CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất rau trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất rau trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) [1]. Năm 1961 - 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565.
Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng. Trên thế giới, những nước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm 1996 sản lượng tăng đạt 13. Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84 kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202 kg/người/năm. Ở Canada, mức tiêu thu rau bình quân là 70 kg/người/năm (Tạ T.
Thu Cúc và CS, 2000) [5]. Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng sau.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn) 2004 15.1 ta thấy: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ năm 2004 trở lại đây có nhiều biến động cả về diện tích, năng suất và sản lượng. - Về diện tích: Từ năm 2004 - 2007 diện tích trồng rau trên thế giới dã tăng lên nhanh chóng. Năm 2004 diện tích trồng rau trên thế giới chỉ có 15.621 ha nhưng đến năm 2007 đã lên tới 17.
Như vậy chỉ sau 3 năm diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng 1.812 ha (trung bình tăng 634. Qua đó ta thấy được cây rau chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới. - Về năng suất: Nhìn chung trong những năm gần đây tương đối ổn định dao động nhẹ từ 14,3413 - 14,4379 tấn/ha. - Về sản lượng: Từ năm 2004 trở lại đây tuy năng suất rau không tăng nhưng do diện tích tăng qua các năm nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 6.
Điều đó chứng tỏ nghề trồng rau trên thế giới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, rau xanh trở thành nhu cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con người. Cây rau phân bố không đều giữa các nước và châu lục trên thế giới, qua tìm hiểu chúng tôi thu được kết quả sau thể hiện ở bảng sau: Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2007 Khu vực Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn) Thế giới 17.730 (Nguồn FAO, 2009) [11] n 6 Qua bảng số liệu trên ta thấy: Trong các châu, châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất chiếm tới 80,54% (13.615 ha) diện tích rau của thế giới trong khi đó châu Úc chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bằng 5,88% (36.745 ha) diện tích rau của thế giới. - Về năng suất: châu Âu là châu lục có năng suất rau cao nhất thế giới và cao hơn năng suất bình quân của thế giới đạt 167,677 tạ/ha. Đứng thứ hai là châu Á có năng suất bình quân lớn hơn thế giới là 10,621 tạ/ha (155,018 tạ/ha), tiếp theo là châu Úc và Châu Mĩ, thấp nhất là châu Phi có năng suất là 66,732 tạ/ha, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới 2,16 lần.
- Về sản lượng: Châu Úc có sản lượng rau thấp nhất đạt 534,730 và cao nhất là châu Á với sản lượng 212.906 tấn rau chiếm tới 85,47% sản lượng rau thế giới. Trong đó, riêng Trung Quốc có sản lượng rau đạt 147.000 tấn, cao hơn rất nhiều so với Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác. Sau Trung Quốc là Ấn Độ có sản lượng rau đạt 29.400 tấn; Philippin đạt 4. Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản lượng thì chất lượng rau cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời và việc kiểm soát dư lượng hóa chất tồn đọng trong rau ngày càng được thực hiện triệt để hơn (Faostat, 2009).
Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam Nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời. Ngay từ đời vua Hùng, người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườn gia đình. Theo sổ sách ghi chép thì cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ thử X. Thế kỷ thử XVIII, Lê Quý Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước.
Vào giữa thế kỷ IXX, nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư. Cuối thế kỷ IXX, n 7 nhân dân đã biết trồng rất nhiều loại rau có nguồn gốc từ Châu Âu như: cải bắp, su hào, súp lơ, cà rốt, hành tây,… Thế kỷ XX, ở nước ta đã hình thành và phát triển các vùng chuyên canh. Mặc dù, nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam. Thu Cúc và CS, 2000) [5].
Theo Bùi Hoàn Hảo, Đào Thanh Vân, (2000) [7] cho đến nay chúng ta có khoảng 70 loài thực vật được sử dụng làm rau hoặc chế biến thành rau. Riêng rau trồng có hơn 30 loài trong đó có 15 loài là rau chủ lực. Trong số này có hơn 80% là rau ăn lá. Theo Trần Khắc Thi (2003) [14], năm 1995, cả nước có diện tích trồng rau là 368,5 ha, sản lượng là 4.
Nếu so với năm 1985 thì diện tích rau tăng 46,4%, bình quân mỗi năm tăng 10. Diện tích trồng rau trong cả nước tính đến năm 2000 là 445.090 ha, tăng khoảng 70% so với năm 1990. Bình quân hàng năm tăng 18,4% nghìn ha (mức trung bình 7%/năm). Trong đó, các tỉnh phía Bắc là 249.200 ha, chiếm 56%, còn các tỉnh phía Nam là 196.000 ha, chiếm 44% diện tích canh tác.
