Chương 1 b. Hệ thống đường GTNT là 492.892 km Đường huyện Đường xã Đường thôn xóm Đường trục chính nội đồng (km) (km) (km) (km) Đến 2015 Đến 2015 Đến 2015 Đến 2015 58.597 Bảng 1-2: Danh sách 65 xã trên đất liền chưa có đường ô tô đến trung tâm xã (không tính các xã đảo) (Báo cáo tổng kết 5 năm 2010 -2015 về xây dựng GTNT gắn với mục tiêu XD nông thôn mới và thực hiện Chiến lược phát triển GTNT) TT Tên tỉnh Số xã chưa có đường ô tô đến trung tâm Ghi chú 18 xã (Vĩnh Trường, Phú Hữu, Phú Hội, Vĩnh Lộc, Vĩnh Hậu – H.An Phú; An Bình, Vĩnh Khánh, Vĩnh Chánh, Mỹ Phú Đông – H. Thoại 1 An Giang Sơn; Kiến An, Mỹ Hội Đông, Kiến Thành, Long. Giang, Tấn Mỹ, Bình Xuân Phước – H.
Chợ Mới; Vĩnh Lợi, Bình Thạnh – H. Châu Thành; Bình Phú – H. Châu Phú) TP Cần Thơ đang tập 3 xã (xã Thạnh Lợi – Vĩnh Thạnh; Tân Thạnh và 2 Cần Thơ trung xây dựng đường ô Trường Thắng – H.Thới Lai) tô đến các xã này. 3 xã mới thành lập (xã Phú Tân, Phũ Hữu – H.
3 xã mới tách nên chưa 3 Hậu Giang Châu Thành, xã Vĩnh Viễn – H. Long Mỹ) có đường ô tô 01 xã An Hữu thuộc H.Châu Thành, xã cù lao – Sở báo cáo nhầm ấp ở 4 Đồng Tháp có phà một lưỡi không chở được ô tô TP Sa Đéc thành xã 2 xã cù lao phải đi qua phà đến là xã Long Hòa Đây là các xã cù lao đã 5 Trà Vinh và Minh Hòa thuộc H.Châu Thành) có phà 5 xã (các xã Trinh Phú, Ba Trinh, Đại Ân 1, Mỹ 6 Sóc Trăng Tú chưa có đường ô tô, riêng xã Phong Nẫm chưa có phà đưa ô tô qua sông) Có 13 xã (Vĩnh Thịnh – H.Hòa Bình; Phong Thạnh A, Phong Thạnh Đông, Phong Tân – H.Giá Rai; An Trạch A, Long Điền Đông A, 7 Bạc Liêu Long Điền Đông, Long Điền Tây – H.Đông Hải; Ninh Thạnh Lợi, Ninh Thạnh Lợi A, Vĩnh Lộc A – H.Hồng Dân; Phong Thạnh Tây B – H.Phước Long; Châu Hưng A – H. 8 Cà Mau Có 7 xã (Nguyễn Huân, Tân Thuận – H. Đầm 02 xã vừa mới có đường Dơi; Tam Giang, Hiệp Tùng – H.
Năm Căn; Tân ô tô đến trung tâm sau Trang 18 Chương 1 Ân, Đất Mũi; Thới Bình – H. Thới Bình) khi khánh thành đường Hồ Chí Minh đoạn từ cầu Cái Tắc đến cầu Năm Căn: Viên An và Viên An Đông – H. Có 8 xã, gồm: + 5 xã An Bình – H.Long Hồ; Quới Thiện, Thanh Bình – H.Vũng Liêm; xã Phú Thạnh và xã Lục Sĩ Thành – H. Đây là các xã cù lao đã 9 Vĩnh Long + Và 3 xã Đồng Phú, Hòa Ninh và Bình Hòa có phà Phước thuộc huyện Long Hồ đường đến trung tâm huyện phải từ đường huyện vào QL 57 sau qua phà Đình Khao trên QL57 do TƯ quản lý.
10 Lai Châu 1 xã (Xã Nậm Chà – H.Nậm Nhùm) xã mới tách 2 xã gồm Nhôn Mai và Mai Sơn huyện Tương 11 Nghệ An Toàn tỉnh có 431 xã Dương 2 xã gồm Chờ Chun- H.Nam Giang và Trà Sơn - 12 Q. Nam Bắc Trà Mi mới tách đến tháng 6/2015 sẽ hoàn thành đường đến trung tâm xã 1. Tổng quan về sử dụng mặt đường giao thông nông thôn ở khu vực Tiền Giang Tiền Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam, với phần lớn diện tích của tỉnh thuộc địa bàn tỉnh Mỹ Tho trước đó. Tuy nhiên, cũng có thời kỳ toàn bộ diện tích tỉnh Tiền Giang ngày nay đều thuộc tỉnh Mỹ Tho, bao gồm cả vùng Gò Công.
Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh lỵ của Tiền Giang hiện nay là thành phố Mỹ Tho, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Bắc và cách Thành phố Cần Thơ 100 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A. Tiền Giang có đường bờ biển dài 32 km, với địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền, chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh, thích hợp cho nhiều loại giống cây trồng và vật nuôi. Mạng lưới viễn thông Tiền Giang được hiện đại hóa và triển khai đồng loạt trong toàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế.
