Luận án tiến sĩ công nghệ sinh học nghiên cứu khả năng ức chế vi khuẩn xanthomonas sp gây bệnh loét trên cây chanh của cao chiết phân đoạn từ cây giao euphorbia tirucalli l

Luận án tiến sĩ nghiên cứu khả năng ức chế vi khuẩn xanthomonas sp gây bệnh loét trên cây chanh từ cao chiết cây giao euphorbia tirucalli.

Chuyên ngành

Khoa học Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

224
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT

SUMMARY

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của luận án

2. Mục tiêu của luận án

3. Ý nghĩa khoa học của luận án

4. Ý nghĩa thực tiễn của luận án

5. Đối tượng nghiên cứu của luận án

6. Những đóng góp mới của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về cây chanh

1.2. Vị trí phân loại

1.3. Đặc điểm thực vật

1.4. Tình hình sản xuất chanh ở Long An

1.5. Tổng quan về bệnh loét do vi khuẩn trên cây chanh

1.6. Lịch sử và phân bố

1.7. Triệu chứng bệnh và thiệt hại về kinh tế

1.8. Nguồn bệnh và điều kiện phát sinh bệnh

1.9. Các dạng bệnh loét do vi khuẩn trên cây chanh

1.10. Biện pháp phòng trừ

1.11. Tổng quan về vi khuẩn Xanthomonas axonopodis gây bệnh loét trên cây chanh

1.12. Vị trí phân loại

1.13. Đặc điểm hình thái, sinh lý và sinh hóa

1.14. Đặc điểm di truyền của vi khuẩn Xanthomonas axonopodis

1.15. Vai trò vùng rDNA-ITS

1.16. Giới thiệu về các gene gây bệnh

1.17. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước về vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. citri và bệnh loét do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. citri trên cây có múi

1.18. Tổng quan về cây giao (Euphorbia tirucalli L.

1.19. Phân loại thực vật

1.20. Đặc điểm thực vật

1.21. Nguồn gốc và phân bố

1.22. Thành phần hóa học của cây giao (E.

1.23. Khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh trên cây trồng của dịch chiết cây giao (E.

1.24. Tổng quan về hợp chất thứ cấp phenolic

1.25. Tính chất kháng khuẩn của các hợp chất phenolic

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Vật liệu nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phân lập và xác định loài vi khuẩn Xanthomonas sp. gây bệnh loét trên cây chanh theo hình thái, đặc điểm sinh hóa, trình tự vùng 16S rDNA, hrpW và pthA

2.4.2. Xác định loài vi khuẩn Xanthomonas sp. gây bệnh theo hình thái và đặc tính sinh hóa

2.4.3. Xác định loài vi khuẩn Xanthomonas sp. dựa vào trình tự vùng 16S rDNA, hrpW và pthA

2.4.4. Đánh giá hoạt tính ức chế vi khuẩn Xanthomonas sp. của cao chiết phân đoạn từ cây giao trong điều kiện in vitro

2.4.5. Xác định độ ẩm của mẫu bột cây giao

2.4.6. Xác định hợp chất trong cao phân đoạn có hoạt tính ức chế vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv.

2.4.7. Xác định hàm lượng các hợp chất có trong cao chiết phân đoạn có hoạt tính ức chế vi khuẩn X. axonopodis cao nhất

2.4.8. Đánh giá hiệu quả đối với bệnh loét do vi khuẩn X. axonopodis gây ra của cao chiết phân đoạn từ cây giao trong nhà lưới và ngoài đồng

2.4.9. Xác định liều lượng ức chế vi khuẩn Xanthomonas axonopodis trong điều kiện nhà lưới của cao chiết phân đoạn từ cây giao ở các nồng độ khác nhau

2.4.10. Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh bệnh loét trên cây chanh của cao chiết phân đoạn từ cây giao ngoài đồng

2.4.11. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Xác định loài vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. citri gây bệnh loét trên cây chanh theo hình thái, đặc điểm sinh hóa, trình tự vùng 16S rDNA, hrpW và pthA

3.2. Xác định loài vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. citri gây bệnh theo hình thái và đặc điểm sinh hóa

