ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt mò (Scrub typhus) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính,bệnh truyền qua côn trùng, tiết túc do vi khuẩn ký sinh nội bào Orientia tsutsugamushi (trƣớc kia gọi là Ricketsia orientalis hoặc Ricketsia tsutsugamushi) gây nên. Đây là bệnh sốt cấp tính lƣu hành và gây dịch ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ƣớc tính có khoảng 1 tỷ ngƣời có nguy cơ bị mắc bệnh và khoảng 1 triệu ca bệnh mỗi năm [32,44]. Trong những năm gần đây, sốt mò đƣợc phát hiện và tái phát hiện ở nhiều nƣớc trong vùng dịch tễ nhƣ: Lào, Ấn Độ, Sri Lanka, Maldives.
Sốt mò là bệnh của động vật, chủ yếu là các động vật gặm nhấm và các động vật có xƣơng sống nhỏ khác thuộc lớp thú. Ổ bệnh và trung gian truyền bệnh là mò Leptotrumbidium, một loài chân đốt thuộc họ ve bét. tsutsugamushi truyền vi khuẩn cho đời sau qua trứng và qua các giai đoạn phát triển. Ấu trùng mò nhiễm O.
tsutsugamushitruyền mầm bệnh cho động vật và ngƣời khi đốt[36,37,49]. Sốt mò ở ngƣời có các biểu hiện lâm sàng đa dạng, rất giống với nhiều bệnh truyền nhiễm cấp tính khác. Các ca bệnh điển hình có vết đố t đặc hiệu ngoài da có giá trị chẩn đoán nhƣng chỉ có ở một số bệnh nhân, không đại diện đầy đủ cho phổ bệnh thực sự của sốt mò và đôi khi không đƣợc phát hiện. Bệnh có thể tiến triển nặng và gây tử vong nếu không đƣợc chẩn đoán sớm, đúng và điều trị đặc hiệu [52].
Các xét nghiệm chẩn đoán xác định bệnh sốt mò có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định ca bệnh trên lâm sàng, định hƣớng điều trị sớm và điều trị đặc hiệu nhằm giảm thiểu biến chứng và nguy cơ tử vong cho ngƣời bệnh.Tuy nhiên, viê ̣c phát hiê ̣n ra bệnh sốt mò rất khó nếu không có phƣơng pháp chẩn đoán phù hợp. Trƣớc khi có phƣơng pháp chẩn đoán hiện đại, việc chẩn đoán phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của bác sĩ cũng nhƣ sự xuất hiện của vectơ truyền bệnh hay vết đốt. Nhiều ngƣời bệnh có triệu chứng không điển hình, sốt kéo dài làm cho chẩn đoán bị nhầm lẫn. Nếu đƣợc chẩn đoán đúng thì việc điều trị rất đơn giản.
Do đó, chẩn đoán bệnh bằng các xét nghiệm chính xác và kịp thời sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các bác sĩ trong việc điều trị bệnh ricketssia. Ngày nay trên thế giới, có ba phƣơng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÔ ĐỨC LINH – HVCH K24 pháp chính đƣợc sử dụng để chẩn đoán bệnh sốt mò, đó là: phƣơng pháp nuôi cấy, phƣơng pháp miễn dịch và phƣơng pháp sinh học phân tử. Tuy nhiên, phƣơng pháp nuôi cấy không thể thực hiện đƣợc ở các cơ sở khám chữa bệnh do yêu cầu về phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp ba, do tínhphức tạp và tốn nhiều thời gian. Phƣơng pháp miễn dịch đòi hỏi phải có hai mẫu huyết thanh của ngƣời bệnh ở hai thời điểm khác nhau, một mẫu trong giai đoạn cấp tính, một mẫu trong giai đoạn hồi phục.Điề u này gây khó khăn cho việc lấy mẫu, phát hiện và chữa trị bệnh kịp thời.
