CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LẬP VÀ QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THI CÔNG 1. Tổng quan về lập và quản lý tiến độ thi công 1. Khái niệm cơ bản về tiến độ thi công Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ xã hội để tránh bị lạc hậu.
Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác dộng rất lớn của các nhân tố môi trường xấu như mưa, nắng, lũ, lụt. đòi hỏi các nhà xây dựng phải giám sát chặt chẽ những biến động này để hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu của nó.
Do đó, ngành xây dựng cũng như các ngành sản xuất khác muốn đạt được hiệu quả thực sự thì trước khi thực hiện phải có một bản tiến độ thi công rõ ràng, hiệu quả. Nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về tiến độ thi công, cụ thể như sau: Theo Nguyễn Đình Thám, Nguyễn Ngọc Thanh [2], Một kế hoạch rõ ràng hiệu quả gắn với thời gian thực hiện và thể hiện sự logic chặt chẽ giữa các đại lượng được gọi là tiến độ thi công hay kế hoạch thi công. Theo giáo trình Thi công các công trình thủy lợi [3], tiến độ xây dựng công trình là kế hoạch thực hiện các hoạt động xây dựng bằng những công nghệ xây dựng, kỹ thuật xây dựng và biện pháp tổ chức thích hợp nhằm hoàn thành công trình xây dựng đảm bảo chất lượng kỹ thuật trong mức hạn phí và thời hạn đã đề ra, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Tiến độ thi công là kế hoạch sản xuất thể hiện bằng biểu đồ nội dung bao gồm các số liệu tính toán, các giải pháp được áp dụng trong thi công bao gồm: Công nghệ, thời gian, địa điểm, vị trí và khối lượng các công việc xây lắp cùng với điều kiện thực hiện chúng.
Tiến độ thi công là bộ phận không thể tách rời của thiết kế tổ chức xây dựng và thiết kế tổ chức thi công. Trong tổng tiến độ xác định tốc độ, trình tự và 5 luan an thời hạn thi công cho các công trình đơn vị (công trình chính, công trình phụ, công trình tạm) của hệ thống công trình; định ra thời hạn hoàn thành các công việc chuẩn bị xây dựng và công việc kết thúc. Như vậy, tiến độ thi công là một kế hoạch thể hiện về mặt thời gian hoạt động của dự án xây dựng, thể hiện phương pháp tổ chức thi công, trình tự - thời gian thi công các công việc và hao phí tài nguyên theo thời gian. Một dự án đầu tư xây dựng được đánh giá là có tiến độ thi công hợp lý khi tiến độ đó có tổng thời gian thực hiện không vượt quá tổng thời gian đã được phê duyệt, có trình tự thi công các công việc hợp lý, sử dụng nhân lực máy móc thiết bị hài hòa, và lượng vốn đưa vào công trình hợp lý.
Tiến độ thi công xây dựng công trình rất quan trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn đối với các bên liên quan. Đối với chủ đầu tư thì tiến độ thi công là cơ sở để lập chi phí, điều phối phân bổ chi phí theo từng thời điểm; Tiến độ thi công là căn cứ để đảm bảo thời gian hoàn thành dự án giữa chủ đầu tư và nhà thầu; kiểm tra, kiểm soát tiến độ thi công công trình của nhà thầu; Đối với nhà thầu tiến độ thi công là căn cứ để xác định nhu cầu nhân lực, vật tư, huy động máy móc thiết bị; Làm cơ sở cho quá trình thanh quyết toán theo giai đoạn. Các phương pháp lập và thể hiện tiến độ thi công hiện nay Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều phương pháp thể hiện tiến độ thi công, trong đó phải kể đến như: sơ đồ đường thẳng (ngang, xiên), sơ đồ mạng (phương pháp CPM, PERT, lý thuyết tập mờ, Monte-Carlo…) 1. Sơ đồ ngang Sơ đồ đường thẳng là loại hình đơn giản nhất để biểu diễn tiến độ thi công công trình.
Công việc được thể hiện bằng đường gạch ngang, độ dài của mỗi đường gạch ngang 6 luan an theo trục thời gian biểu thị thời gian hoàn thành công việc đó. Sơ đồ ngang được thể hiện như hình dưới đây: Hình 1-1. Tiến độ thi công theo sơ đồ đường thẳng Ưu điểm: Dễ xây dựng và làm cho người đọc dễ nhận biết công việc và thời gian thực hiện của các công việc; Thấy rõ tổng thời gian thực hiện các công việc. Nhược điểm: Không thể thực hiện được mối quan hệ giữa các công việc, không ghi rõ quy trình công nghệ.
Trong dự án có nhiều công việc thì điều này thể hiện rất rõ nét; Chỉ áp dụng cho những dự án có quy mô nhỏ, không phức tạp. Sơ đồ xiên (sơ đồ chu trình) Sơ đồ xiên biểu diễn tiến độ cả về thời gian thi công và không gian xây dựng. Khi biểu diễn mối quan hệ công việc phát triển theo hai hướng không gian và thời gian tạo thành những đường xiên. Do đó thể hiện tiến độ bằng sơ đồ xiên theo phương án tổ chức sản xuất xây dựng dây chuyền rất thích hợp, bảo đảm tính nhịp nhàng, liên tục.