3.3. Kết quả khảo sát khả năng gây bệnh của các MPL X. citri theo quy tắc Koch’s

3.4. Xác định loài Xanthomonas axonopodis pv. citri dựa vào trình tự vùng gene 16S rDNA, hrpW và pthA

3.5. Xác định loài Xanthomonas sp. dựa vào trình tự vùng gene 16S rDNA

3.6. Xác định loài vi khuẩn X. citri dựa vào vùng gene hrpW

3.7. Xác định loài vi khuẩn X. citri dựa vào vùng gene pthA

3.8. Đánh giá hoạt tính ức chế vi khuẩn X. citri của cao chiết phân đoạn từ cây giao trong điều kiện phòng thí nghiệm

3.9. Kết quả tạo cao chiết toàn phần và các cao phân đoạn từ cây giao (Euphorbia tirucalli L.

3.10. Đánh giá hoạt tính ức chế vi khuẩn X. citri của các cao chiết phân đoạn

3.11. Kết quả định tính các nhóm hoạt chất có trong các cao chiết phân đoạn từ cây giao

3.12. Hàm lượng phenolic tổng và flavonoid tổng của cao chiết phân đoạn từ cây giao (E.

3.13. Kết quả phân lập hợp chất

3.13.1. Hợp chất scopoletin (hợp chất 1)

3.13.2. Hợp chất gallic acid (hợp chất 2)

3.13.3. Hợp chất piperic acid (hợp chất 3)

3.13.4. Hợp chất 3,3’,4-tri-O-methylellagic acid (Hợp chất 4)

3.14. Hàm lượng các hợp chất có trong cao chiết phân đoạn có hoạt tính ức chế vi khuẩn X. citri cao nhất

3.15. Đánh giá hiệu quả đối với bệnh loét do vi khuẩn X. citri gây ra của cao chiết phân đoạn từ cây giao trong nhà lưới và ngoài đồng

3.16. Đánh giá hiệu quả đối với bệnh loét do vi khuẩn X. citri của cao chiết EA từ cây giao ở các nồng độ khác nhau trong điều kiện nhà lưới

3.17. Hiệu quả phòng trừ bệnh loét do vi khuẩn X. citri gây ra trên cây chanh của cao chiết ethyl acetate từ cây giao ở các nồng độ khác nhau ngoài đồng

3.17.1. Hiệu quả phòng trừ bệnh loét trên lá chanh của cao chiết ethyl acetate ở các nồng độ khác nhau

3.17.2. Hiệu lực phòng trừ bệnh loét trên quả chanh của cao chiết EA ở các nồng độ khác nhau

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ức chế vi khuẩn

Nghiên cứu tập trung vào ức chế vi khuẩn Xanthomonas, tác nhân gây bệnh loét trên cây chanh. Phương pháp sử dụng cao chiết từ Euphorbia Tirucalli đã được đánh giá hiệu quả trong việc kiểm soát sự phát triển của vi khuẩn. Kết quả cho thấy, cao chiết ethyl acetate (EA) có khả năng ức chế mạnh với đường kính vòng vô khuẩn đạt 17,67mm ở nồng độ 0,75%. Điều này khẳng định tiềm năng của cao chiết trong việc thay thế các phương pháp hóa học truyền thống.

1.1. Phương pháp điều trị

Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp điều trị bằng cao chiết trong điều kiện in vitro, nhà lưới và ngoài đồng. Kết quả cho thấy, cao chiết EA ở nồng độ 1,0% giảm kích thước vết bệnh xuống 0,91mm, hiệu quả giảm bệnh đạt 67,84%. Điều này chứng minh tính hiệu quả của biện pháp sinh học trong việc kiểm soát bệnh thực vật.

II. Xanthomonas và bệnh loét

Xanthomonas là tác nhân chính gây bệnh loét trên cây chanh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng quả. Nghiên cứu đã xác định Xanthomonas axonopodis pv. citri thông qua đặc điểm hình thái, sinh hóa và phân tích trình tự gene 16S rDNA, hrpW, pthA. Kết quả cho thấy, trình tự gene của các mẫu phân lập có độ tương đồng cao từ 94-99% với X. citri trên GenBank.

2.1. Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh được xác định thông qua quy trình Koch’s, với các triệu chứng điển hình như vết loét trên lá, cành và quả. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, Xanthomonas có khả năng lây lan nhanh trong điều kiện ẩm ướt, đặc biệt là vào mùa mưa.