Do đó, áp dụng phƣơng pháp PCR trong chẩn đoán bệnh sốt mò là công cụ hữu ích nhất hiện nay trong các bệnh viện và cơ sở y tế tại Việt Nam. Đây cũng là phƣơng pháp giúp cải thiện đƣợc các hạn chế của hai phƣơng pháp trƣớc, tiết kiệm thời gian và trả kết quả nhanh nhất, kịp thời cho công tác chẩn đoán và chữa bệnh. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP REALTIME PCR TRONG ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TỈ LỆ BỆNH SỐT MÒ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2016” với các mục tiêu nghiên cứu nhƣ sau: 1. Xây dựng đƣợc quy trình tối ƣu để xác định tình trạng nhiễm O.
tsutsugamushi gây bệnh sốt mò bằng kĩ thuật Realtime PCR. Xác định đƣợc tỉ lệ bệnh nhân nhiễm O. tsutsugamushi tại bệnh viện Bạch Mai trong năm 2016 và một số yếu tố dịch tễ học có liên quan. Đề tài nghiên cứu này đƣợc thực hiện với các nội dung sau: Xây dựng quy trình tối ƣu để xác định tình trạng nhiễm O.
tsutsugamushi gây bệnh sốt mò bằng kĩ thuật Realtime PCR bao gồm các bƣớc: Thiết kế mồi, tối ƣu nhiệt độ gắn Taqman probe, Tối ƣu nồng độ Mg2+ của phản ứng Realtime PCR, tách chiết DNA, tiến hành phản ứng Realtime PCR, đánh giá độ đặc hiệu và độ nhạy của phản ứng. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÔ ĐỨC LINH – HVCH K24 Ứng dụng phƣơng pháp Realtime PCR để xác định tỉ lệ nhiễm O. tsutsugamushi tại bệnh viện Bạch Mai năm 2016 và điều tra một số yếu tố dịch tễ học có liên quan. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÔ ĐỨC LINH – HVCH K24 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU Sốt mò đƣợc biết đến từ rất sớm. Những mô tả đầu tiên về một bệnh nhân có triệu chứng tƣơng tự sốt mò đƣợc tìm thấy tại Trung Quốc vào thế kỉ thứ IV sau công nguyên; bệnh đƣợc cho là có liên quan đến một loại côn trùng màu đỏ. Tại Nhật Bản, bệnh đƣợc Hashimoto mô tả lần đầu tiên vào năm 1810 nhƣng đến năm 1878 mới đƣợc biết đến rộng rãi qua thông báo của bác sỹ Theodor Palm với tên địa phƣơng là “shima mushi”. Vai trò lây truyền bệnh của ấu trùng mò Leptotrobidium đƣợc Brumpt đề cập đến lần đầu tiên vào năm 1910.
Bản chất của vi khuẩn gây sốt mò đƣợc xác định vào cuối những năm 1920. Dịch tễ học bệnh sốt mò 1. tsutsugamushi – tác nhân gây bệnh sốt mò 1. Đặc điểm của vi khuẩn O.
tsutsugamushi Vi khuẩn gây bệnh sốt mò – O. tsutsugamushi có kích thƣớc 0,5 – 0,8µm x 1,2 – 3,0µm, là vi khuẩn Gram âm, kí sinh nội bào. Mỗi tế bào vi khuẩn đƣợc bao bọc bởi một lớp thành tế bào rất mềm và một lớp màng tế bào. Vỏ vi khuẩn không chứa các peptidoglycan và lipopolysaccaride, lá ngoài của thành tế bào dày hơn đáng kể so với lá trong.
tsutsugamushi bắt màu Giemsa, mọc trong túi thể vàng của phôi gà hoặc một loạt các dòng tế bào nuôi cấy. tsutsugamushi xâm nhập vào tế bào vật chủ thông qua cơ chế thực bào, đi vào nguyên sinh chất và phát triển chủ yếu ở vùng cận nhân tế bào. Vi khuẩn đƣợc giải phóng ra khỏi tế bào vật chủ bằng phƣơng pháp nẩy chồi và đƣợc bao bọc bởi một lớp màng của tế bào vật chủ tƣơng tự nhƣ những virus có vỏ. tsutsugamushi nhân lên bằng phƣơng pháp chia đôi, chu kì nhân bản kéo dài khoảng 9 – 18 giờ [47].
Trƣớc năm 1995, Ricketsia tsutsugamushi(nay gọi là O. tsutsugamushi) đƣợc xếp ở trong giống Ricketsia, là loài duy nhất trong giống sốt mò. Tuy nhiên, những nghiên cứu về cấu trúc và di truyền học cho thấy sự khác biệt lớn giữa Ricketsia 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÔ ĐỨC LINH – HVCH K24 tsutsugamushi và các Ricketsia khác. Cấu trúc thành tế bào của O.
tsutsugamushi có lá ngoài dày hơn lá trong, không chứa peptidoglycan và lipopolysaccaride; O. tsutsugamushi đề kháng cao tự nhiên với Penicillin. Khi phân tích trình tự gen 16S rARN, khoảng khác biệt giữa R.tsutsugamushi và các vi khuẩn khác trong giống Ricketsia gần bằng với khoảng khác biệt tiến hóa giữa các giống trong họ Ricketsiale. Vì những lí do này, R.tsutsugamushi đƣợc tách ra thành một giống riêng, mang tên O.
