Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây cao lương ngọt (Sorghum bicolor) được xác định là một trong những nguồn nguyên liệu sinh khối tiềm năng phục vụ định hướng phát triển năng lượng sinh học tại Việt Nam. Theo Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 10/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn 2020, mục tiêu quốc gia đặt ra là sản xuất xăng E10 nhằm thay thế một phần nhiên liệu khoáng truyền thống. Nhờ sở hữu năng suất sinh khối lớn (đạt trên 60 tấn/ha), hàm lượng đường hòa tan cao dẫn đến hiệu suất chuyển hóa cồn ethanol vượt trội hơn so với ngô, sắn và mía, kết hợp khả năng chịu hạn tốt và phổ thích ứng rộng trên nhiều nhóm đất, cao lương ngọt trở thành đối tượng cây trồng nhập nội triển vọng. Năm 2011, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ký kết văn bản ghi nhớ và thỏa thuận hợp tác khoa học với Công ty TNHH Earth Note (Nhật Bản) nhằm khảo nghiệm các giống cao lương ngọt cao sản phục vụ sản xuất ethanol sinh học tại khu vực trung du miền núi phía Bắc.

Tuy nhiên, trong quá trình du nhập và canh tác khảo nghiệm, quần thể cao lương ngọt chịu áp lực gây hại thường xuyên từ các nhóm dịch hại chuyên khoa, trong đó rệp muội (họ Aphididae, bộ Homoptera) là đối tượng gây tổn thương nghiêm trọng nhất. Rệp chích hút dinh dưỡng tại các bộ phận non như nõn, bẹ lá, mặt dưới phiến lá và cuống bông, đồng thời tiết độc tố kìm hãm sinh trưởng, gây hiện tượng chùn ngọn và giảm tích lũy đường. Bên cạnh tác hại cơ học, rệp còn là môi giới lan truyền các loại virus gây bệnh đốm lá, khảm lá và có mối quan hệ cộng sinh với các loài kiến, tiết mật tạo môi trường thuận lợi cho nấm muội đen bao phủ mặt lá làm suy giảm khả năng quang hợp của cây. Nhằm xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp, khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Trồng trọt của tác giả Hà Văn Thắng tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã triển khai đề tài: "Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc Bảo vệ thực vật đối với rệp muội hại cao lương ngọt cao sản nhập nội từ Nhật Bản vụ Xuân 2015 tại Thái Nguyên".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục đích: Trên cơ sở khảo nghiệm thực nghiệm, xác định hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc bảo vệ thực vật nhằm tuyển chọn được từ 1 đến 2 loại thuốc có hiệu lực diệt trừ rệp muội cao.
  2. Yêu cầu nghiên cứu:
    • Xác định được diễn biến mật độ và động thái quần thể rệp muội phát sinh trên cây cao lương ngọt tại Thái Nguyên trong vụ xuân 2015.
    • Xác định được hiệu lực sinh học và độ suy giảm mật độ rệp của 6 loại thuốc bảo vệ thực vật (hóa học và sinh học) ở các mốc thời gian sau xử lý.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quần thể rệp muội phát sinh gây hại trên cây cao lương ngọt và các loại thuốc bảo vệ thực vật trừ rệp.
  • Vật liệu nghiên cứu: Giống cao lương ngọt EN6 nhập nội từ Nhật Bản (do Công ty TNHH Earth Note cung cấp) và 6 chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật gồm Chess 50WG, Actara 25WP, Avado 100WP, Elsin 10EC, Oshin 20WP, Bio-Fun.
  • Phạm vi không gian: Ruộng thí nghiệm tại xã Thượng Đình, thị trấn Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Vụ Xuân 2015, theo dõi tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng dịch hại dựa trên cơ sở phân loại côn trùng học: rệp muội thuộc họ Aphididae, bộ Homoptera. Quần thể rệp có đặc điểm chu kỳ sống ngắn (15 - 50 ngày tùy điều kiện sinh thái), khả năng biến đổi linh hoạt giữa sinh sản vô tính (đơn tính đẻ con ở vùng nhiệt đới) và sinh sản hữu tính (giao phối đẻ trứng ở vùng ôn đới), cùng hiện tượng đa hình (cá thể có cánh - alate và cá thể không cánh - aptera). Tổng quan tài liệu đối chiếu phân loại với các công bố chuyên ngành cho thấy: trên thế giới có trên 4.000 loài rệp muội thuộc họ phụ Aphididae; tại Việt Nam, các công trình của Viện Bảo vệ thực vật (1976, 1999), Quách Thị Ngọ (1996, 2000), Nguyễn Kim Oanh (1996) đã ghi nhận tổng cộng 28 loài rệp muội hại cây trồng. Trên cây cao lương toàn cầu, hệ thống thống kê của Teetes và Pendleton (Đại học Texas A&M) ghi nhận 38 loài sâu hại hạt, rễ, lá, thân và sau thu hoạch, đi kèm 6 loài thiên địch bắt mồi và 4 nhóm ong ký sinh.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế và thực hiện chuẩn hóa:

