Tổng quan nghiên cứu
Hồ Tây là hồ nước ngọt tự nhiên có diện tích mặt nước lớn nhất tại thủ đô Hà Nội với quy mô 516 ha, chu vi bờ bao khoảng 18 km và dung tích trữ nước đạt trên 9 triệu m3. Thủy vực này giữ vai trò là lá phổi xanh điều hòa khí hậu đô thị và là hồ chứa quan trọng phục vụ tiêu thoát nước, chống ngập úng cho khu vực Tây Bắc thành phố với khả năng tiếp nhận lượng mưa trung bình 1.870 mm mỗi năm. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng với hơn 52,48 ha đất ở bao quanh hồ đã tạo ra áp lực nhân sinh khổng lồ lên chất lượng nước và cấu trúc sinh quần tự nhiên.
Hàng ngày, hồ tiếp nhận lưu lượng nước thải sinh hoạt khổng lồ chưa qua xử lý đạt từ 10.281,6 đến 35.424 m3/ngày qua cống Cây Si và 2.592 đến 17.280 m3/ngày qua cống Tàu Bay. Nguồn thải điểm này mang theo lượng phốt pho tổng số từ 4.780 đến 6.857 kg mỗi năm, đẩy nhanh tiến trình phú dưỡng hóa và làm suy thoái nghiêm trọng nơi cư trú của các loài thủy sinh vật. Mật độ động vật đáy đã sụt giảm nghiêm trọng từ mức 640 đến 3.149 cá thể/m2 trong giai đoạn 1960 - 1961 xuống còn trung bình 160 cá thể/m2 trong các đợt khảo sát thực tế gần đây.
Đứng trước thực trạng trên, nghiên cứu được thực hiện nhằm điều tra, đánh giá toàn diện hiện trạng thành phần loài của 6 nhóm sinh vật chính bao gồm thực vật nổi, động vật nổi, động vật đáy, khu hệ cá, thực vật bậc cao, chim và bò sát - lưỡng cư. Trên cơ sở xác định các chỉ số đa dạng sinh học và phân tích các nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn có tính khả thi cao. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại 8 điểm quan trắc trọng điểm trên toàn bộ diện tích Hồ Tây qua 2 đợt khảo sát vào tháng 10/2012 và tháng 3/2013, bám sát các cơ sở pháp lý trọng tâm như Quyết định số 1479/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch bảo tồn vùng nước nội địa và Thông báo số 72/TB-TW của Bộ Chính trị về quản lý cảnh quan Hà Nội. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu là cung cấp cơ sở dữ liệu sinh thái định lượng cập nhật, hỗ trợ chuyển đổi phương thức quản lý từ khai thác thủy sản đơn thuần sang bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi hệ sinh thái bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết cân bằng sinh thái thủy vực và quy luật diễn thế sinh thái hồ nước đứng đồng bằng nhiệt đới. Quá trình biến đổi cấu trúc quần xã sinh vật được lý giải thông qua lý thuyết phú dưỡng hóa của Vollenweider và thuyết giới hạn dinh dưỡng của Vallentyne (1983), trong đó tỷ lệ Nitơ trên Phốt pho (N/P) nhỏ hơn 7 xác định Nitơ là yếu tố giới hạn chính đối với sự phát triển của sinh khối thực vật phù du.
Khung lý thuyết của đề tài tích hợp 4 khái niệm nền tảng:
- Đa dạng sinh học 3 cấp độ (đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái) theo chuẩn hóa của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1994).
- Sinh vật chỉ thị môi trường (Bioindicators), ứng dụng mức độ ưu thế của các nhóm giun ít tơ Oligochaeta, ấu trùng muỗi lắc Chironomidae và vi tảo lam để định lượng mức độ ô nhiễm hữu cơ của môi trường nước.
- Sức tải sinh thái và chu trình vật chất trong hệ sinh thái hồ kín, phân tích dòng năng lượng truyền qua các bậc dinh dưỡng từ sinh vật sản xuất sơ cấp đến các bậc cá ăn nổi và ăn đáy.
