mở đầu không phù hợp (false starts), dừng nghỉ (pauses), thêm bớt (additions and ommissions), cho nên hành năng thực sự (actual performance) không thể phản ánh được ngữ pháp chứa đựng trong tri năng của người sử dụng. Vì thế mà cần tập trung nghiên cứu và mô tả ngôn ngữ thông qua tri năng đã được trừu tượng hoá hơn là thông qua các dữ liệu ngôn ngữ trong lời nói tự nhiên (hành năng) thường hay bị đi chệch đối với các quy luật ngữ pháp. Như vậy, khi phân biệt ra hai phạm vi tri năng và hành năng Chomsky xem tri năng như là cơ cấu vững chắc và trọng yếu, tập trung vào tri năng chính là tập trung vào những gì chính yếu và quan trọng nhất, còn hành năng chẳng qua là những hiện tượng thứ yếu, phụ gia, và không quan trọng 165, 24. Uyển ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ tinh tế và phức tạp.
Chúng có thể là các khuôn mẫu (models), những hình thái ngôn ngữ chuẩn mực được bao gồm trong hành năng chịu các cơ chế về sản sinh chuyển đổi để tạo nghĩa. Nhưng rõ ràng uyển ngữ không chỉ gò bó lệ thuộc vào tri năng. Wales 79 cho rằng sự phân biệt tri năng-hành năng không bao gồm sự thích hợp (appropriateness) của một phát ngôn trong một ngữ cảnh sử dụng nào đó hay ý nghĩa văn hoá xã hội của phát ngôn ấy. Chính sự thích hợp và yếu tố văn hoá xã hội là hai điểm tựa cơ bản về ngữ nghĩa của một uyển ngữ, đó chính là môi trường ngữ nghĩa của uyển ngữ.
Vào những năm 1960, một số nhà ngôn ngữ học bắt đầu lưu ý đến các hiện thực phức tạp của việc sử dụng ngôn ngữ trong xã hội. Các bài nghiên cứu ngôn ngữ mang sắc thái xã hội được thực hiện, như các bài nghiên cứu của Dell Hymes năm 1964, của Bright năm 1966, của Fisherman năm 1968 và 1971. Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong xã hội, theo W. Labov 121, 60, không gò bó trong phạm vi hình thái trừu tượng hay thuần tuý của nó, như Saussure và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Chomsky đã làm đối với ngôn ngữ (langue) hay tri năng (competence), mà ngược lại, giờ đây lời nói (parole) theo quan điểm của Saussure, và hành năng (performance) trở thành chất liệu của ngôn ngữ học (substance of linguistics), vì Labov 121, 153 cho rằng.
điều hiển nhiên là dữ liệu cơ bản cho bất kỳ loại hình ngôn ngữ học đại cương nào sẽ là ngôn ngữ khi nó được sử dụng bởi người bản xứ để giao tiếp với nhau trong đời sống hàng ngày. Hymes 117, có những quy luật sử dụng ngôn ngữ (rules of language use) có mối quan hệ thân thiết với các quy luật tương tác xã hội và hành vi xã hội thích hợp mà lý thuyết của Chomsky đã bỏ qua. Hymes 117 mở rộng lý thuyết tri năng của Chomsky, cho rằng tri năng hay năng lực ngữ pháp chỉ là một thành phần của toàn bộ năng lực mà một người bản xứ cần thụ đắc. Họ gọi năng lực này là năng lực giao tiếp (communicative competence), bao gồm kiến thức về các quy luật ngôn ngữ được sử dụng trong các tình huống và ngữ cảnh văn hoá xã hội cụ thể, bên cạnh năng lực ngữ pháp (linguistic competence), hay tri năng của Chomsky, và phân biệt với hành năng chỉ sự thể hiện cụ thể tri năng với tất cả các lỗi về sự thể hiện (performance errors), hay biến trạng hành ngôn như đã nói ở trên.