  • Phương pháp điều tra thành phần rệp muội: Áp dụng phương pháp điều tra côn trùng của Quách Thị Ngọ (2000). Tiến hành điều tra định kỳ 4 ngày một lần trên cây cao lương theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 5 cây (tổng cộng 25 cây/lần điều tra). Thu mẫu rệp bằng bút lông nhúng nước sạch đưa vào cồn 70° hoặc acid lactic; gửi mẫu giám định định danh tại Bộ môn Giám định - Viện Bảo vệ thực vật.
  • Thang phân cấp mức độ phổ biến: Căn cứ tần suất bắt gặp mẫu vật:
    • Tần suất bắt gặp < 5%: Rất ít gặp (+)
    • Tần suất bắt gặp 5 - 25%: Ít phổ biến (++)
    • Tần suất bắt gặp 26 - 50%: Phổ biến (+++)
    • Tần suất bắt gặp > 50%: Rất phổ biến (++++)
  • Phương pháp điều tra biến động số lượng: Thiết lập 2 khu ruộng điều tra cố định, định kỳ 4 ngày/lần, 5 điểm/ruộng, 5 cây/điểm. Phân cấp mức độ hại trên lá từ cấp 0 đến cấp 4 (Cấp 0: không có rệp; Cấp 1: 1 cá thể đến 1 quần tụ nhỏ; Cấp 2: vài quần tụ; Cấp 3: số lượng lớn, mất cân xứng lá; Cấp 4: rệp dày đặc, hại toàn bộ lá và thân). Mẫu rệp từ cấp 2 trở lên được lấy theo phương pháp 3 lá (12 lá/cấp), bảo quản túi nilon, xử lý tách rệp bằng cồn 90° để đếm và quy đổi ra số cá thể rệp/cây.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật:
    • Bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 7 công thức và 3 lần nhắc lại, gồm 21 ô thí nghiệm.
    • Kích thước mỗi ô thí nghiệm: 2,6 m (4 hàng x 65 cm) × 3,0 m = 7,8 m²; dải phân cách giữa các ô là 0,5 m; tổng diện tích thí nghiệm đạt 163,8 m² (chưa bao gồm dải bảo vệ).
    • Quy trình canh tác theo kỹ thuật chuyển giao từ Nhật Bản: Mật độ cây cách cây 15 cm; mức bón phân quy chuẩn cho 1 ha gồm 3 tấn phân hữu cơ vi sinh + 300 kg N + 96 kg P₂O₅ + 134 kg K; áp dụng 1 đợt bón lót và 3 đợt bón thúc (giai đoạn 20 - 25 ngày, 50 ngày và 70 ngày sau trồng).
    • Định mức phun thuốc: 800 lít nước thuốc/ha, sử dụng bình phun bơm tay.
    • Các công thức khảo nghiệm: Công thức 1 (Chess 50WG), Công thức 2 (Actara 25WP), Công thức 3 (Avado 100WP), Công thức 4 (Elsin 10EC), Công thức 5 (Oshin 20WP), Công thức 6 (chế phẩm sinh học Bio-Fun), Công thức 7 (Đối chứng phun nước lã).
    • Chỉ tiêu theo dõi: Mật độ rệp sống trước khi phun 1 ngày và sau khi phun ở các thời điểm 1, 3, 5, 7 ngày.
  • Công thức tính toán và xử lý số liệu:
    • Hiệu lực trừ rệp của thuốc được tính theo công thức Henderson - Tilton: $$E (%) = \left(1 - \frac{T_a \times C_b}{T_b \times C_a}\right) \times 100$$ Trong đó: $T_a$ và $T_b$ lần lượt là số cá thể rệp sống ở ô xử lý thuốc sau và trước khi phun; $C_a$ và $C_b$ là số cá thể sống ở ô đối chứng sau và trước khi xử lý.
    • Số liệu thu thập được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel và phần mềm chuyên ngành nông học Irristat 5.0, tính toán các chỉ số phương sai, hệ số biến động (CV%) và sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức xác suất 95% (LSD₀,₀₅; P < 0,05).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả xác định tính cấp thiết của nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu nhiên liệu sinh học thay thế theo Quyết định 177/2007/QĐ-TTg và năng suất sinh học vượt trội của giống cao lương ngọt EN6 nhập nội từ Nhật Bản. Phần này làm rõ nguy cơ suy giảm năng suất và hàm lượng đường do tập đoàn sâu hại, đặc biệt là rệp muội. Tác giả xác lập mục đích nghiên cứu nhằm tuyển chọn từ 1 đến 2 loại thuốc bảo vệ thực vật có hiệu quả cao nhất để kiểm soát rệp muội trên giống cao lương ngọt tại vùng đất Thái Nguyên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện cơ sở khoa học về cây cao lương và sinh học rệp muội. Về mặt sản xuất nông nghiệp toàn cầu, văn bản trích dẫn nguồn số liệu thống kê FAOSTAT giai đoạn 2009 - 2013 cho thấy diện tích sản xuất cao lương thế giới dao động từ 38,16 đến 42,31 triệu ha, năng suất hạt đạt 13,77 - 14,95 tạ/ha, sản lượng từ 56,94 đến 61,38 triệu tấn. Châu Phi là khu vực có quy mô gieo trồng lớn nhất (năm 2013 đạt 26,54 triệu ha; sản lượng 24,70 triệu tấn) nhưng năng suất thấp (9,68 tạ/ha), trong khi Châu Mỹ dẫn đầu về năng suất bình quân (năm 2010 đạt 38,23 tạ/ha; năm 2013 đạt 34,52 tạ/ha trên diện tích 6,81 triệu ha).

