Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc và biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn Sao La, Thừa Thiên Huế

Luận án tiến sĩ phân tích sinh học đề tài nghiên cứu tài nguyên cây thuốc khu bảo tồn sao la tỉnh thừa thiên huế và đề xuất, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

209
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài luận án

1.4. Bố cục của luận án

2. CHƯƠNG 1: Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới

2.1. Lịch sử nghiên cứu và tình hình điều tra thống kê

2.2. Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế

2.3. Tiềm năng phát triển

2.4. Tình hình nghiên cứu bảo tồn, các mối đe dọa nguồn tài nguyên cây thuốc

2.5. Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

2.5.1. Lịch sử nghiên cứu và tình hình điều tra thống kê

2.5.2. Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế

2.5.3. Tiềm năng phát triển

2.5.4. Tình hình nghiên cứu bảo tồn, các mối đe dọa nguồn tài nguyên cây thuốc

2.6. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thừa Thiên Huế và điều kiện tự nhiên xã hội Khu bảo tồn Sao La

2.6.1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thừa Thiên Huế

2.6.2. Điều kiện tự nhiên, xã hội Khu bảo tồn Sao La

2.7. Tổng quan nghiên cứu các chất có hoạt tính sinh học từ thực vật

2.7.1. Lịch sử nghiên cứu các chất có hoạt tính sinh học

2.7.2. Hướng nghiên cứu các chất có hoạt tính oxi hóa, kháng viêm

2.7.3. Những nghiên cứu hóa học về chi xà căn Ophiorrhiza

3. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.4. Địa điểm nghiên cứu

4. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn Sao La, tỉnh Thừa Thiên Huế

4.1.1. Tính đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc

4.1.2. Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc

4.1.3. Tiềm năng chữa các nhóm bệnh khác nhau của các loài cây thuốc

4.1.4. Đa dạng về nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm

4.1.5. Giá trị khoa học

4.2. Tình hình khai thác, sử dụng và nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào bản địa tại khu vực Khu bảo tồn Sao La

4.2.1. Tình hình khai thác cây thuốc trong khu vực nghiên cứu

4.2.2. Cách khai thác và chế biến cây thuốc của người dân tại khu vực nghiên cứu

4.3. Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài thực vật làm thuốc tiềm năng

4.3.1. Sàng lọc hoạt tính gây độc tế bào ung thư, kháng viêm của những loài dược liệu tiềm năng tại khu vực nghiên cứu

4.3.2. Nghiên cứu thành phần hóa học của Xà căn ba vì (Ophiorrhiza baviensis)

4.3.3. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư, kháng viêm của các hoạt chất chính phân lập từ 01 loài dược liệu tiềm năng

4.4. Các giải pháp quản lý, bảo tồn và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc ở Khu bảo tồn Sao La

4.4.1. Giải pháp quản lý, khai thác bền vững tài nguyên cây thuốc

4.4.2. Bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận. Kết luận

Kiến nghị. Kiến nghị

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc tại khu bảo tồn Sao La

Khu bảo tồn Sao La, nằm ở tỉnh Thừa Thiên Huế, là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao. Nơi đây không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật quý hiếm mà còn là nguồn tài nguyên phong phú về cây thuốc. Việc nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc tại khu vực này không chỉ giúp bảo vệ hệ sinh thái mà còn góp phần vào việc phát triển y học cổ truyền và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

1.1. Đặc điểm sinh thái và đa dạng sinh học của khu bảo tồn Sao La

Khu bảo tồn Sao La có diện tích rộng lớn với nhiều loại hình sinh thái khác nhau. Địa hình gồ ghề và khí hậu đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài cây thuốc quý hiếm. Theo thống kê, khu vực này có khoảng 600 loài thực vật, trong đó nhiều loài đã được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam.

1.2. Vai trò của cây thuốc trong đời sống cộng đồng địa phương

Cây thuốc không chỉ là nguồn dược liệu quý giá mà còn là phần không thể thiếu trong văn hóa và đời sống của người dân địa phương. Nhiều loài cây như Bình vôi, Thiên niên kiện được sử dụng để chữa trị các bệnh thông thường, góp phần nâng cao sức khỏe cho cộng đồng.

II. Thách thức trong việc bảo tồn cây thuốc tại khu bảo tồn Sao La

Mặc dù khu bảo tồn Sao La có tiềm năng lớn về cây thuốc, nhưng việc bảo tồn nguồn tài nguyên này đang gặp nhiều thách thức. Sự khai thác quá mức, biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế không bền vững đang đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài cây thuốc quý.