- Bảo tồn nguyên vị (In-situ conservation) kết hợp với các kỹ thuật công nghệ sinh thái để duy trì cân bằng tự nhiên.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu giai đoạn 1960 - 2011 cùng số liệu thống kê nghề cá 11 năm (2001 - 2012) và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa. Thời gian lấy mẫu được tổ chức thành 2 đợt vào tháng 10/2012 (cuối mùa mưa) và tháng 3/2013 (mùa khô) tại 8 trạm quan trắc đại diện: khu vực gần Công viên nước, cống Xuân La, giữa hồ trên gần khách sạn Công Đoàn, cống Đõ, giữa hồ dưới, cống Trúc Bạch, khu vực Nghi Tàm - Quảng An và khu Ao Và gần khách sạn Thắng Lợi.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế chuẩn hóa:
- Mẫu thực vật nổi định tính thu bằng lưới hình chóp đường kính miệng 30 cm, mắt lưới 25 µm; mẫu định lượng được gom từ xô 40 lít trộn đều tại 8 điểm, để lắng 24 đến 48 giờ và đếm trên buồng đếm Sedgewick-Rafter thể tích 1 ml theo hướng dẫn của UNESCO (1978).
- Mẫu động vật nổi thu bằng lưới kéo vận tốc 0,5 m/s, cố định bằng Formalin 4%, định lượng cá thể trên thể tích nước và tính toán sinh khối carbon qua phần mềm PlanktonSys 1.0.
- Mẫu động vật đáy thu định tính bằng vợt ao và định lượng bằng gàu ngoạm Petersen diện tích 0,02 m2 (thu 5 gàu tại mỗi điểm, tương đương diện tích 0,1 m2/điểm), lọc qua rây 315 µm và cân khối lượng trên cân điện tử Sartorius độ chính xác 0,01 g.
- Mẫu cá thu thập bằng hệ thống lưới bén, lưới vớt đa tầng, cố định trong dung dịch Formalin 8%.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H') và chỉ số phong phú loài Margalef (D) cho phép phản ánh chính xác cả mức độ phong phú thành phần loài lẫn mức độ đồng đều của các cá thể trong quần xã. Các chỉ tiêu hóa lý nước (COD, BOD5, NH4+, NO3-, PO43-) được phân tích bằng phương pháp chuẩn độ và bộ kít trắc quang chuyên dụng theo tiêu chuẩn TCVN 5942-1995. Ngoài ra, phương pháp nuôi thực nghiệm thực vật thủy sinh (Thủy trúc, Bèo tây, Bèo hoa dâu, Rau ngổ, Rau muống) trong bình thủy tinh 3 lít được triển khai trong 30 ngày với 3 lần lặp lại để kiểm chứng khả năng xử lý ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực địa đã ghi nhận 68 loài thực vật nổi thuộc 4 ngành tảo: Tảo lục chiếm ưu thế với 23 loài (tỷ lệ 34%), Tảo silic có 21 loài (tỷ lệ 30%), Tảo lam có 14 loài (tỷ lệ 20%) và Tảo mắt có 10 loài (tỷ lệ 15%). Ngành Tảo giáp hoàn toàn biến mất so với cơ cấu 112 loài của năm 2002. Mật độ thực vật nổi dao động từ 56.000 đến 81.000 tế bào/lít (trung bình 65.000 tế bào/lít), trong đó Tảo lam chiếm tới 60% tổng mật độ tế bào, báo hiệu hiện tượng tích tụ dinh dưỡng hữu cơ cục bộ.
Quần xã động vật nổi ghi nhận 50 loài, gồm 22 loài Giáp xác râu ngành (chiếm 44%), 14 loài Giáp xác chân chèo (chiếm 28%), 13 loài Trùng bánh xe (chiếm 26%) và 1 loài thuộc phân lớp Có vỏ (chiếm 2%). Mật độ động vật nổi dao động từ 2.100 đến 3.000 cá thể/m3 (trung bình 2.500 cá thể/m3). Nhóm Trùng bánh xe phát triển mạnh với mật độ ưu thế thể hiện rõ xu hướng phú dưỡng của thủy vực nước đứng.
