CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về đa dạng sinh học ở khu vực dãy Trường Sơn Dãy Trường Sơn là một trong những dãy núi chính của khu vực Đông Dương, chạy dọc theo biên giới Việt Nam – Lào (Hình 1). Dãy Trường Sơn là nơi có giá trị đa dạng sinh học cao, là nơi cư trú của nhiều loài quý hiếm, đặc hữu. Khu vực này còn được coi là “mỏ loài mới” của Việt Nam và Lào, với rất nhiều loài mới được phát hiện và mô tả trong những năm gần đây như Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) [83], Mang lớn (Muntiacus vuquangensis) [73], và Thỏ vằn (Nesolagus timminsi) [11].
Trong ba thập kỷ gần đây, các nỗ lực bảo tồn và khảo sát đa dạng sinh học được thực hiện nhằm nghiên cứu và bảo vệ giá trị đa dạng sinh học ở nơi đây. Tuy nhiên, giống như nhiều khu vực ở Đông Nam Á, các loài sinh vật quý hiếm, đặc hữu của dãy Trường Sơn đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng lớn, gây ra bởi tình trạng săn bắt trái phép và phá hủy sinh cảnh trên diện rộng. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bản đồ độ cao khu vực dãy Trường Sơn Nhiều nghiên cứu đã nêu bật đặc điểm đa dạng sinh học đặc biệt của Trường Sơn và các mối đe dọa mà khu vực này đang đối mặt.
Diện tích rừng ở cảnh quan này đã bị suy giảm nhanh chóng trong vòng khoảng 60 năm trở lại đây do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, từ việc chất độc hóa học để phát quang trong chiến tranh; đến quá trình mở lâm trường, nông trường, và chủ trương khai thác gỗ, chuyển đổi các diện tích rừng đã bị khai thác và mở rộng các diện tích đất nông nghiệp vào những năm 1980 và 1990; và tình trạng phá rừng trái phép từ những năm 1990 trở lại đây. Kết quả là, rừng nguyên sinh của chỉ còn chiếm tỉ lệ nhỏ trên tổng diện tích rừng của 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khu vực [76]. Ở phía bên kia biên giới ở Lào, có một số khu vực vẫn có các cánh rừng có diện tích lớn chưa bị khai thác quy mô lớn và ít bị tác động của con người, nhưng các khu rừng này cũng đang phải đối mặt với tình trạng phá rừng và khai thác khoáng sản ngày càng tăng, và nếu như không có các biện pháp bảo vệ trong tương lai gần, thì các cánh rừng và đa dạng sinh học ở Lào cũng sẽ bị suy giảm tới mức như ở Việt Nam [36]. Trong vòng 10 năm trở lại đây, diện tích che phủ rừng ở Việt Nam có tăng nhờ quyết định đóng cửa rừng của Chính phủ và việc cải thiện thực thi pháp luật đối với các vi phạm liên quan đến phá rừng trái phép.
Tuy nhiên, có một điểm cần phải lưu ý, rằng một phần đáng kể độ che phủ rừng tăng lên là đến từ việc trồng đơn canh một số loại cây phục vụ sản xuất, ví dụ như Keo và Bạch đàn, chứ không phải là sự gia tăng diện tích rừng tự nhiên [51]. Mối đe dọa trực tiếp đầu tiên trong thời điểm hiện tại đối với các loài động vật ở dãy Trường Sơn là tình trạng săn bắn trái phép để tiêu thụ tại chỗ và cung cấp cho thị trường buôn bán động vật hoang dã trái phép. Hoạt động săn bắt trái phép đã gây ra sự tuyệt chủng của nhiều loài động vật có xương sống ở Việt Nam. Một số loài tiêu biểu đã tuyệt chủng hoặc tuyệt chủng về mặt chức năng ở Việt Nam gồm có: Sao la (Pseudooryx nghetinhensis), Hổ (Panthera tigris), Báo (Panthera pardus), Báo gấm (Neofelis nebulosi), Hươu vàng (Axis porcinus), và Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) – và đây chỉ là một số loài trong rất nhiều loài đã bị tuyệt chủng trong giai đoạn qua [14, 76].
Săn bắn bằng bẫy bắt dây phanh đang là một trong những phương thức săn bắt phổ biến nhất hiện nay ở Việt Nam, vì các bẫy dây phanh có giá rất rẻ, khối lượng nhẹ, dễ vận chuyển với số lượng lớn, tương đối bền bỉ, và dễ dàng được cài đặt. Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay hầu như không có các quy định pháp luật nào hạn chế việc mua bán và sử dụng dây phanh, nên những thợ săn có thể mua và mang vật liệu này vào trong rừng tương đối dễ dàng. Việc bẫy bắt bằng dây phanh hiện tại đang ở mức độ tương đối cao ở một số khu bảo tồn, ví dụ các cán bộ kiểm lâm ở khu bảo 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tồn Sao la Huế phá và tịch thu khoảng 10.000 bẫy dây phanh một năm – và con số này mới chỉ phản ánh một phần của toàn bộ bẫy dây phanh trong rừng (phỏng vấn Giám đốc Khu bảo tồn Sao la Huế). Kết quả của tình trạng săn bắn trái phép quá mức là nhiều khu rừng ở Trường Sơn nói riêng và Việt Nam nói chung đang hứng chịu “hội chứng rừng trống”, nơi có sinh cảnh và hệ sinh thái phù hợp nhưng hầu như thiếu vắng các loài động vật sinh sống, đặc biệt là các loài thú sống ở mặt đất, do chúng phải chịu áp lực săn bắn quá lớn [36].
