CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH MARKOWITZ VÀ VẬN DỤNG MÔ HÌNH TRONG XÂY DỰNG DANH MỤC ðẦU TƯ TỐI ƯU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH MARKOWITZ 1. Lý thuyết về danh mục ñầu tư chứng khoán a. Cơ sở của quyết ñịnh ñầu tư Trong ñầu tư tài chính, mọi quyết ñịnh ñầu tư luôn ñược xem xét trên cơ sở cân bằng giữa lợi tức và rủi ro (risk- return trade –off): Lợi tức (Return): Trong hoạt ñộng ñầu tư chứng khoán, lợi tức từ việc ñầu tư vào chứng khoán bao gồm 2 phần - Các dòng thu nhập từ các chứng khoán ñó (ví dụ: cổ tức của cổ phiếu, hoặc lãi nhận ñược từ các chứng khoán nợ).
- Lợi tức do sự thay ñổi trong bản thân của giá chứng khoán. Các nhà ñầu tư luôn mong muốn nhận ñược lợi tức trên số tiền mà họ ñã bỏ ra ñể ñầu tư. Cần phân biệt giữa lợi tức kỳ vọng (expected return) và lợi tức thực nhận (realized return). Lợi tức kỳ vọng là lợi tức mà nhà ñầu tư kỳ vọng nhận ñược từ việc ñầu tư, lợi tức thực nhận là lợi tức mà nhà ñầu tư thực sự nhận ñược từ việc ñầu tư.
Lợi tức thực nhận có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với lợi tức kỳ vọng ban ñầu khi nhà ñầu tư tiến hành ñầu tư. Rủi ro (Risk): Trong ñầu tư tài chính, rủi ro ñề cập ñến sự không chắc chắn về lợi tức mà nhà ñầu tư kỳ vọng nhận ñược từ việc ñầu tư. Hay nói cách khác, rủi ro là khả năng theo ñó lợi tức mà nhà ñầu tư thực sự nhận ñược khác với lợi tức kỳ vọng. Các nhà ñầu tư sẽ không chấp nhận rủi ro trừ khi họ có ñược sự ñền bù (phần bù lợi tức) cho việc chấp nhận ñó.
Sự ñền bù này phải Luan van 7 tương xứng với rủi ro của ñầu tư: rủi ro càng lớn thì ñền bù càng cao và ngược lại. ðây chính là cân bằng giữa lợi tức và rủi ro. Việc chấp nhận mức ñộ rủi ro nào là tùy thuộc vào mỗi nhà ñầu tư: một số nhà ñầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao với kỳ vọng sẽ nhận ñược một lợi tức cao, nhưng cũng có một số nhà ñầu tư khác chỉ muốn chấp nhận rủi ro thấp và do vậy cũng chỉ với lợi tức kỳ vọng thấp. Danh mục ñầu tư chứng khoán và sự cần thiết của việc xây dựng danh mục ñầu tư chứng khoán Danh mục ñầu tư chứng khoán: Là một tập hợp gồm ít nhất hai loại chứng khoán.
Sự cần thiết của việc xây dựng danh mục ñầu tư chứng khoán Càng ña dạng hóa thì càng hạn chế ñược rủi ro. Vậy mục ñích cuối cùng của việc xây dựng và quản lý danh mục ñầu tư là giảm thiểu rủi ro cho nhà ñầu tư nhưng vẫn ñảm bảo cho nhà ñầu tư có ñược một tỷ suất sinh lợi nhất ñịnh. ðo lường tỷ suất lợi tức của danh mục ñầu tư Tỷ suất lợi tức của một chứng khoán Lợi tức tổng cộng thu ñược từ việc ñầu tư một chứng khoán bao gồm 2 phần - Các dòng thu nhập từ các chứng khoán ñó. - Lợi tức do sự thay ñổi trong giá cả của bản thân chứng khoán ñó.