Động vật đáy có 48 loài được định loại, nhưng cơ cấu bị chi phối tuyệt đối bởi lớp giun ít tơ Oligochaeta với 25 loài (chiếm 52% thành phần loài), tiếp đến là nhóm Thân mềm với 10 loài (20,8%), Chân bụng có 9 loài (18,9%) và Giáp xác có 4 loài (8,3%). Mật độ động vật đáy trung bình đạt 160 cá thể/m2 và sinh khối trung bình đạt 52 g/m2. Trong đó, hai nhóm chỉ thị ô nhiễm là ấu trùng muỗi lắc Chironomidae và giun ít tơ Tubificidae chiếm tới 96% tổng sinh khối (lần lượt chiếm 61% và 35%), trong khi nhóm thân mềm nước sạch chỉ còn đóng góp 4% sinh khối.
Khu hệ cá ghi nhận 48 loài thuộc 14 họ, trong đó họ cá Chép Cyprinidae chiếm tỷ lệ áp đảo với 29 loài (chiếm 60,43%), họ cá Rô phi Cichlidae chiếm 6,25%. Sản lượng đánh bắt cá của Công ty Khai thác cá Hồ Tây sụt giảm mạnh từ 706.846 kg năm 2001 xuống còn 301.283 kg năm 2012 (mức giảm lên tới 57,38%). Cơ cấu sản lượng khai thác bị chi phối bởi cá mè (mè hoa và mè trắng) chiếm từ 70% đến 85%, trong khi cá trắm đen bản địa suy giảm nghiêm trọng do mất nguồn thức ăn là các loài ốc đáy.
Chỉ số đa dạng sinh học Shannon-Weiner trung bình của thực vật nổi đạt H' = 1,14 ± 0,0115, động vật nổi đạt H' = 1,08 ± 0,005 và động vật đáy đạt H' = 1,1055 ± 0,023. Chỉ số phong phú Margalef của ba nhóm lần lượt đạt D = 2,176; D = 2,306 và D = 2,538. Các giá trị H' nằm trong khoảng từ 1,0 đến 1,5 phản ánh hệ sinh thái đang ở mức độ kém đa dạng và nước hồ ở tình trạng ô nhiễm hữu cơ vừa mức alpha.
Thảo luận kết quả
Sự biến đổi thành phần loài thủy sinh vật tại Hồ Tây bắt nguồn từ tác động tổng hợp của các nguồn xả thải sinh hoạt và hoạt động cải tạo cảnh quan đô thị. Lưu lượng nước thải lớn tại các cống chính (cống Cây Si đạt 35.424 m3/ngày, cống Đõ đạt 25.920 m3/ngày vào mùa hè) đưa vào hồ lượng chất hữu cơ vượt xa khả năng tự làm sạch tự nhiên. Nồng độ COD dao động từ 33,5 đến 140 mg/l, vượt ngưỡng tiêu chuẩn nước mặt loại B. Tỷ lệ N/P trong nước dao động từ 0,76 đến 7,37 (chủ yếu dưới mức 5), khiến Nitơ trở thành yếu tố kích thích hiện tượng phú dưỡng bùng phát cục bộ tại các vị trí cửa cống.
So sánh với các nghiên cứu lịch sử, cấu trúc sinh học của Hồ Tây đã suy thoái rõ rệt. Giai đoạn 1960 - 1961, sinh khối động vật đáy đạt từ 2.174 đến 9.244 g/m2 với nhóm ốc chiếm trên 80% sinh khối (theo số liệu năm 1996), nhưng đến nay sinh khối tổng thể đã giảm hơn 97% và ốc chỉ còn chiếm 4%. Việc kè cứng toàn bộ 18 km bờ hồ đã xóa bỏ các bãi ngập nước nông ven bờ, tiêu diệt các thảm thực vật thủy sinh lớn như rong đuôi chó, rong đuôi chồn, sen và súng. Điều này dẫn đến sự mất mát nơi làm tổ và kiếm ăn của khu hệ chim nước, khiến số loài chim giảm từ 43 loài (năm 2002) xuống còn 24 loài (năm 2013), điển hình là đàn chim sâm cầm quý hiếm nay chỉ còn xuất hiện đơn lẻ.
Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu trên, các tập dữ liệu nên được cấu trúc thành các dạng biểu đồ chuyên biệt:
- Biểu đồ cột phân nhóm so sánh tỷ lệ phần trăm thành phần loài của 4 ngành tảo và 4 nhóm động vật đáy qua các mốc thời gian 1996, 2002, 2011 và 2013 để làm nổi bật xu hướng gia tăng của các loài chỉ thị ô nhiễm hữu cơ.
- Biểu đồ đường kép biểu diễn tương quan giữa lưu lượng nước thải tại 7 cống xả chính với biến động chỉ số đa dạng loài H' tại 8 trạm lấy mẫu thực địa.
- Bảng ma trận tương quan giữa các thông số hóa lý (COD, BOD5, Nito tổng, Phốt pho tổng) với mật độ cá thể của giun ít tơ và ấu trùng muỗi lắc để minh chứng mức độ tác động của tải lượng ô nhiễm đến cấu trúc sinh vật đáy.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Ứng dụng giải pháp công nghệ sinh thái thông qua việc thiết lập các bè thực vật thủy sinh nổi: Triển khai lắp đặt hệ thống bè nổi phủ diện tích từ 25 đến 40 ha (tương đương 5% đến 8% diện tích mặt nước) bằng các loài cây có khả năng tích lũy dinh dưỡng và kim loại nặng cao như Thủy trúc, Bèo tây, Rau ngổ và Bèo hoa dâu. Mục tiêu cắt giảm 40% đến 60% hàm lượng COD và hấp thu 30% đến 45% lượng phốt pho hòa tan trong thời gian 18 đến 24 tháng. Đơn vị chủ trì thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội phối hợp với Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.
-
Điều chỉnh quy trình toán học trong quản lý thả giống và đánh bắt thủy sản: Tái cấu trúc thành phần đàn cá nuôi theo mô hình cân bằng sinh thái chu trình vật chất. Khống chế mật độ thả giống ở mức 40 đến 46 kg/ha (tương đương 2,5 đến 3,0 triệu con giống/năm), gia tăng tỷ lệ các loài cá ăn thực vật nổi (cá mè) và cá ăn mùn bã hữu cơ đáy nhằm kiểm soát sinh khối vi tảo và làm sạch nền đáy hồ. Lộ trình thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 2015 đến năm 2020. Đơn vị thực hiện: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đầu tư Khai thác Hồ Tây.
-
Xây dựng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật tách gom nước thải: Đầu tư nâng cấp hệ thống cống bao thu gom toàn bộ nước thải sinh hoạt dọc các tuyến đường Thụy Khuê, Trích Sài, Yên Phụ và Quảng An với công suất xử lý đạt trên 50.000 m3/ngày trước khi xả ra môi trường. Đồng thời tiến hành nạo vét có kiểm soát từ 20 đến 30 cm lớp bùn trầm tích ô nhiễm tại các khu vực cửa cống Tàu Bay, cống Cây Si và cống Đõ trong giai đoạn 2015 - 2018. Đơn vị chủ trì: Ban Quản lý Dự án Thoát nước Hà Nội.
-
Tăng cường thể chế quản lý nhà nước và kiểm soát sinh vật ngoại lai: Thành lập Ban Quản lý thống nhất Hệ sinh thái Hồ Tây nhằm thực thi nghiêm ngặt Quyết định 1479/QĐ-TTg, xóa bỏ tình trạng phân tán quản lý giữa các sở ngành. Ban hành quy chế nghiêm cấm thả phóng sinh các loài sinh vật ngoại lai xâm hại nguy hiểm như rùa tai đỏ và ốc bươu vàng, đồng thời phục hồi các dải cây xanh ngập nước tự nhiên tại khu vực phía Bắc hồ trong giai đoạn 2015 - 2017. Đơn vị thực hiện: Ủy ban Nhân dân Quận Tây Hồ phối hợp cùng Chi cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và quy hoạch đô thị: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Chi cục Bảo vệ Môi trường và Ủy ban Nhân dân Quận Tây Hồ có thể sử dụng bộ dữ liệu kiểm kê 68 loài thực vật nổi, 48 loài động vật đáy và các chỉ số H', D để làm căn cứ khoa học phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xây dựng đề án bảo tồn vùng nước nội địa và thiết lập quy hoạch thoát nước bền vững cho thủ đô.
