MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Môi trường gồm tất cả những gì bao quanh chúng ta như không khí, đất đai, đại dương, lục địa,.cũng như tất cả các sinh vật sống ở đó cũng có nghĩa là môi trường của tất cả chúng ta, của loài người trên trái đất. Trong những năm trở lại đây, môi trường toàn cầu có những biến đổi theo chiều hướng xấu đi đối với cuộc sống của con người và các sinh vật sống trên trái đất. Do đó vấn đề phát triển bền vững và bảo vệ môi trường đang được sự quan tâm đặc biệt của phần lớn các quốc gia trên thế giới, cũng như các tổ chức chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.
Vì vậy mục tiêu phấn đấu của cả nhân loại là phát triển bền vững nhằm đảm bảo giữa phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Để xử lý môi trường người ta có rất nhiều biện pháp: Từ biện pháp lý học, hóa học, cơ học đến sinh học. Tùy theo từng điều kiện cụ thể mà áp dụng phương pháp nào cho hiệu quả. Các biện pháp hóa học, lý học hoặc cơ học về cơ bản xử lý triệt để nhưng thường có chi phí đầu tư lớn.
Đã từ lâu người ta quan tâm đến biện pháp sinh học trong xử lý ô nhiễm môi trường. Cơ sở khoa học của biện pháp sinh học là mọi sinh vật sống trên Trái đất đành chịu ảnh hưởng của môi trường sống, chúng có khả năng thích nghi với điều kiện sống đó khi tồn tại lâu ở đó. Mặt khác, sinh vật với môi trường tồn tại như một hệ sinh thái và vì vậy chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau. Hiện nay nước thải sinh hoạt của các khu kí túc xá chủ yếu được xử lý yếm khi qua các bể phốt.
Song do lượng người tập trung với số lượng lớn, hệ thống xử lý bằng bể phốt do bị hạn chế về dung tích cũng như khả năng xử lý. Do đó dẫn đến nước thải đầu ra không đảm bảo Quy chuẩn cho phép hiện hành. Nước thải đầu ra đã qua xử lý nhưng vẫn còn nhiễm bẩn và bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm nghiêm trọng trong các khu kí túc xá, đồng thời làm ô nhiễm nguồn nước mặt nơi tiếp nhận. Việc thải một lượng lớn nước thải sinh hoạt ra n 2 môi trường sẽ tạo nguồn ô nhiễm và các dịch bệnh, ảnh hưởng đến toàn cộng đồng và gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường sống, cần phải được giải quyết.
Đại học Thái Nguyên đang đào tạo trên 95.000 HSSV (trong đó có trên 46.568 HSSV chính quy, 3.912 học viên cao học và chuyên khoa, 180 học viên là nghiên cứu sinh). Trong đó có khoảng 6000 sinh viên được ở trong ký túc xá thuộc trường thành viên. Khu ký túc xá Đại học Thái Nguyên hiện nay đang có hơn 4000 sinh viên thuộc các trường thành viên: Đại học Nông Lâm, Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Khoa Ngoại Ngữ.Với số lượng sinh viên lớn như vậy cùng với sự phát triển của các dịch vụ ăn uống, giải trí nên dẫn đến lượng nước thải sinh hoạt ngày càng gia tăng. Song với số lượng sinh viên tập trung và lớn như vậy dẫn đến lượng nước thải cũng ngày một tăng theo.
Có thể ước tính bằng 80% lượng nước cấp. Nước thải sinh hoạt có chứa các thành phần ô nhiễm chính như BOD5, COD, Nito, Photpho. Một tính chất đặc trưng nữa của nước thải sinh hoạt là không phải tất cả các chất hữu cơ đều có thể bị phân hủy bởi các vi sinh vật và lượng dư thừa này thoát ra khỏi các quá trình xử lý sinh học cùng với bùn. Vì vậy, lượng nước thải sinh hoạt khi xả ra môi trường sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Hiện tại, khu ký túc xá chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt. Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả thẳng ra ngoài môi trường làm ô nhiễm nguồn nước mặt, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Mối nguy hại cho môi trường, hệ sinh thái xung quanh và lưu vực chứa nước thải Tại Việt Nam, công nghệ xử lý bằng thực vật hay sử dụng thực vật để xử lý nước thải sinh hoạt là một công nghệ mới được nghiên cứu trong những năm gần đây nhờ sự hiểu biết về cơ chế hấp thụ, chuyển hóa, chống chịu và loại bỏ tạp chất của một số loài thực vật. Việc nghiên cứu dùng thực vật trong xử lý nước bị ô nhiễm cũng đã được thực hiện và áp dụng trên thực tế đối với một số loài cây như: Bèo tây, Sậy, Thủy trúc, Rau muống, rau Ngổ.