Tỷ suất lợi tức của một chứng khoán ñược xác ñịnh bằng với lợi tức tổng cộng nhận ñược chia cho giá mua chứng khoán ban ñầu (tỷ suất này còn ñược gọi là tỷ suất lợi tức trong khoảng thời gian nắm giữ chứng khoán – HPY).1) PO Trong ñó: - D: Dòng thu nhập từ chứng khoán. - P1: Giá bán chứng khoán vào cuối thời gian nắm giữ. - Po: Giá mua chứng khoán ban ñầu. Luan van 8 Việc tính toán HPY theo công thức trên giả ñịnh rằng cổ tức ñược thanh toán vào cuối thời gian nắm giữ chứng khoán.
Nếu cổ tức ñược nhận sớm hơn, công thức tính HPY ở trên chưa tính ñến việc tái ñầu tư cổ tức trong khoảng thời gian kể từ lúc nhận ñược cổ tức cho ñến hết thời hạn ñầu tư. Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của một chứng khoán Thông thường, các nhà ñầu tư xác ñịnh lợi tức kỳ vọng dựa vào những giá trị lợi tức ước tính có thể và xác suất của mỗi lợi tức ñó. Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của một chứng khoán ñược xác ñịnh theo công thức: n E (R) = ∑ p ×R i i i (1.2) Trong ñó: - E(R): Tỷ suất lợi tức kỳ vọng. - Ri: Tỷ suất lợi tức có thể nhận ñược trong tình huống i.
- pi: Xác suất nhận ñược Ri. Lợi tức kỳ vọng của một danh mục ñầu tư: Lợi tức kỳ vọng của một danh mục ñầu tư là bình quân gia quyền của lợi tức của từng chứng khoán cá biệt trong danh mục ñầu tư. Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của một danh mục ñầu tư ñược xác ñịnh như sau: n E (RP) = ∑ wi E ( Ri ) (1.3) i n Với : ∑w =1 i i Trong ñó: - E(RP): Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của danh mục ñầu tư. - wi: Tỷ trọng của chứng khoán thứ i trong danh mục ñầu tư.
- E(Ri): Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của chứng khoán i. - n: Số loại chứng khoán trong danh mục ñầu tư. ðo lường rủi ro của danh mục ñầu tư Rủi ro của một chứng khoán Rủi ro ñề cập ñến sự không chắc chắn về lợi tức mà nhà ñầu tư kỳ vọng nhận ñược từ việc ñầu tư. Sự không chắc chắn này ñược thể hiện bởi nhiều lợi tức có thể nhận ñược với nhiều xác suất khác nhau.
ðộ phân tán của những giá trị lợi tức có thể so với lợi tức kỳ vọng càng lớn, thì sự không chắc chắn (rủi ro ) của lợi tức kỳ vọng nhận ñược càng lớn. Trong ñầu tư tài chính, chỉ tiêu phương sai (variance) hoặc ñộ lệch chuẩn (standard deviation) của phân phối tỷ suất lợi tức ñược sử dụng ñể ño lường rủi ro. Các chỉ tiêu này ñược tính như sau: - Phương sai của tỷ suất lợi tức của một tài sản ñược xác ñịnh như sau: n 2 σ = ∑ pi [Ri − E ( R)] 2 (1.4) i Trong ñó: - E(R): Tỷ suất lợi tức kỳ vọng. - Ri: Tỷ suất lợi tức có thể nhận ñược trong tình huống i.
- pi: Xác suất nhận ñược Ri. - ðộ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức ñược tính bằng căn bậc hai của phương sai của tỷ suất lợi tức: n σ= ∑ p [R − E ( R)] i i i 2 (1.5) Trong các phần trên, tỷ suất lợi tức kỳ vọng và rủi ro của chứng khoán ñược xác ñịnh trên cơ sở phân tích những tình huống nhất ñịnh trong tương lai. Ngoài ra, các nhà ñầu tư cũng có thể dựa vào những dữ liệu quá khứ ñể ước lượng tỷ suất lợi tức kỳ vọng và phương sai (hoặc ñộ lệch chuẩn) ñể sử dụng cho việc ñầu tư trong tương lai. Phương sai ñược ước lượng từ những dữ liệu quá khứ ñược xác ñịnh như sau Luan van 10 n ∑ ( R − R) i 2 σ2 = i (1.6) n −1 Trong ñó:- R : Tỷ suất lợi tức trung bình cộng.