-
Các doanh nghiệp vận hành công trình thoát nước và khai thác thủy sản: Đội ngũ kỹ sư tại Ban Quản lý Thoát nước Hà Nội và Công ty Khai thác Cá Hồ Tây có thể ứng dụng số liệu tính toán tải lượng phốt pho từ 4.780 đến 6.857 kg/năm và các mô phỏng chu trình sinh khối cá để tối ưu hóa công suất trạm xử lý nước thải cục bộ, đồng thời xác định hạn ngạch đánh bắt thủy sản hợp lý mà không làm kiệt quệ hệ sinh thái tự nhiên.
-
Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Sinh thái học và Môi trường: Các nhà nghiên cứu thuộc các trường đại học khối khoa học tự nhiên có thể tham khảo quy trình phương pháp luận chuẩn hóa theo UNESCO (1978), hệ thống công thức tính toán chỉ số đa dạng Shannon-Weiner và bộ chuỗi số liệu sinh thái liên tục từ năm 1960 đến năm 2013 để làm tài liệu giảng dạy, phát triển các mô hình toán sinh thái ứng dụng cho các thủy vực nước ngọt đô thị nhiệt đới.
-
Các tổ chức phi chính phủ bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng dân cư địa phương: Các điều phối viên dự án bảo tồn nguồn nước có thể trích dẫn các bằng chứng định lượng về sự suy giảm các loài bản địa (như chim sâm cầm, cây sen Hồ Tây, cá trắm đen) để thiết kế các chiến dịch truyền thông cộng đồng, thúc đẩy phong trào không xả rác thải rắn và ngăn chặn hành vi phóng sinh sinh vật ngoại lai có hại vào hồ.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao chỉ số đa dạng Shannon-Weiner tại Hồ Tây lại ở mức thấp dù số lượng loài cá ghi nhận lên tới 48 loài?
Chỉ số Shannon-Weiner phản ánh đồng thời cả số lượng loài và độ đồng đều về số lượng cá thể giữa các loài. Mặc dù ghi nhận 48 loài cá, cấu trúc quần xã bị chi phối lệch hẳn về họ cá Chép với 29 loài (chiếm 60,43%) và sản lượng cá mè nuôi thả chiếm tới 70% đến 85% tổng sinh khối. Sự áp đảo của các loài cá nuôi công nghiệp cùng sự suy giảm mạnh của các loài cá bản địa khiến chỉ số H' toàn hồ chỉ đạt mức thấp từ 1,08 đến 1,14.
Nguồn gây ô nhiễm chính làm suy thoái hệ sinh thái Hồ Tây là gì?
Nguồn ô nhiễm chủ yếu xuất phát từ nguồn thải điểm sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý đổ vào hồ qua các cống chính như cống Cây Si (35.424 m3/ngày) và cống Tàu Bay (17.280 m3/ngày). Hàng năm, các nguồn này xả thẳng từ 4.780 đến 6.857 kg phốt pho vào lòng hồ, gây ra tình trạng ô nhiễm hữu cơ với nồng độ COD đạt 33,5 đến 140 mg/l, vượt xa tiêu chuẩn nước mặt loại B theo TCVN 5942-1995.
Sự biến động của quần xã động vật đáy cảnh báo điều gì về môi trường nước?
Quần xã động vật đáy hiện bị thống trị bởi 25 loài giun ít tơ Oligochaeta (chiếm 52% số loài) và ấu trùng muỗi lắc Chironomidae, chiếm tổng cộng 96% sinh khối đáy (52 g/m2). Trong khi đó, các loài thân mềm chỉ thị nước sạch chỉ còn chiếm 4% sinh khối, giảm mạnh so với mức trên 80% của năm 1996. Đây là chỉ thị sinh học rõ ràng cho thấy tầng đáy hồ đang tích tụ lớp bùn đen hữu cơ dày và thiếu hụt oxy nghiêm trọng.