Ở Việt Nam, một số khu bảo tồn đã tiến hành một số chương trình gỡ bỏ bẫy dây phanh, ví dụ như bộ ba khu bảo tồn liền kề nhau là Vườn quốc gia Bạch Mã – khu bảo tồn Sao la Huế – khu bảo tồn Sao la Quảng Nam, với sự hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế chuyên về bảo tồn như WWF Việt Nam, nhưng thậm chí ở những khu này thì tình trạng đặt và sử dụng bẫy dây phanh vẫn diễn ra khá phổ biến. Ở Lào, mặc dù dân số nhìn chung là thấp, và có nhiều khu bảo tồn có diện tích lớn nhưng bẫy bắt bằng dây phanh cũng khá phổ biến, đặc biệt là tại các khu rừng nằm liền kề với biên giới Việt Nam, khiến các loài động vật hoang dã ngày càng trở nên quý hiếm [36, 75]. Hơn nữa, với việc thiếu các hoạt động thực thi pháp luật hiệu quả, các khu rừng biên giới của Lào có thể cũng sẽ phải đối mặt với tình trạng “rừng trống” như nhiều khu bảo tồn ở Việt Nam [36, 75]. Mặc dù đã có nhiều báo cáo về tác động tiêu cực của săn bắn trái phép đến đa dạng sinh học nói chung, và đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng, nhưng đến nay áp lực săn bắn vẫn còn tương đối phổ biến ở nhiều khu bảo tồn tại Việt Nam và Lào.
Ví dụ, loài Lợn vòi (Tapirus indicus) đã bị coi là tuyệt chủng do không có ghi nhận trong thời gian dài, hoặc Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) đã tuyệt chủng gần một thập niên [14]. Trong khoảng một thập niên gần đây, một số sáng kiến bảo tồn đã và đang được thực hiện nhằm cố gắng ngăn chặn các ảnh hưởng tiêu cực từ săn bắn trái phép đến đa dạng sinh học ở khu vực Trường Sơn. Các giải pháp có thể kể đến gồm có thành lập mới ba khu bảo tồn (khu bảo tồn Sao la Huế, khu bảo tồn Sao la Quảng Nam, và khu bảo tồn Voi Nông Sơn) và mở rộng diện tích Vườn quốc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia Bạch Mã. Thêm vào đó, các đội chuyên trách tuần tra bảo vệ rừng và phá gỡ bẫy dây phanh trên diện rộng, tập trung cho diện tích rừng thuộc hai khu bảo tồn Sao la của Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, đã được thành lập và triển khai như là một phần của một dự án hợp tác lớn của KfW và WWF – Dự án Sinh khối carbon và Đa dạng sinh học.
Cũng trong dự án này, chương trình Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đã được tiến hành thực hiện đễ hỗ trợ các cộng đồng dân cư địa phương quanh các khu bảo tồn và cung cấp một phần kinh phí cho các hoạt động bảo tồn. Tuy nhiên, do thiếu một bộ dữ liệu nền cơ sở về hiện trạng bảo tồn của các loài và không có bất cứ một khảo sát có hệ thống nào được thực hiện trước đó, hiệu quả của các giải pháp bảo tồn trên đối với các loài động vật nguy cấp, quý hiếm, đặc hữu trong khu vực Trường Sơn vẫn còn chưa được làm sáng tỏ. Các dữ liệu nền là rất cần thiết để làm cơ sở đánh giá một cách toàn diện các tác động của các hoạt động bảo tồn khác nhau đến hiện trạng quần thể của các loài, để từ đó có các giải pháp điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn. Các cuộc điều tra thực địa nếu được tổ chức bài bản và có hệ thống, có phương pháp rõ ràng ở khu vực dãy Trường Sơn có thể sẽ giúp đánh giá chính xác hơn hiệu quả thực tế của các giải pháp bảo tồn ở khu vực này.
Tổng quan về loài Thỏ vằn Trường Sơn Giống Thỏ vằn (Nesolagus) được phát hiện từ năm 1880, với một loài duy nhất là Thỏ vằn Sumatra (N. netscheri) ghi nhận ở một số vùng ở phía Nam đảo Sumatra, Indonesia [77]. Thỏ vằn Sumatra rất khó điều tra theo phương pháp truyền thống, và từ trước đến giờ mới chỉ thu thập được 12 mẫu bảo tàng của loài. Vì thế, các thông tin về tập tính sinh thái của loài này rất hạn chế, với một số đặc điểm bao gồm: đây là loài chỉ hoạt động về đêm, chỉ phân bố ở các cánh rừng nguyên sinh có độ cao từ 600 m – 1.200 m ở một số khu vực có diện tích nhỏ phía Nam đảo Sumatra [58].
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến đầu những năm 1990, cùng với việc các tổ chức quốc tế đầu tư nhiều cho công tác điều tra đa dạng sinh học ở Đông Dương, đã bắt đầu xuất hiện những báo cáo về việc có một loài thỏ mới có hình dạng gần giống với Thỏ vằn Sumatra ở Lào. Đến năm 1996, Robert Timmins và các đồng nghiệp đã thu được một mẫu thỏ vằn tại một chợ mua bán thực phẩm ở Ban Lak (Bản Lác), Lào, chỉ cách biên giới Việt Nam – Lào đoạn qua tỉnh Hà Tĩnh – Quảng Bình khoảng 30 km. Các kết quả phân tích ban đầu về hình thái và di truyền cho thấy, loài thỏ này là một loài thú hoàn toàn mới, đã có thời gian cách ly với loài Thỏ vằn Sumatra lên tới 8 triệu năm [77]. Đến năm 2000, Robert Timmins và cs.
đã phát hiện nhiều cá thể của loài thỏ này ở khu vực rừng giao thoa giữa Việt Nam và Lào ở Nghệ An và Hà Tĩnh [80]. Đến giữa năm 2000, loài thỏ mới chính thức được mô tả bởi Averianov và cs.