Tại Việt Nam, các mô hình trồng thử nghiệm giống thuần ICRISAT nhập từ Ấn Độ chỉ đạt sinh khối 30 - 35 tấn/ha. Chương tổng quan cũng phân tích chi tiết đặc điểm hình thái và tác hại của ba loài rệp hại cao lương chính trên thế giới: rệp xanh (Schizaphis graminum), rệp vàng mía (Sipha flava) và rệp ngô (Rhopalosiphum maidis), đồng thời tổng hợp các kết quả thử nghiệm thuốc hóa học tại Việt Nam trước đó (như Omethoate, Darnitol, Bi-58, Trebon, Bassa trừ rệp mía đạt hiệu lực 99,9 - 100%).

Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất hạt (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
2009 40,94 13,91 56,94
2010 41,58 14,44 60,06
2011 42,31 13,77 58,24
2012 38,16 14,95 57,03
2013 42,12 14,57 61,38

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Phần này mô tả cấu trúc thực nghiệm, vật liệu nghiên cứu (giống cao lương EN6, 6 loại thuốc BVTV và dụng cụ chuyên dụng), địa điểm (xã Thượng Đình, huyện Phú Bình) và thời gian thực hiện (tháng 3 - 5/2015). Tác giả chi tiết hóa sơ đồ bố trí ô thí nghiệm RCBD với 21 ô thực nghiệm diện tích 7,8 m²/ô, quy trình kỹ thuật canh tác bón phân 3 tấn phân vi sinh + 300N + 96P₂O₅ + 134K/ha theo kỹ thuật Nhật Bản, các quy chuẩn điều tra định kỳ 4 ngày/lần theo Quách Thị Ngọ (2000), phương pháp xử lý mẫu cồn 70° và 90°, công thức tính hiệu lực Henderson - Tilton và xử lý thống kê bằng phần mềm Irristat 5.0.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương kết quả trình bày 5 nhóm dữ liệu thực nghiệm trọng tâm:

  1. Đặc điểm thời tiết khí hậu: Số liệu từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn tỉnh Thái Nguyên vụ Xuân 2015 ghi nhận nhiệt độ trung bình tăng từ 18,8°C (tháng 2) lên 28,9°C (tháng 5); độ ẩm không khí trung bình dao động 79 - 90%; lượng mưa tăng từ 25,4 mm (tháng 2) lên cực đại 111,5 mm (tháng 5). Nền nhiệt độ 24,6 - 28,9°C và độ ẩm 79 - 81% trong tháng 4 và tháng 5 là điều kiện tối thích thúc đẩy rệp tích lũy số lượng.
  2. Thành phần rệp gây hại: Giám định hình thái học từ Viện Bảo vệ thực vật xác định có 2 loài rệp phát sinh trên giống EN6 gồm rệp ngô (Rhopalosiphum maidis Fitch) xuất hiện ở mức độ phổ biến (+++, tần suất 26 - 50%) và rệp vàng mía (Sipha flava Forbes) ở mức ít phổ biến (++, tần suất 5 - 25%). Rệp ngô có vòng đời 6,73 - 7,1 ngày ở 22,5°C và độ ẩm 80,8%; cá thể không cánh đẻ trung bình 29,85 rệp con trong 14,9 ngày, cá thể có cánh đẻ 16,9 con trong 10,4 ngày.