Xuất phát từ lí do trên, để khắc phục việc kém hiệu quả xử lý của hệ thống bể phốt và lợi dụng vào những loại thực vật có khả năng thích nghi và xử lý được nước thải sinh hoạt. Em xin đề xuất việc: "Nghiên cứu ứng dụng sử n 3 dụng Thực vật thủy sinh xử lý nước thải sinh hoạt tại khu kí túc xá K trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên". Mục tiêu và yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá thực trạng ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh hoạt trong khu kí túc xá sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Ứng dụng Thực vật thủy sinh để xử lý nước thải sinh hoạt.
- Đánh giá được hiệu quả xử lý nước thải của Thực vật thủy sinh. Yêu cầu của đề tài - Nắm chắc Quy chuẩn Việt Nam QCVN 14: 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải sinh hoạt. - Nắm chắc phương pháp lấy mẫu nước thải. - Nắm chắc quy trình làm thí nghiệm với thực vật thủy sinh.
Ý nghĩa của đề tài - Qua khảo sát, tìm hiểu thực tế giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm nước thải sinh hoạt ở các khu kí túc xá, những khó khăn thách thức mà các khu kí túc xá gặp phải với những vấn đề về xử lý nước thải cũng như xử lý ô nhiễm môi trường. - Từ đó có thể đánh giá hiện trạng môi trường ở khu kí túc xá K trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và nghiên cứu ứng dụng sử dụng Thực vật thủy sinh để xử lý nước thải sinh hoạt nhằm tiết kiệm tối đa biện pháp xử lý, đồng thời làm giảm mức độ ô nhiễm nước thải trong khu kí túc xá. Nhằm bảo vệ môi trường khu kí túc xá luôn sạch và đảm bảo vệ sức khỏe cho sinh viên. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Cơ sở lý luận Quá trình đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra rất nhanh.
Những đô thị lớn tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng bị ô nhiễm nước rất nặng nề. Đô thị ngày càng phình ra tại Việt nam, nhưng cơ sở hạ tầng lại phát triển không cân xứng, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại Việt Nam vô cùng thô sơ. Vì hệ thống cống rãnh thoát nước còn trong tình trạng thô sơ, không hợp lý cũng như không theo kịp đà phát triển dân số nhanh như trường hợp ở các thành phố ở Việt Nam như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nha Trang, Đà Nẵng, Cần Thơ…, việc giải quyết và xử lý nước thải này hầu như không thực hiện được. Nước thải sau khi qua mạng lưới cống rãnh được chảy thẳng vào sông rạch và sau cùng đổ ra biển cả mà không qua giai đoạn xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; ôxy hòa tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.
Có thể nói rằng người Việt Nam đang làm ô nhiễm nguồn nước uống chính bằng nước sinh hoạt thải ra hằng ngày. Một báo cáo toàn cầu mới được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố hồi đầu năm 2010 cho thấy, mỗi năm Việt Nam có hơn 20.000 người tử vong do điều kiện nước sạch và vệ sinh nghèo nàn và thấp kém. Còn theo thống kê của Bộ Y tế, hơn 80% các bệnh truyền nhiễm ở nước ta liên quan đến nguồn nước. Người dân ở cả nông thôn và thành thị đang phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh do môi trường nước đang ngày càng một ô nhiễm trầm trọng.
Cùng với sự phát triển của nền giáo dục, số lượng các trường ĐH, CĐ , Trung cấp và các trung tâm dạy nghề ngày càng tăng. Chính vì vậy, số lượng các khu nhà trọ, tập thể, khu kí túc xá sinh viên được xây dựng ngày càng nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu tạm trú của sinh viên. Do đó, lượng nước thải sinh hoạt của khu tập thể, khu kí túc xá ngày càng lớn. Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt của cộng đồng: tắm, giặt giũ,tẩy rửa, vệ sinh cá nhân,… Chúng n 5 thường được thải ra từ các căn hộ, cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ, và các công trình công cộng khác.
Thành phần nước thải sinh hoạt gồm 2 loại: - Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh - Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học, ngoài ra còn có cả các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm. Chất hữu cơ chứa trong nước thải bao gồm các hợp chất như protein(40-50%); hydrat cacbon(40-50%). Nồng độ chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150-450mg/l theo trọng lượng khô. Có khoảng 20-40% chất hữu cơ khó bị phân huỷ sinh học.
Với thành phần ô nhiễm là các tạp chất nhiễm bẩn có tính chất khác nhau, từ các loại chất không tan đến các chất ít tan và cả những hợp chất tan trong nước. Việc lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp thường được căn cứ trên đặc điểm của các loại tạp chất có trong nước thải. Các phương pháp thường dùng trong xử lý là: phương pháp hóa học, phương pháp hóa lý, phương pháp sinh học. Hiện nay, xử lý ô nhiễm môi trường bằng biện pháp sinh học đã và đang được quan tâm rất nhiều vì chúng đáp ứng được các nhu cầu cấp thiết của con người, không ảnh hưởng đến môi trường.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con người các nhà khoa học đã nghiên cứu và tìm ra các loại thực vật có khả năng xử lý ô nhiễm môi trường nước. Nhưng mỗi loài cây có những tính chất khác nhau, do vậy khả năng xử lý của mỗi loài cây là khác nhau.