Tính đa dạng của các chủng O. tsutsugamushi Tất cả các chủng vi khuẩn sốt mò có cấu trúc kháng nguyên rất khác nhau và độc tính với chuột cũng rất khác nhau [47]. Sự khác biệt về mặt kháng nguyên đƣợc xác định chủ yếu qua cấu trúc của các protein vỏ, và có thể đƣợc xác định bằng các phƣơng pháp huyết thanh học và kĩ thuật sinh học phân tử [26]. tsutsugamushi cổ điển là: Karp, Kato và Gilliam; ngoài ba chủng này còn có hơn ba mƣơi chủng huyết thanh khác đƣợc xác định tại các nƣớc khác nhau và các địa phƣơng khác nhau tại vùng dịch tễ.
Một vùng địa lý có thể có nhiều chủng O. tsutsugamushi cùng tồn tại. Tính đa dạng này có vai trò quan trọng trong dịch tễ học của sốt mò tại địa phƣơng. Mò Leptotrobidium - ổ bệnh và trung gian truyền bệnh 1.
Một số đặc điểm sinh học của mò Leptotrobidium Mò Leptotrobidiumlà một chi động vật trong họ ve mò(Trombiculidae), lớp Nhện (arachnida), ngành chân đốt (arthropoda). Mò có kích thƣớc bé, không quá 1mm, màu sắc từ vàng đến da cam nên còn gọi là mò đỏ[3]. Vòng đời của mò bao gồm bốn giai đoạn phát triển: trứng, ấu trùng, nymph và giai đoạn trƣởng thành[37]. Mò trƣởng thành sống trong đất xốp và ẩm.
Mò cái đẻ trứng trên các lớp đất bề mặt. Âú trùng nở ra từ trứng bò lên cây cỏ hoặc tàn cây, một số nấp trong các khe nứt hoặc trần hang chuột để chờ bám vào động vật và đốt. Sau khi đốt động vật, ấu trùng quay trở lại mặt đất trải qua các giai đoạn phát triển tiếp theo và phát triển đến giai đoạn trƣởng thành, sẵn sàng sản sinh ra thế hệ mò sau. Thời gian sống của mò 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÔ ĐỨC LINH – HVCH K24 trƣởng thành có thể kéo dài 15 tháng hoặc lâu hơn.
Chu kì sinh trƣởng của mò kéo dài 2 – 3 tháng ở những vùng có khí hậu ấm và có thể kéo dài hơn 8 tháng ở những vùng có khí hậu lạnh[37,39]. Ấu trùng là giai đoạn phát triển duy nhất của mò ký sinh ở các động vật có xƣơng sống, chủ yếu là chuột và các thú nhỏ khác trong lớp gặm nhấm, có thể đốt ngƣời. Thời gian đốt động vật của ấu trùng mò kéo dài 48 – 72 giờ (có thể kéo dài đến 12 ngày ở một số loài). Ấu trùng mò chƣa đốt động vật có thể sống đến 30 ngày và có tầm di chuyển rất hạn chế.
Khi đốt động vật chúng thƣờng tập trung thành từng đám vài trăm cá thể ở những nơi rất hẹp nhƣ tai và vùng hậu môn – sinh dục của động vật, có thể bị gãi văng ra hoặc rời vật chủ gần nhƣ cùng một lúc. Những yếu tố này góp phần hình thành các “đảo mò” hay các “điểm nóng” lây truyền sốt mò đƣợc mô tả trong các nghiên cứu dịch tễ học của bệnh [37, 39]. Phân bố của mò Leptotrombidium Những loài mò đƣợc xác định là ổ bệnh và trung gian truyền bệnh sốt mò bao gồm: L.arenicula và 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÔ ĐỨC LINH – HVCH K24 một số loài khác.akamushi là vector lây truyền sốt mò mùa hè ở các vùng dịch truyền thống của Nhật Bản nhƣ: Niigata, Yamagata và Akita [30].