Thực nghiệm nuôi trồng thực vật thủy sinh trong phòng thí nghiệm đạt kết quả như thế nào?
Thực nghiệm sử dụng 5 loài thực vật thủy sinh (Thủy trúc, Bèo tây, Bèo hoa dâu, Rau ngổ, Rau muống) nuôi trong bình 3 lít nước lấy từ khu vực cống Trúc Bạch đã chứng minh hiệu quả làm sạch nước rõ rệt sau 7 đến 30 ngày. Các loài cây này hấp thụ mạnh mẽ hàm lượng amoni, nitrat, phốt phát và các ion kim loại nặng, làm giảm đáng kể chỉ số COD và chứng minh tính khả thi cao khi ứng dụng bè nổi sinh học ngoài thực địa.
Việc kè cứng toàn bộ bờ bao ảnh hưởng như thế nào đến các loài chim và bò sát lưỡng cư?
Việc bê tông hóa 18 km bờ hồ đã xóa sổ hoàn toàn các dải cây bụi, bãi sậy và thảm thực vật ngập nước ven bờ. Hậu quả là các loài chim mất bãi đẻ và nguồn thức ăn, khiến số loài chim giảm mạnh từ 43 loài năm 2002 xuống 24 loài năm 2013, quần thể chim sâm cầm chỉ còn lại vài cá thể rải rác. Tương tự, khu hệ lưỡng cư - bò sát chỉ còn 8 loài và bắt đầu xuất hiện các loài ngoại lai xâm hại như rùa tai đỏ do tập tục phóng sinh.
Kết luận
- Hệ sinh thái Hồ Tây với diện tích 516 ha đang đối mặt với tình trạng suy thoái đa dạng sinh học và ô nhiễm hữu cơ vừa, thể hiện qua chỉ số đa dạng Shannon-Weiner ở mức thấp (H' dao động từ 1,08 đến 1,14).
- Cấu trúc thành phần loài có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang các nhóm chỉ thị phú dưỡng với Tảo lam chiếm 60% mật độ vi tảo, Trùng bánh xe chiếm 26% động vật nổi và Giun ít tơ chiếm 52% thành phần loài động vật đáy.
- Sản lượng khai thác thủy sản sụt giảm 57,38% trong vòng 11 năm (từ 706.846 kg năm 2001 xuống 301.283 kg năm 2012), đi kèm sự biến mất của các loài bản địa quý như cá trắm đen tự nhiên và sự suy giảm khu hệ chim nước từ 43 loài xuống 24 loài.
- Xác định nguyên nhân cốt lõi là do tiếp nhận lượng nước thải sinh hoạt vượt 50.000 m3/ngày mang theo 4.780 đến 6.857 kg phốt pho mỗi năm từ các cống xả ven bờ kết hợp tác động tiêu cực của việc kè cứng 18 km bờ hồ.
- Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp tích hợp bao gồm: thả 25 đến 40 ha bè nổi thực vật thủy sinh, điều chỉnh hạn ngạch thả cá giống ở mức 40 đến 46 kg/ha, nâng cấp hệ thống cống gom nước thải sinh hoạt và thành lập Ban Quản lý thống nhất Hệ sinh thái Hồ Tây.
Luận văn đã đóng góp một hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng có giá trị cao, phản ánh chính xác hiện trạng đa dạng sinh học Hồ Tây giai đoạn 2012 - 2014, đồng thời cung cấp mô hình toán học cân bằng vật chất kết hợp công nghệ sinh thái để bảo vệ môi trường nước đô thị. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng khẩn trương triển khai thí điểm mô hình bè nổi sinh học trong giai đoạn 2015 - 2017 và hoàn thành việc xử lý triệt để các cống xả điểm trước năm 2020. Các nhà quản lý, nhà khoa học và cộng đồng xã hội cần nhanh chóng phối hợp hành động để bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái Hồ Tây, gìn giữ di sản thiên nhiên và lá phổi xanh vô giá của thủ đô Hà Nội.