Theo số liệu thống kê của FAO (2006), những năm gần đây, diện tích rau của ta ngày càng được mở rộng từ 494.000 ha năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 7. Theo Phạm Thị Thùy (2006) [15], năng suất rau xanh ở nước ta còn thấp và bấp bênh. Năm 1998, năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha bằng 80% so với mức trung bình của toàn thế giới (xấp xỉ 80 tạ/ha). Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân trong cả nước trong 10 năm n 8 cũng chỉ tăng 11,5 tạ/ha.
Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt năng suất bình quân ở mức 160 tạ/ha. Năng suất trung bình thấp nhất là ở các tỉnh miền trung, chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nước. Theo số liệu thống kê, những năm gần đây năng suất tương đối ổn định, năm 2005 đạt 125,714 tạ/ha (Faostat, 2006).[10] Sản lượng rau có chiều hướng gia tăng, năm 2000 đạt hơn 6 triệu tấn, tăng 81% so với năm 1990, mức tăng sản lượng trung bình hằng năm đạt từ 1990 - 2000 là xấp xỉ 260. Do diện tích tăng nhanh làm cho sản lượng rau ở nước ta tăng đáng kể, từ 5.100 tấn năm 2000 tăng lên 6.
Như vậy, chỉ trong 4 năm sản lượng rau tăng 967.900 tấn, chủ yếu từ hai vùng chuyên rau chuyên canh ven thành phố và vùng rau luân canh với cây lương thực (FAO, 2006).[10] Đánh giá về thực trạng sản xuất rau ở nước ta trong thời gian qua, nhiều tác giả cho rằng: hiện nay sản lượng và năng suất rau ở nước ta còn thấp, qui mô còn phân tán, chất lượng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu tươi và chế biến công nghiệp. Mức tiêu thụ nội địa còn thấp, chỉ số bình quân đầu người đạt 60 - 65 kg/năm. Sở dĩ có những hạn chế đó là do, việc quản lý, thiếu cải tiến kỹ thuật, canh tác chủ yếu thiên về năng suất, chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm cho nên rau tươi Việt Nam chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Mặt khác, xuất khẩu rau còn quá ít, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế kém.
Rau quả của nước ta tuy đa dạng và phong phú, nhưng sản xuất chưa gắn với thị trường, chất lượng thấp, bao bì mẫu mã chưa thích hợp, thị trường rau còn đơn điệu và nghèo nàn. n 9 Hiện nay, Việt Nam có 40 nước là thị trường xuất khẩu rau nhưng chúng ta lại không đủ điều kiện, mới chỉ xuất khẩu được khoảng 1 - 2% sản lượng. Rau nước ta không thể cạnh tranh được với thị trường quốc tế mà ngay cả trong nước vì rau tươi của chúng ta đang bị các sản phẩm nhập khẩu lấn át (Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000; Đường Hồng Dật, 1971; Đường Hồng Dật, 2002; Nguyễn Văn Miện, Nguyễn Trọng Hùng, Ngô Văn Công, 2001) [4]. Thời gian qua, một số địa phương đã triển khai sản xuất rau an toàn, bước đầu đạt được một số thành tựu, điển hình là các thành phố như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Lạt.
Tính đến năm 1999, diện tích trồng rau an toàn của cả nước đạt 1.082,5 ha, với sản lượng đạt khoảng 14. Rau trồng chủng loại đa dạng và phong phú, đến nay đã có hơn 30 loại với 15 loại rau chủ lực. Trong số đó có hơn 80% là rau ăn lá (Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996; Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000) [1]. Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cây rau 1.
Giá trị dinh dưỡng của cây rau Rau là thực phẩm không thể thay thế được trong bữa ăn hàng ngày của con người, trong thức ăn hàng ngày cơ thể hấp thu nhiều nguồn dinh dưỡng từ các nguồn thức ăn như: thức ăn từ động vật (thịt, tôm, cá,…) cung cấp chủ yếu protein và lipit, thức ăn từ thực vật (lúa, ngô, khoai, sắn,rau,…) cung cấp chủ yếu các loại vitamin A, B, C, D, E các loại muối khoáng, chất xơ là những chất dinh dưỡng không thể thiếu được đối với các hoạt động sinh lý của cơ thể. n 10 Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học, để đáp ứng cho sự bình thường mỗi người cần từ 250 – 300g rau xanh/ngày trong khi đó thống kê của Việt Nam mới cung cấp được 60 g/người/ngày (Trần Khắc Thi - 2003)[14], như vậy mới đáp ứng được 20 – 30% nhu cầu về rau.