  3. Diễn biến mật độ rệp muội: Rệp bắt đầu xuất hiện từ ngày 17/4 (22 ngày sau trồng, khi cây có 7 - 9 lá) với mật độ 1,6 - 2,8 con/cây. Sau đợt mưa ngày 25/4 làm giảm mật độ xuống 0,6 - 1,2 con/cây, quần thể bùng phát lên 147,2 con/cây vào ngày 7/5; giảm tạm thời xuống 93,7 con/cây vào ngày 11/5 do mưa lớn, sau đó tăng vọt đạt 320,5 con/cây vào giữa tháng 5 và đạt đỉnh cao nhất trên 1.200 con/cây (1.203,1 con/cây) vào cuối tháng 5.
  4. Khảo nghiệm hiệu lực thuốc bảo vệ thực vật: Bảng số liệu theo dõi mật độ và hiệu lực Henderson - Tilton sau 1, 3, 5, 7 ngày chứng minh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm thuốc (P < 0,05). Hai loại thuốc Elsin 10EC và Oshin 20WP thể hiện hiệu lực diệt trừ triệt để 100% từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau phun. Chế phẩm sinh học Bio-Fun có tác động chậm (5,3% sau 1 ngày) do thời gian ủ bệnh nhưng tăng đều và đạt 87,5% sau 7 ngày.
  5. Thành phần thiên địch: Xác định 3 nhóm thiên địch ăn thịt trên ruộng gồm bọ rùa (Coccinellidae) có tần suất bắt gặp cao nhất (26 - 50%, mức +++), ruồi ăn rệp (Syrphidae) và kiến ba khoang (Staphilinidae) cùng có tần suất 11 - 25% (mức ++). Sâu non loài ruồi ăn rệp (Syrphus ribesii) có sức tiêu thụ trung bình đạt 39,55 cá thể rệp/ngày.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết ngắn gọn các kết quả về thành phần loài rệp gây hại chính (R. maidis và S. flava), thời điểm phát sinh mật độ (bắt đầu sau trồng 22 ngày và tăng vọt từ trung tuần tháng 5), khẳng định hiệu lực tối ưu kéo dài của Elsin 10EC và Oshin 20WP (đạt 100% sau 7 ngày), đồng thời đề xuất kiến nghị tiếp tục nghiên cứu khảo nghiệm trên diện rộng để hoàn thiện quy trình bảo vệ thực vật cho cây cao lương ngọt.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm định lượng cụ thể về hiệu lực phòng trừ rệp muội hại cao lương ngọt tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên, được tổng hợp chi tiết qua bảng theo dõi sau:

Công thức khảo nghiệm Mật độ rệp trước phun (con/cây) Mật độ sau 1 ngày (con/cây) Hiệu lực sau 1 ngày (%) Mật độ sau 3 ngày (con/cây) Hiệu lực sau 3 ngày (%) Mật độ sau 5 ngày (con/cây) Hiệu lực sau 5 ngày (%) Mật độ sau 7 ngày (con/cây) Hiệu lực sau 7 ngày (%)
Chess 50WG 325,3 140,3 57,5 5,5 97,9 29,1 87,8 66,7 73,9
Actara 25WP 156,0 58,2 63,2 3,2 97,5 16,1 86,0 24,8 79,8
Avado 100WP 260,1 119,0 54,9 14,3 93,2 38,6 79,8 56,7 72,3
Elsin 10EC 427,5 147,8 65,9 0,0 100,0 0,0 100,0 0,0 100,0
Oshin 20WP 183,5 61,1 67,1 0,0 100,0 0,0 100,0 0,0 100,0
Bio-Fun 157,1 150,8 5,3 69,2 45,8 24,6 78,7 15,5 87,5
Đối chứng (nước) 214,0 217,2 0,0 174,1 0,0 157,5 0,0 168,6 0,0
CV% 14,2 13,0 9,4 12,0 3,5 13,7 5,4 13,1 4,2
LSD₀,₀₅ 62,0 29,5 7,5 8,1 4,7 9,2 7,3 11,0 5,5

Từ kết quả phân tích số liệu thực nghiệm:

  • Hai loại thuốc hóa học Elsin 10EC và Oshin 20WP đạt hiệu quả diệt trừ cao nhất và ổn định nhất, duy trì hiệu lực tiêu diệt 100% từ ngày thứ 3 và duy trì kéo dài đến hết ngày thứ 7 sau khi xử lý.
  • Các loại thuốc hóa học khác gồm Chess 50WG, Actara 25WP và Avado 100WP có hiệu lực hạ gục nhanh sau 3 ngày (đạt từ 93,2% đến 97,9%), tuy nhiên giảm rõ rệt sau 7 ngày (xuống mức 72,3% - 79,8%), phản ánh hiện tượng tái nhiễm hoặc khả năng thích nghi kháng thuốc của rệp.
  • Chế phẩm sinh học Bio-Fun thể hiện tính chất đặc thù của thuốc sinh học: tốc độ suy giảm mật độ chậm trong 24 giờ đầu (hiệu lực 5,3%), tăng dần ở ngày thứ 3 (45,8%), ngày thứ 5 (78,7%) và đạt hiệu lực cao nhất ở ngày thứ 7 (87,5%).