Sơ đồ xiên được biểu diễn trong hình dưới đây: 7 luan an Hình 1-2. Tiến độ thi công công việc theo sơ đồ xiên Ưu điểm: Thể hiện rõ ràng các công việc, dễ quản lý, Các công việc được chia thành các phân đoạn nhỏ, thời gian được chia thành các chu kỳ. Nhược điểm: Không thể hiện được các dự án lớn có nhiều công việc. Sơ đồ mạng + Căn cứ theo hình thức thể hiện các công việc trên sơ đồ, có thể chia ra hai loại chính: - Sơ đồ mạng với các công việc được thể hiện trên các cung của mạng.
Điển hình của cách thể hiện này là phương pháp phân tích đường găng C. - Sơ đồ mạng với các công việc được thể hiện trên các nút của mạng. Điển hình của cách thể hiện này là phương pháp MPM (Metra Potential Method). + Căn cứ vào đặc trưng các thông số cần phân tích - tính toán trong mô hình kế hoạch có thể phân ra: Phương pháp phân tích thời gian Phương pháp phân tích tài nguyên (nguồn lực).
Phương pháp phân tích chi phí. + Căn cứ đặc trưng yếu tố thời gian thực hiện công việc trên sơ đồ, có thể phân ra: 8 luan an - Phương pháp tất định: Ở sơ đồ mạng loại này, thời gian thực hiện các công việc là một trị số được định trước. - Phương pháp xác suất: Đối với sơ đồ mạng kiểu này, thời gian thực hiện các công việc có thể thay đổi và được ấn định theo phương pháp xác suất thống kê, chẳng hạn như phương pháp sơ đồ PERT (Program Evaluation and Review Technique). 1) Phương pháp đường găng (CPM) Phương pháp đường găng là một thuật toán toán học của các sự kiện được sử dụng để theo dõi tiến trình của một dự án đa nhiệm trong một tổ chức.
Nó cũng được sử dụng để ước tính thời gian cần thiết hoàn thành dự án. + Ưu điểm: - CPM giúp các nhà quản lý dự án dễ dàng hơn trong việc xây dựng một nhóm và tạo mạng để xử lý hiệu quả dự án đa nhiệm vụ. - CPM xem xét các yêu cầu để hoàn thành dự án theo cách hiệu quả nhất có thể. - CPM giúp các nhà quản lý dự án ước tính thời gian và chi phí của dự án, giúp giám sát nguồn nhân lực và chi phí của dự án.
- CPM giúp đánh giá các hoạt động song song dễ dàng hơn, xử lý chậm trễ và đánh giá kết quả của một nhiệm vụ đơn giản hơn. - CPM cho phép các nhà quản lý giảm thiểu thời gian dự án bằng cách theo dõi đường găng. - Cho phép các nhà quản lý xác định thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc, thời gian dự trữ đến từng hoạt động của dự án. + Nhược điểm: - Trong một dự án lớn, CPM sẽ trở nên cực kỳ phức tạp và khó hiểu - Nếu dự án quá cồng kềnh thì yêu cầu quá trình giám sát đường găng rất phức tạp 9 luan an - Không xử lý hiệu quả những thay đổi đột ngột trong việc thực hiện kế hoạch, khó vẽ lại nếu đột nhiên có sự thay đổi kế hoạch giữa chừng - Không thể hình thành và kiểm soát lịch trình của những người tham gia dự án - Việc phân bổ nguồn lực không được giám sát cụ thể - Mất nhiều thời gian để giám sát đường găng khi dự án lớn - Các đường găng có thể thay đổi và khó kiểm soát - Thiết kế CPM rất tốn thời gian.
2) Phương pháp xác suất (PERT) Trong phương pháp PERT thời gian được xác định dựa vào xác suất và được ước lượng dựa vào 3 chỉ số: thời gian lạc quan (a), thời gian kỳ vọng (m) và thời gian bi quan (b). Phân phối thời gian hoàn thành công việc trong PERT + Ưu điểm của PERT: - Trong quá trình tính toán đã đưa thêm nhiều yếu tố tác động nhằm làm cho tiến độ sát với thực tế nhất. - Buộc người quản lý dự án phải trao đổi với nhiều người để đạt được sự đồng thuận. - Giá trị nhận được là giá trị cân bằng giữa 2 thái cực nên rất có ý nghĩa và đáng tin cậy làm cho việc lập kế hoạch trở nên chi tiết hơn.
+ Nhược điểm của PERT: - Mất thời gian (của một người và của cả tập thể), khi dự án có quá nhiều công việc luan 10 an - Phụ thuộc nhiều vào trình độ chuyên môn của người lập - Thường chỉ tính toán xoay quanh một đường găng 3) Phương pháp sơ đồ mạng sử dụng lý thuyết tập mờ Ý tưởng điều độ mờ đầu tiên xuất hiện vào năm 1979 do Prade đề ra. Khi dữ liệu đầu vào không chính xác thì lý thuyết mờ được xem là thích hợp với dạng tự nhiên của vấn đề hơn là CPM hay PERT. Prade chỉ ra ứng dụng khái niệm mờ trong vấn đề điều độ như thế nào và khi nào.