2.1. Nguy cơ từ khai thác và sử dụng không bền vững

Việc khai thác cây thuốc để phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng đang dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên. Nhiều loài cây quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện sinh trưởng của các loài cây thuốc. Thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa có thể làm giảm khả năng phát triển và sinh sản của nhiều loài thực vật quý hiếm.

III. Phương pháp nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc hiệu quả

Để bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu bảo tồn Sao La, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu và bảo tồn hiệu quả. Việc kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn địa phương sẽ mang lại kết quả tích cực.

3.1. Nghiên cứu thành phần loài và hoạt tính sinh học

Việc nghiên cứu thành phần loài và hoạt tính sinh học của các loài cây thuốc là rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp xác định giá trị dược liệu mà còn tạo cơ sở cho các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

3.2. Xây dựng mô hình bảo tồn bền vững

Xây dựng mô hình bảo tồn bền vững kết hợp giữa bảo tồn tự nhiên và phát triển kinh tế địa phương là một giải pháp khả thi. Mô hình này sẽ giúp người dân địa phương có thể khai thác cây thuốc một cách bền vững mà vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu cây thuốc tại khu bảo tồn Sao La

Kết quả nghiên cứu về cây thuốc tại khu bảo tồn Sao La không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển y học cổ truyền và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực.

4.1. Tăng cường nhận thức cộng đồng về giá trị cây thuốc

Cần tổ chức các chương trình tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của cây thuốc. Điều này sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này.

4.2. Phát triển sản phẩm từ cây thuốc

Phát triển các sản phẩm từ cây thuốc như trà thảo dược, tinh dầu sẽ không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các sản phẩm này cần được chứng nhận chất lượng để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nghiên cứu cây thuốc

Nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc tại khu bảo tồn Sao La là một nhiệm vụ cấp thiết. Việc áp dụng các biện pháp bảo tồn hiệu quả sẽ giúp bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này cho các thế hệ tương lai. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn địa phương.

5.1. Đề xuất các chính sách bảo tồn hiệu quả

Cần có các chính sách bảo tồn rõ ràng và hiệu quả nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc. Các chính sách này cần được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn địa phương.

5.2. Khuyến khích nghiên cứu và phát triển bền vững

Khuyến khích các nghiên cứu về cây thuốc và phát triển bền vững sẽ giúp nâng cao giá trị của nguồn tài nguyên này. Các chương trình nghiên cứu cần được hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật để đạt được hiệu quả cao nhất.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới 1. Lịch sử nghiên cứu và tình hình điều tra thống kê Loài người đã sử dụng thực vật làm thuốc từ rất sớm và có nhiều bằng chứng cho điều này. Người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền [9].

Người Sumer từ Nagpur, Ấn Độ, lưu giữ 12 công thức pha chế thuốc, hơn 250 loại cây khác nhau được khắc lên phiến đất sét, khoảng 5000 năm trước [10,11], Người Ai Cập cổ đại ghi chép 800 bài thuốc và trên 700 vị thuốc trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây [9]. Cuốn “Ebers papyrus in Egypt”, được người Ai Cập cổ viết vào khoảng năm 1550 TCN, đã ghi lại hơn 780 toa thuốc và công thức sử dụng, 700 loại thảo dược và các chứng bệnh như quả lựu, cây thầu dầu, lô hội, tỏi, hành, vả, liễu, rau mùi, bách xù,. Theo dữ liệu từ Kinh thánh và sách thánh Do Thái Talmud, cây chứa tinh dầu được sử dụng trong nghi lễ và phương pháp điều trị bệnh [15] Ở Châu Á, đất nước Ấn Độ được xem là "cái nôi" của y học cổ với rất nhiều tài liệu ghi chép được truyền lại. Trong đó cuốn sách cổ nhất: "Rig-Veda" được viết vào khoảng 4.500 TCN, đã đề cập đến việc điều trị bệnh bằng thực vật, có nhiều loại cây gia vị được sử dụng như: Nhục đậu khấu, Tiêu, Đinh hương,.