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn: Công trình đã bổ sung số liệu côn trùng học thực địa đầu tiên về thành phần loài rệp gây hại (Rhopalosiphum maidis và Sipha flava) trên giống cao lương ngọt EN6 nhập nội từ Nhật Bản tại vùng trung du miền núi phía Bắc. Nghiên cứu xác định chính xác thời điểm rệp xâm nhập gây hại (sau trồng 22 ngày) và thời điểm bùng phát mật độ cực đại (trung tuần đến cuối tháng 5, đạt đỉnh 1.203,1 con/cây), đồng thời ghi nhận vai trò hạn chế sâu hại của 3 nhóm thiên địch (bọ rùa, ruồi ăn rệp, kiến ba khoang). Về giải pháp kỹ thuật, tác giả đề xuất lựa chọn Elsin 10EC và Oshin 20WP là 2 chế phẩm ưu tiên hàng đầu để xử lý ổ dịch rệp muội, đồng thời ghi nhận Bio-Fun là giải pháp trừ sâu sinh học có hiệu lực kéo dài cần được kết hợp trong các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện đề tài:

  • Giới hạn thời gian và quy mô: Thí nghiệm chỉ được triển khai trong phạm vi 1 vụ gieo trồng (vụ Xuân 2015, từ tháng 3 đến tháng 5) và tại một địa điểm duy nhất (xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên), do đó chưa phản ánh được biến động sinh thái của quần thể rệp muội qua các vụ khác nhau (như vụ Thu Đông) và trên các tiểu vùng sinh thái khác của miền Bắc.
  • Giới hạn nội dung nghiên cứu: Chưa đi sâu đánh giá cơ chế phục hồi quần thể và mức độ kháng thuốc của rệp muội đối với các hoạt chất hóa học có xu hướng suy giảm hiệu lực ở ngày thứ 7 (Chess 50WG, Avado 100WP); chưa khảo sát tác động tồn dư của 2 loại thuốc có hiệu lực cao (Elsin 10EC, Oshin 20WP) đến sự sống sót và mật độ của các loài thiên địch có ích trên đồng ruộng.
  • Hướng mở rộng nghiên cứu: Tác giả đề nghị tiếp tục tiến hành các nghiên cứu sâu hơn về diễn biến mật độ và thành phần rệp muội hại cao lương ngọt qua nhiều thời vụ canh tác; mở rộng khảo nghiệm diện rộng nhằm khẳng định độ tin cậy và tính ổn định về hiệu quả kỹ thuật của Elsin 10EC và Oshin 20WP đối với rệp ngô và các loài rệp muội nói chung.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo ứng dụng và học thuật đối với sinh viên, học viên cao học và cán bộ kỹ thuật thuộc chuyên ngành Nông học, Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Sinh học ứng dụng. Cụ thể, các nội dung có giá trị kế thừa kỹ thuật gồm:

  • Quy trình chuẩn hóa thiết kế thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) trên đối tượng cây sinh khối cao lương ngọt, chi tiết từ mật độ khoảng cách (15 cm x 65 cm), quy trình phân bón (hữu cơ vi sinh kết hợp N-P-K theo tiêu chuẩn Nhật Bản) đến kích thước và dải bảo vệ của ô thí nghiệm (7,8 m²/ô).
  • Phương pháp điều tra, phân cấp gây hại và kỹ thuật thu mẫu rệp muội bằng dung dịch cồn/acid lactic theo hướng dẫn của Quách Thị Ngọ (2000), cùng quy trình tính toán hiệu lực diệt trừ của thuốc bảo vệ thực vật qua công thức Henderson - Tilton và xử lý thống kê bằng phần mềm Irristat 5.0.
  • Số liệu sinh học về chu kỳ sống, khả năng sinh sản của rệp ngô (Rhopalosiphum maidis) và danh mục các loài thiên địch (bọ rùa, ruồi ăn rệp, kiến ba khoang) làm cơ sở thiết lập ngưỡng phòng trừ dịch hại.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống cao lương ngọt nào được sử dụng trong nghiên cứu và có xuất xứ từ đâu?
Nghiên cứu sử dụng giống cao lương ngọt EN6 cao sản. Giống này được nhập nội từ Nhật Bản thông qua chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học giữa Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Công ty TNHH Earth Note (Nhật Bản) ký kết từ năm 2011.