- n: số lượng tỷ suất lợi tức ñược quan sát từ mẫu trong quá khứ Rủi ro của danh mục ñầu tư Trước khi xem xét các chỉ tiêu ño lường rủi ro của danh mục ñầu tư, có hai khái niệm cần ñược hiểu ñầy ñủ: hiệp phương sai và hệ số tương quan. - Hiệp phương sai: Hiệp phương sai là một hệ số ño lường mức ñộ theo ñó lợi tức trên hai tài sản (tài sản A và tài sản B) biến ñộng so với nhau. Hiệp phương sai trên hai tài sản bất kỳ ñược tính toán như sau: σ AB = ∑ pi [R A,i − E ( R A )][R B ,i − E ( RB )] n (1.7) i Trong ñó: - σAB: Hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi tức của hai tài sản A và B. -RA,i: Tỷ suất lợi tức có thể nhận ñược trên tài sản A trong tình huống i (ñịnh nghĩa tương tự cho RB,i).
- Pi : Xác xuất xảy ra tình huống i. Hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi tức của hai tài sản có thể dương (+), âm (-) hoặc bằng không (0). Hiệp phương sai dương, cho biết lợi tức trên hai tài sản có mối quan hệ cùng chiều với nhau. Khi lợi tức trên tài sản này tăng thì lợi tức trên tài sản kia cũng tăng và ngược lại.
Hiệp phương sai âm cho thấy lợi tức trên hai tài sản có mối quan hệ ngược chiều với nhau. Khi lợi tức trên tài sản này tăng thì lợi tức trên tài sản kia giảm và ngược lại. - Hệ số tương quan : Hệ số tương quan giữa tỷ suất lợi tức của hai tài sản A và B ñược xác ñịnh bằng cách chia hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi tức của Luan van 11 hai tài sản ñó cho tích số của ñộ lệch chuẩn về tỷ suất lợi tức của hai tài sản A và B.8) σ Aσ B Ta thấy rằng: − 1 ≤ ρ AB ≤ +1 - ρ AB = +1 : Tương quan thuận hoàn hảo. - ρ AB = −1 : Tương quan nghịch hoàn hảo.
Hệ số tương quan có giá trị thay ñổi trong khoảng từ -1 ñến +1. Giá trị +1 thể hiện một quan hệ tuyến tính thuận hoàn hảo giữa tỷ suất lợi tức của hai tài sản. Giá trị -1 thể hiện một quan hệ tuyến tính nghịch hoàn hảo giữa tỷ suất lợi tức của hai tài sản. Hiệp phương sai (hay hệ số tương quan) có ảnh hưởng rất lớn ñến rủi ro của một danh mục ñầu tư.
ða dạng hóa chỉ mang lại lợi ích (giảm thiểu rủi ro) khi hệ số tương quan giữa tỷ suất lợi tức của các tài sản < 1. Tương tự như ñối với tỷ suất lợi tức kỳ vọng và rủi ro của chứng khoán, hiệp phương sai (và do vậy, hệ số tương quan) cũng có thể ñược ước lượng dựa vào những dữ liệu quá khứ ñể sử dụng cho việc ñầu tư trong tương lai. Tuy nhiên, không có gì ñảm bảo rằng những giá trị ñược ước lượng từ dữ liệu quá khứ sẽ phản ánh những gì xảy ra trong tương lai. Thông thường, các nhà ñầu tư sẽ ñiều chỉnh những giá trị ñược ước lượng từ dữ liệu lịch sử trong ñó có tính ñến những tình huống có thể xảy ra trong tương lai.
Rủi ro của một danh mục ñầu tư ñược ño lường bằng chỉ tiêu phương sai hoặc ñộ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức trên danh mục ñầu tư (tương tự như trường hợp mỗi chứng khoán riêng lẻ).