý rừng có hiệu quả và bền vững hơn.
Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha đƣợc Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La thành lập theo Quyết định số 3440/2002/QĐ-UBND ngày 2 11/11/2002 của UBND tỉnh Sơn La. Hiện nay, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha nằm trên địa giới hành chính 4 xã: Tân Xuân, Xuân Nha, Chiềng Xuân (huyện Vân Hồ), xã Chiềng Sơn (huyện Mộc Châu), cách thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu 30 km về phía Tây Nam. Diện tích quy hoạch rừng đặc dụng Xuân Nha giai đoạn 2017 - 2025 là 18. KBTTN Xuân Nha đang đứng trƣớc thách thức rất lớn về áp lực tác động trực tiếp của ngƣời dân lên tài nguyên rừng của KBTTN, hiện nay phần lớn diện tích rừng không còn nguyên vẹn, rừng nguyên sinh ít bị tác động chỉ tồn tại từng vùng nhỏ ở những nơi cao, xa xôi, hiểm trở hoặc theo dải, theo đám dọc theo các khe suối sâu, sƣờn núi đá.
Việc ngƣời dân vẫn vào KBTTN khai thác gỗ, củi, săn bắt động vật hoang dã, đã gây ảnh hƣởng không nhỏ đến sự suy giảm các hệ sinh thái/đa dạng sinh học và triển khai các hoạt động bảo tồn phát triển của KBTTN. Trong những năm gần đây, Ban quản lý đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý, bảo vệ đa dạng sinh học, tổ chức ngăn chặn tình trạng xâm hại KBTTN, thực hiện trồng rừng, giao khoán bảo vệ, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các cộng đồng bản xung quanh KBTTN về quản lý bảo vệ, tuy nhiên hiệu quả chƣa đƣợc cao. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng KBTTN Xuân Nha, từ đó đề xuất các giải pháp thu hút cộng đồng địa phƣơng tham gia bảo vệ tài nguyên rừng góp phần giảm áp lực của cộng đồng dân cƣ sống trong KBTTN, tôi tiến hành luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La”. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về cộng đồng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng 1.1 Cộng đồng Theo Darcy Davis Case (1990) [30]: “Cộng đồng là nhóm ngƣời sống trên cùng một khu vực và thƣờng cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung hoặc có quan hệ gia đình với nhau”.
Thuật ngữ “cộng đồng” theo FAO (1996)[33]: “cộng đồng là những ngƣời sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là một nhóm ngƣời sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”. Ở Việt Nam, cụm từ “cộng đồng” là sự kết hợp của hai từ “cộng” và “đồng”. Từ “cộng” đƣợc hiểu là cộng vào, gộp vào, thêm vào, kết hợp vào, còn từ “đồng” có nghĩa là cùng nhau, giống nhau, chung nhau về một số đặc điểm: nhân chủng học, lãnh thổ, phong tục tập quán, sở thích,. Từ ý nghĩa trên “cộng đồng” đƣợc hiểu là “Toàn thể những ngƣời sống thành tập thể hay xã hội mà có nhũng đặc điểm giống nhau, gắn bó với nhau thành một khối và giữa họ có một sự liên hệ, hợp tác với nhau để cùng nhau hoạt động, cùng nhau thực hiện những lợi ích của mình và lợi ích chung của toàn xã hội”.
Nguyễn Hồng Quân (2000)[14] đã phân biệt cộng đồng ra làm hai loại: cộng đồng dân tộc và cộng đồng làng bản. Theo thống kê và phân tích của tác giả thì khái niệm “cộng đồng” đƣợc sử dụng trong quản lý rừng cộng đồng ở nƣớc ta là “cộng đồng thôn bản”. Theo Phạm Xuân Phƣơng (2001)[12]:“cộng đồng bao gồm toàn thể những ngƣời sống thành một xã hội có những điểm tƣơng đồng về mặt văn hóa, truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau, thƣờng có ranh giới không gian trong một làng, bản”. 4 Điều 5, Luật đất đai (2013) [15], xác định rõ: “Cộng đồng dân cƣ gồm cộng đồng ngƣời Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cƣ tƣơng tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ” đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Tại Điều 2, Luật Lâm nghiệp (2017) [16] đã định nghĩa “Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục, tập quán. Nhƣ vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cƣ thôn, làng bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm ngƣời có những đặc điểm và lợi ích chung,… trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng đƣợc hiểu theo nghĩa cộng đồng địa phƣơng là thôn, xóm. Cộng đồng tham gia quản lý rừng. Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ).
Theo FAO [33], LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn ngƣời dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này. Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chƣa có một định nghĩa chính thức nào đƣợc công nhận. Tuy nhiên, qua các cuộc hội thảo dƣờng nhƣ mọi ngƣời đều thống nhất ở Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO bao gồm quản lý rừng cộng đồng và quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Quản lý rừng dựa vào cộng đồng Theo Denr (1990) [29] , Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM), dựa trên quan điểm: “con ngƣời trƣớc và lâm nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hƣởng lợi từ tài nguyên rừng.
Quan điểm này cho thấy CBFM nhắc đến việc phân cấp 5 quản lý rừng một cách mạnh mẽ trong đó nhấn mạnh đến giao quyền quản lý các khu rừng và tạo cơ hội cho ngƣời dân trong cộng đồng có quyền đƣợc hƣởng lợi từ rừng. Ở Việt Nam, quản lý rừng dựa vào cộng đồng là quản lý rừng đƣợc thực hiện bởi cộng đồng. Cộng đồng có thể là chủ thể quản lý rừng hoặc cộng đồng tham gia quản lý rừng và đƣợc chia sẻ lợi ích từ rừng. Hay nói cách khác, “Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là việc bảo vệ, xây dựng, phát triển và sử dụng rừng có sự tham gia điều hành bởi cộng đồng, bất kể rừng đó thuộc quyền sở hữu của cộng đồng hay không”.
Hình thức này có thể chia thành hai đối tƣợng: - Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp…). - Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nƣớc (các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trƣờng, công ty lâm nghiệp nhà nƣớc, các trạm trại…) và các tổ chức tƣ nhân khác. Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp nhƣ bảo vệ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tƣ cách là ngƣời làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hƣởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng.
Quản lý rừng cộng đồng Một khái niệm cụ thể hơn là “Quản lý rừng cộng đồng” đã đƣợc đề xƣớng và thực thi ở nhiều nƣớc, nó là một phạm trù của quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, nó nhấn mạnh và làm rõ quyền sở hữu rừng của cộng đồng, trên cơ sở đó cộng đồng tự tổ chức quản lý sử dụng theo nhu cầu và đảm bảo tính bền vững [32]. 6 Quản lý rừng cộng đồng là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hƣởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng. Ở Việt Nam, khái niệm Quản lý rừng cộng đồng đƣợc hiểu là cộng đồng quản lý rừng thuộc sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng.
Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đƣợc quản lý theo truyền thống trƣớc đây, rừng trồng của hợp tác xã trƣớc đây mà sau khi chuyển đổi hay giải thể hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý. Quản lý rừng cộng đồng là một hình thức quản lý rừng trong đó cộng đồng với tƣ cách là chủ rừng tham gia vào các hoạt động giao rừng, lập kế hoạch quản lý rừng và thực hiện các kế hoạch đó, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, giám sát, đánh giá rừng do Nhà nƣớc giao cho cộng đồng.