Sau này, vào năm 1980, M. Swain 80 mở rộng phạm vi của năng lực giao tiếp bằng cách cụ thể hoá các thành tố ý nghĩa tạo nên năng lực này, bao gồm: năng lực ngữ pháp (linguistic competence); năng lực xã hội ngôn ngữ học (sociolinguistic competence); năng lực diễn ngôn (discourse competence); và năng lực chiến lược (strategic competence). Nắm được một uyển ngữ có nghĩa là sử dụng và hiểu được uyển ngữ ấy trong các tình huống giao tiếp. Nắm được một biện pháp cú pháp mang uyển tính cũng có nghĩa là nói và hiểu được nó trong thực tế giao tiếp.
Vì thế mà năng lực giao tiếp đã đáp ứng mọi yêu cầu cần có được của kiến thức và khả năng sử dụng uyển ngữ hay các biện pháp cú pháp mang uyển tính. Không có kiến thức về văn hoá xã hội của các uyển ngữ, không thông qua tương tác theo từng ngữ cảnh cụ thể đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 với ngôn ngữ đang sử dụng, nắm được các quan hệ đối với các yếu tố giao tiếp thì người sử dụng làm sao có được một năng lực sử dụng các uyển ngữ ấy một cách thích hợp và hiệu quả. Không nghi ngờ gì nữa, uyển ngữ và khả năng sử dụng uyển ngữ được bao hàm trong năng lực giao tiếp. Nhìn chung, cùng với sự phát triển về kinh tế văn hoá xã hội của các cộng đồng, uyển ngữ cũng có những phát triển và thay đổi nhất định.
Các lĩnh vực hành chức của uyển ngữ đã trở nên nhiều hơn so với trước đây. Tuy nhiên, mãi cho đến thời kỳ của Ngôn ngữ xã hội học, của ngữ dụng học, uyển ngữ mới có cơ hội thể hiện đầy đủ ý nghĩa của mình, mới chuyên chở hết các nét nghĩa văn hoá xã hội thích hợp, mới thể hiện các yếu tố thẩm mỹ, trong giao tiếp bằng lời hay qua các văn bản viết. Và cũng cho đến thời kỳ này, khuôn mặt ngôn ngữ học của uyển ngữ như một biến thể ngôn ngữ (linguistic variation), một hành động lời nói (a speech act), hoặc bao trùm hơn, một biện pháp tu từ (stylistic device) sử dụng một cách thích hợp và thẩm mỹ trong các tình huống giao tiếp với các đặc trưng về ngữ âm, từ vựng và cú pháp, mới trở nên rõ nét trong ngôn ngữ học hiện đại. CÁC BÌNH DIỆN NGHIÊN CỨU UYỂN NGỮ Ba bình diện có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động và ngữ nghĩa của uyển ngữ đó là từ vựng học, phong cách học, và ngữ dụng học.
Luận án cho rằng ba bình diện từ vựng học, phong cách học và ngữ dụng học của một uyển ngữ có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau trong việc xác định ngữ nghĩa của uyển ngữ đó. Từ vựng học, với các nguyên tắc nghĩa học sẽ làm cơ sở giới thiệu các nét nghĩa khác nhau của uyển ngữ. Phong cách học và ngữ dụng học sẽ giúp hiện thực hoá (realisation) các nét nghĩa ngữ nghĩa học của uyển ngữ: phong cách học đưa ra những nguyên tắc giúp chúng ta lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ, trong đó có uyển ngữ cho phù hợp một phong cách chức năng nào đó; ngữ dụng học, với những nguyên tắc và cơ chế nghiên cứu ngữ nghĩa của nó sẽ giúp việc hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 thực hoá các nét nghĩa của uyển ngữ một cách thích hợp và đạt hiệu quả trong giao tiếp. UYỂN NGỮ TRÊN BÌNH DIỆN TỪ VỰNG HỌC Việc nghiên cứu nghĩa được tạo lập thế nào trong một ngôn ngữ chính là công việc của ngữ nghĩa học (Semantics), và chính vì thế mà ngôn ngữ học quan tâm chủ yếu đến các ý nghĩa của các từ.
Phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học không chỉ dừng lại ở cấp độ từ vựng mà còn hướng đến những cấp độ thấp hơn như hình vị và cao hơn như từ ngữ (phrases) hay câu (sentences). Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu ấy của ngữ nghĩa học, như G. Yule 168, 4 đã xác định, chỉ nghiên cứu những mối quan hệ giữa các hình thái ngôn ngữ và các thực thể (entities) của thế giới khách quan, có nghĩa là, các từ được gắn liền một cách chính xác với các sự vật như thế nào và sự phân tích ngôn ngữ học cố gắng hình thành các mối quan hệ giữa các miêu tả bằng lời với tình trạng sự vật ở thế giới khách quan một cách chính xác, bất kể người nói đó là ai. Nhiều uyển ngữ có nghĩa độc lập với cách dùng, tuy nhiên muốn nắm được chính xác, đầy đủ cái nghĩa độc lập với ngữ cảnh của uyển ngữ thì không thể không phân tích cách dùng của nó.
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu nghĩa của ngữ nghĩa học sẽ giúp chúng ta nắm được các nét nghĩa này của uyển ngữ, làm cơ sở ngữ nghĩa giúp ta tiến sâu vào nghiên cứu uyển ngữ ở bình diện phong cách và ngữ dụng. CÁC NÉT NGHĨA CỦA UYỂN NGỮ Một uyển ngữ đang được sử dụng muốn được đưa vào hệ thống ngôn ngữ ít nhất nó cần phải có một nét nghĩa để có thể khu biệt với các uyển ngữ hay đơn vị khác trong hệ thống. Tác giả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 nhấn mạnh rằng nếu nội dung một ngôn bản có hai thành phần: nội dung miêu tả và nội dung liên nhân, thì trong cấu trúc ý nghĩa của từ cũng có sự phân biệt các nét nghĩa miêu tả và các nét nghĩa liên cá nhân, tức các nét nghĩa dụng học [4, 184]. Cấu trúc biểu niệm của từ xanh, đó là thuộc tính vật lý, có cảm giác, về thị giác: màu sắc.
Đây là những nét nghĩa miêu tả, phản ánh thuộc tính bản thể của màu xanh. Nhưng xanh khác với xanh xao với nét nghĩa của màu da con người. Nét nghĩa này cũng là nét nghĩa miêu tả. Nhưng ngoài nét nghĩa đó ra thì xanh xao còn có nét nghĩa yếu ớt, bệnh hoạn.
Nét nghĩa này chính là nét nghĩa do con người cảm nhận mà có. Đó là nét nghĩa dụng học. Từ mát mẻ trong hai phát ngôn sau đây rõ ràng khác nhau nhưng lại có quan hệ ý nghĩa với nhau: nét nghĩa của từ mát mẻ ở phát ngôn (3) rõ ràng dựa vào nét nghĩa miêu tả của từ này ở phát ngôn (2): (2) Hôm nay trời thật mát mẻ. (3) Hôm nay trông cô ta thật mát mẻ.
Một số từ hay ngữ bình thường có thể trở thành uyển ngữ nhờ vào nét nghĩa dụng học mới được gắn vào cho chúng thông qua sử dụng. Chẳng hạn, chúng ta có thể nói về thời tiết khác thường bằng cả hai từ abnormal và exceptional nếu khi đang giữa mùa nắng nóng trời đột ngột chuyển mưa lạnh. Nhưng nếu ta dùng an exceptional child (một đứa trẻ xuất chúng) thì rõ ràng đó không đồng nghĩa với an abnormal child (một đứa trẻ bất thường); ở đây từ exceptional được dùng với nét nghĩa tích cực, chỉ khả năng vượt trội đối với khả năng bình thường, và abnormal nói đến một khuyết tật nào đó. Tuy nhiên, ngày nay, người ta cũng sử dụng từ exceptional như là một uyển ngữ để chỉ một khuyết tật nào đó của con người, thay vì phải dùng từ đích xác, đó là từ abnormal.