2. Thành phần loài rệp muội gây hại trên giống cao lương ngọt EN6 gồm những loài nào và loài nào phổ biến nhất?
Kết quả giám định mẫu vật từ Viện Bảo vệ thực vật xác định có 2 loài rệp gây hại gồm: rệp ngô (Rhopalosiphum maidis Fitch, tên tiếng Anh: Corn Leaf Aphid) và rệp vàng mía (Sipha flava Forbes, tên tiếng Anh: Yellow Sugarcane Aphid). Trong đó, rệp ngô là loài gây hại phổ biến nhất với tần suất bắt gặp trên đồng ruộng đạt 26 - 50% (cấp +++), còn rệp vàng mía chỉ xuất hiện ở mức ít phổ biến với tần suất 5 - 25% (cấp ++).

3. Mật độ rệp muội biến động ra sao trong vụ Xuân 2015 và thời điểm nào quần thể rệp đạt đỉnh?
Rệp bắt đầu xuất hiện sau khi trồng 22 ngày (ngày 17/4, giai đoạn cây có 7 - 9 lá) với mật độ 1,6 - 2,8 con/cây. Mật độ giảm tạm thời khi có mưa rào vào cuối tháng 4 (0,6 - 1,2 con/cây) và ngày 11/5 (93,7 con/cây), sau đó tăng trưởng nhanh trong điều kiện nhiệt độ 24,6 - 28,9°C và độ ẩm 79 - 81%. Quần thể đạt mật độ cao vào giữa tháng 5 (320,5 con/cây) và đạt đỉnh điểm lớn nhất vào cuối tháng 5 với số lượng trên 1.200 con/cây (1.203,1 con/cây).

4. Hai loại thuốc bảo vệ thực vật nào đạt hiệu lực phòng trừ cao nhất trong khảo nghiệm?
Hai loại thuốc đạt hiệu lực cao nhất là Elsin 10EC và Oshin 20WP. Cả hai chế phẩm này đều tiêu diệt rệp muội với hiệu lực đạt 100% ở thời điểm 3 ngày sau khi phun và duy trì liên tục tỷ lệ diệt trừ 100% cho đến ngày thứ 7 sau xử lý, vượt trội so với các loại thuốc hóa học khác (Chess 50WG, Actara 25WP, Avado 100WP chỉ đạt 72,3 - 79,8% sau 7 ngày).

5. Tập đoàn thiên địch tự nhiên của rệp muội ghi nhận được trên ruộng thí nghiệm gồm những loài nào?
Đồng ruộng ghi nhận 3 nhóm thiên địch bắt mồi ăn thịt rệp gồm: bọ rùa (họ Coccinellidae, bộ Cánh cứng) với mức độ phổ biến cao nhất đạt tần suất bắt gặp 26 - 50%; ruồi ăn rệp (họ Syrphidae) với tần suất bắt gặp 11 - 25% (trong đó sâu non loài Syrphus ribesii ăn trung bình 39,55 con rệp/ngày); và kiến ba khoang (họ Staphilinidae, bộ Cánh cứng) có tần suất bắt gặp 11 - 25%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Văn Thắng đã xác định rệp ngô (Rhopalosiphum maidis) và rệp vàng mía (Sipha flava) là hai loài rệp muội chính gây hại trên giống cao lương ngọt EN6 nhập nội từ Nhật Bản tại Thái Nguyên vụ Xuân 2015, trong đó rệp ngô giữ vai trò gây hại chủ yếu. Quần thể rệp phát sinh sau trồng 22 ngày và bùng phát mật độ cực đại (trên 1.200 con/cây) vào cuối tháng 5 dưới tác động của nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi. Kết quả khảo nghiệm 6 loại thuốc bảo vệ thực vật khẳng định Elsin 10EC và Oshin 20WP là hai loại thuốc đạt hiệu lực trừ rệp tối ưu tuyệt đối (100% sau 3 đến 7 ngày), cung cấp căn cứ thực nghiệm tin cậy cho việc phòng trừ dịch hại rệp muội và bảo tồn các loài thiên địch trên cây cao lương ngọt làm nguyên liệu sinh học.