[16] Cuốn sách đã giới thiệu hệ thống y học cổ Ayurvedic vào khoảng 4.400TCN, tiếp đến các hệ thống như: Unani, Siddha và Tibetan dùng để chữa trị cho dân tộc này và các dân tộc khác. Ở thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Sushruta đã viết "Sushruta Amhita", trong đó mô tả 700 cây thuốc, nhiều cây thuốc vẫn được sử dụng trong y học hiện đại [17]. Cùng với Ấn Độ, Trung Quốc ghi nhận sử dụng dược liệu từ rất sớm. Cuốn dược điển "Pen T' Sao"do Shen Nung khoảng 2500 năm TCN, đề cập 365 vị thuốc và cây thuốc, nhiều trong số chúng được sử dụng ngay cả ngày nay như: Đại hoàng, Long não, Khổ sâm vàng, Nhân sâm, vỏ Quế, Ma hoàng,.

Cộng đồng dân tộc thiểu số Trung Quốc cũng đã biết sử dụng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc, trong đó, Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1. Năm 1985, cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” thống kê hầu hết các loài cây cỏ có tác dụng chữa bệnh ở Trung Quốc [21]. Gần đây Thomas S. Li ở Đài Loan, Trung NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC KHU BẢO TỒN SAO LA, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Quốc công bố hơn 1.000 loài cây thuốc, danh sách này sắp xếp theo bảng chữ cái Latin [22].

Trong tác phẩm này, ông đã nhấn mạnh tính năng quan trọng để con người trở nên quen thuộc với chất độc thực vật là cách tăng dần liều lượng sử dụng [25, 26] Vào năm 77 sau công nguyên (SCN), Dioscorides với tư cách là bác sĩ quân y và dược sĩ của quân đội Nero, đã nghiên cứu cây thuốc nơi ông đi qua cùng quân đội La Mã. Tác phẩm “De Materia Medica” do ông viết cung cấp nhiều dữ liệu về cây thuốc chữa bệnh từ thời Trung cổ và thời kỳ Phục hưng [27, 28] Trong tổng số 944 loại thuốc được mô tả, có 657 loại có nguồn gốc thực vật, với các mô tả về hình thái, phân bố, cách thu hái, làm các chế phẩm thuốc và hiệu quả điều trị [29,30]. Pliny the Elder (23 -79 SCN) người đã đi khắp Đức và Tây Ban Nha, viết về khoảng 1000 cây thuốc trong cuốn sách “Historia naturalis”[31]. Các tác phẩm của hai ông đã tổng hợp tất cả kiến thức về cây thuốc thời bấy giờ.

Thế kỷ 18, Linnaeus trong tác phẩm: "Species Plantarium" (1753) đã cung cấp một mô tả ngắn gọn và phân loại loài được mô tả cho đến lúc đó. Ông đã đề ra phương pháp đặt tên loài được dùng cho đến ngày nay [32] Năm 1978, WHO chính thức khởi động một chương trình quốc tế nhằm thúc đẩy và phát triển các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong y học cổ truyền (WHO, 1978; Tsige Gebremariam và Kaleab Asres, 2001) [33,34]. Ðầu thế ỷ XX, Perry (1985) đã công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Ðông Nam Á để tổng hợp thành cuốn “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” trong chương trình nghiên cứu về thực vật nơi đây [35]. Cây thuốc bản địa và thực vật học dân tộc được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu và thống kê, đây là những dẫn liệu khoa học quý cho các dân tộc khắp thế giới, đại diện như: điều tra dân tộc học của các bộ lạc Akha của Thái Lan [36], tại Massif của Monteseny, nằm ở phía đông bắc Catalonia (Bán đảo Iberia) từ năm 1993 đến năm 2000 [37], ở Mihalgazi thuộc tỉnh Eskisdehir ở Thổ Nhĩ Kỳ [38], cây thuốc trong khu vực Avsar (Kahramanmaras) và vùng phụ cận, Thổ Nhỉ Kì [39], cây thuốc tộc người Jah Hut (bán đảo Mã Lai ) [40].

Nghiên cứu cây thuốc cổ truyền dùng để NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC KHU BẢO TỒN SAO LA, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG điều trị bệnh sốt rét ở Ethiopia [41]. Điều tra dân tộc học về cây NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC KHU BẢO TỒN SAO LA, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG thuốc tại hai quần đảo Madeira và Porto Santo thuộc Bồ Đào Nha. Trong số 1209 loài ghi nhận ở hai quần đảo này, có 259 loài chiếm 21,42% đã được sử dụng làm thuốc [42] Khi nghiên cứu tài nguyên cây thuốc của một số tộc người bản xứ ở Ấn Độ: người bản xứ Kumaun vùng Himalaya, bộ tộc Alipurduar ở huyện Santal, Tây Bengal, ở Bắc Bengal. Các cộng đồng đã sử dụng và thu hái cây thuốc từ rừng và vườn nhà để chữa các nhóm bệnh và đặc biệt đã có ý thức bảo tồn cây thuốc tại vườn nhà [43,44,45] Theo ước lượng các nhà khoa học, có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới.

Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Sri Lanka có khoảng 550-700 loài [9] 1. Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế "Cây trồng phụ có giá trị cao" là cụm từ dùng để chỉ các loại thảo mộc, gia vị, dược liệu và cây tinh dầu, nói chung là những cây đóng góp nhỏ vào sản lượng nông nghiệp của một quốc gia (Sher và cs, 2014)[46]. Các loại dược phẩm có nguồn gốc từ thực vật có thể được bào chế bởi các ngành sản xuất thuốc. Thương mại quốc tế về cây thuốc và các sản phẩm của chúng ước tính đạt 60 tỷ đô la vào năm 2010, và đến năm 2050, dự kiến đạt 5 nghìn tỷ đô la [47].

Từ đánh giá này, rõ ràng là giá trị kinh tế ngày càng tăng của cây thuốc mà các nước đang phát triển cần khai thác để cải thiện hệ thống kinh tế và chăm sóc sức khỏe của họ. Các quốc gia “mới nổi” dường như hiểu được động lực kinh tế này và đang phải đương đầu với những thách thức. Đặc biệt, các nước đang phát triển từ khu vực Châu Phi cần phải nỗ lực hơn nữa để đối mặt với những thách thức về sức khỏe và kinh tế này, đặc biệt là khi đối mặt với sự hồi sinh và xuất hiện của các chủng vi sinh vật gây bệnh và ung thư kháng thuốc đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với tồn tại của con người [48]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), báo cáo rằng khoảng 70% đến 80% người dân trên toàn cầu dựa vào các nguồn thảo dược để điều trị bệnh [49] NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC KHU BẢO TỒN SAO LA, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Quy mô thị trường các sản phẩm làm đẹp từ thảo dược toàn cầu được định giá 78,5 tỷ đô la vào năm 2019 và dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 5,2% từ năm 2020 đến năm 2027.

Các sản phẩm thảo dược làm đẹp được cho là sẽ mở rộng thị trường trên toàn thế giới [50] Khi đánh giá vai trò của cây thuốc trong sự đóng góp phát triển kinh tế của bang Uttaranchal, Himalaya. Chandra Prakash Kala (2015) đã nhận thấy chính phủ và chính quyền bang đang có chiến lược thúc đẩy hoạt động công nghiệp dựa trên cây thuốc, xác định tiềm năng có sẵn của 964 loài cây thuốc bản địa là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế của bang này [51]. Tiềm năng phát triển Từ việc phân tích nhu cầu thị trường và đánh giá qua số liệu ghi nhận được qua sự tiêu dùng dược phẩm trên toàn cầu, các chuyên gia đã đưa ra dự báo nhu cầu dược liệu cho thế giới rất cao và chưa được cung ứng đủ. Dự báo đến năm 2050, giá trị thương mại thảo dược thế giới đạt nghìn tỷ đô la, thị trường sẽ thiếu hụt nguồn cung ứng các loại thuốc thiết yếu.

Châu Á, Châu Phi và Châu Âu dự kiến nhập khẩu khoảng 1 tỷ đô la từ cây thuốc và cây tinh dầu để phục vụ nhu cầu chữa bệnh và trị liệu. Cũng theo dự báo, hơn một nửa dân số thế giới sẽ sống ở các quốc gia có mức tiêu thụ thuốc vượt quá 01 liều/người/ ngày, tổng cộng hàng năm lên đến 4,5 nghìn tỷ liều trong năm 2020, tăng 24% so với năm 2015 [56]. Mặc dù tỷ trọng cây thuốc chiếm phần nhỏ trong sản lượng nông nghiệp, nhưng giá trị lại cao nhất trong số các loại cây được buôn bán. Cây thuốc được xem như cây tiềm năng cao trong họat động sản xuất nông nghiệp, đóng góp cho nền kinh tế khu vực [57,58].

Các quốc gia Nam Á và Tây Á đã có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng trọt, thu hái và buôn bán cây thuốc, cây thơm từ nhiều thế kỉ trước [59,60]. Các nước Đông Nam Á có đa dạng sinh học cao, tri thức y học cổ truyền phong phú.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