Ngoài ra Tiền Giang cũng là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước, nền sản xuất nông nghiệp, đời sống người nông dân cũng như cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn đã cơ bản thay đổi và đạt được những thành tựu to lớn. Năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ khá cao, bền vững; hàng hóa nông sản được phân phối rộng khắp nhờ hệ thống cơ sở hạ tầng đường bộ đã có bước phát triển vượt bậc so với những năm trước. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu của công Trang 19 Chương 1 cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn nhiều thách thức được đặt ra.
Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là yêu cầu cấp thiết và có tính chất sống còn đối với xã hội, nhằm xóa bỏ rào cản giữa thành thị và nông thôn, rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo và góp phần mang lại cho nông thôn một diện mạo mới, tiềm năng để phát triển. Hình 1-1: Đường vào xã nông thôn mới Thanh Bình huyện Chợ Gạo Nông dân và nông thôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Đứng trước yêu cầu phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng hiện đại; đồng thời xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp. Trong đó, người nông dân có vị trí then chốt nhằm phát huy nhân tố con người, khơi dậy mọi tiềm năng của nông dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.
Thực tiễn đã ghi nhận sự đột phá về đường lối của Đảng trong thời kỳ đổi mới ở lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn bằng Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 13/7/2011 của Tỉnh ủy Tiền Giang về việc tăng cường lãnh đạo xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. Bằng Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009, Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Đây là những mục tiêu và tiêu chí mà tỉnh Tiền Giang cần đạt được bằng một sự phấn đấu cao độ trong giai đoạn tới trên cơ sở thực trạng giao thông nông thôn hiện nay. Theo tiêu chí này, khu vực đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT phải đạt 100%.
Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn tối thiểu là 50%. Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa phải đạt 100% (trong đó có hơn 30% cứng hóa đạt chuẩn). Đường trục chính nội đồng đạt hơn 50%. Trang 20 Chương 1 Năm năm qua, các chủ trương lớn của Đảng và việc thực hiện quyết liệt của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; hiện nay hệ thống giao thông nông thôn đã có bước phát triển căn bản và nhảy vọt, làm thay đổi không chỉ về số lượng mà còn nâng cấp về chất lượng đường giao thông nông thôn, đảm bảo lưu thông thuận tiện đến từng thôn xóm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển văn hóa, xã hội và thu hút các cá nhân, tổ chức đầu tư về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.
Theo số liệu thống kê, đến nay cả tỉnh Tiền Giang có 144 xã; trong đó, xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã đạt 100%. Một điều đáng chú ý là không chỉ đường giao thông đến trung tâm xã được chú trọng mà đường đến các xóm, ấp cũng được các cấp chính quyền hết sức quan tâm đầu tư. Điều đó góp phần thay đổi cuộc sống của người dân nơi vùng sâu, vùng xa, cù lao vốn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện địa lý cũng như văn hóa xã hội. Qua năm năm (2011-2015), tổng số chiều dài km đường giao thông nông thôn được đầu tư tăng thêm 983,33km với kinh phí hơn 1.581 tỷ đồng từ những nguồn vốn đầu tư cho giao thông nông thôn rất đa dạng được huy động như: ngân sách Trung ương (98,52 tỷ đồng), ngân sách địa phương (602,892 tỷ đồng); vốn lồng ghép (45,341 tỷ đồng); vốn huy động của doanh nghiệp (11,677 tỷ đồng), tín dụng (135,251 tỷ đồng), cộng đồng nhân dân (485,77 tỷ đồng) và vốn khác (300,49 tỷ đồng).
Hình 1-2: Khen thưởng những cá nhân có thành tích trong phong trào xây dựng Nông thôn mới Tuy có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm qua nhưng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn của tỉnh vẫn còn những tồn tại, bất cập và thách thức: Thứ nhất, hệ thống đường nông thôn chưa đáp ứng kịp với tốc độ phát triển và tiềm lực kinh tế. Hệ thống đường giao thông nông thôn chưa được đầu tư phủ kín và chưa có sự kết nối liên hoàn từ hệ thống đường tỉnh, đường huyện xuống nông thôn nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, cù lao. Tiêu chuẩn kỹ thuật còn thấp, chủ yếu là đường chỉ có 01 Trang 21 Chương 1 làn xe, an toàn giao thông nông thôn vẫn còn nhiều bất cập, chất lượng công trình còn thấp, tải trọng thấp, chưa đồng bộ trong thiết kế cầu cống và đường. Chất lượng mặt đường giao thông nông thôn chưa cao.
Hiện nay, tỷ lệ mặt đường là đất và cấp phối còn chiếm tỷ lệ cao, gây khó khăn cho đi lại và chuyển hàng hóa vào mùa mưa. Thứ hai, đối với quy hoạch kết cấu hạ tầng nông thôn, hầu hết các huyện trong các tỉnh đều chưa có quy ho ạch đồng bộ mạng lưới giao thông nên chưa xây dựng được kế hoạch lâu dài để phát triển một cách đồng bộ. Điều này làm cho việc đầu tư còn mang tính tự phát, chưa có tính định hướng, gây ảnh hưởng đến việc nâng cấp, cải tạo và phát triển sau này.