III. Euphorbia Tirucalli và cao chiết

Euphorbia Tirucalli được sử dụng để chiết xuất các hợp chất có hoạt tính kháng khuẩn. Cao chiết EA chứa các nhóm hợp chất như alkaloid, flavonoid, tannin, và terpenoid, với hàm lượng phenolic và flavonoid cao nhất lần lượt là 106,32 mgGAE/g và 450,83 μgQE/g. Các hợp chất như scopoletin, gallic acid, và piperic acid được phân lập từ cao chiết cũng cho thấy hoạt tính ức chế mạnh đối với Xanthomonas.

3.1. Kháng sinh thực vật

Nghiên cứu đã chứng minh tiềm năng của kháng sinh thực vật từ Euphorbia Tirucalli trong việc kiểm soát bệnh thực vật. Piperic acid, một hợp chất mới được phát hiện, có hoạt tính kháng khuẩn mạnh, mở ra hướng nghiên cứu mới trong công nghệ sinh học.

IV. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của cao chiết EA trong điều kiện thực tế. Kết quả cho thấy, sử dụng cao chiết ở nồng độ 1,25% giảm tỷ lệ bệnh trên lá và quả lần lượt là 63,75% và 61,29%, với hiệu quả kéo dài đến 21 ngày. Điều này khẳng định tính khả thi của biện pháp sinh học trong nông nghiệp bền vữngbảo vệ thực vật.

4.1. Bảo vệ thực vật

Nghiên cứu đã góp phần vào việc phát triển các biện pháp sinh học thân thiện với môi trường, thay thế các phương pháp hóa học độc hại. Cao chiết Euphorbia Tirucalli không chỉ hiệu quả mà còn an toàn cho người sử dụng và môi trường.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ công nghệ sinh học nghiên cứu khả năng ức chế vi khuẩn xanthomonas sp gây bệnh loét trên cây chanh của cao chiết phân đoạn từ cây giao euphorbia tirucalli l

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây chanh 1. Nguồn gốc Chanh giấy (Citrus aurantifolia Swingle), chanh có nguồn gốc xuất phát từ vùng Indonesia và Malaysia. Những người Ả Rập đã mang cây chanh đến Bắc Phi và Tây Nam Á rồi đến Địa Trung Hải.

Đến giữa thế kỉ XIII, chanh giấy được trồng tại Ý và Pháp. Chanh không hạt (Citrus latifolia Tanaka) là giống chanh được lai từ chanh giấy (C. aurantifolia Swingle) với giống chanh yên (C. Theo một số báo cáo, chanh không hạt có bộ gen tam bội dù chỉ có 18 bộ nhiễm sắc thể.

Chanh không hạt đã được trồng ở khu vực Địa Trung Hải với tên gọi khác là “Sakhesli”. Sau đó được các thương nhân Bồ Đào Nha mang đến Brazil và từ đây mang đến Úc năm 1824. Cây chanh không hạt đến California từ Tahiti giữa các năm 1850 ÷ 1880 và được đưa đến Florida vào năm 1883 (Morton, 1987). Ở miền nam Việt Nam, chanh không hạt được trồng nhiều và phổ biến ở các tỉnh ĐBSCL đem lại hiệu quả kinh tế cao, không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu (Hồ Cao Việt, 2016).

Vị trí phân loại Cây chanh thuộc họ Cửu lý hương (Rutaceae), bộ Sapindales, chi Citrus. Cây chanh được trồng hiện nay có hai loại: chanh giấy (chanh ta) và chanh không hạt (chanh lai). Chanh giấy có tên khoa học là C. aurantifolia Swingle, tên tiếng Anh gọi là Lime.

Chanh không hạt có tên khoa học là C. Vị trí phân loại của chanh giấy được xếp như sau: Giới (Kingdom): Plantae Bộ (Order): Sapindales Họ (Family): Rutaceae Chi (Genus): Citrus Loài (Species): Citrus aurantifolia. 4 Vị trí phân loại của chanh không hạt được xếp như sau: Giới (Kingdom): Plantae Bộ (Order): Sapindales Họ (Family): Rutaceae Chi (Genus): Citrus Loài (Species): Citrus latifolia 1. Đặc điểm thực vật Chanh giấy được trồng ở nước ta từ rất lâu, là loài cây bụi, cao khoảng 5 m.

Thân cây hiếm khi mọc thẳng mà tỏa nhiều nhánh từ nơi gần gốc, thân có nhiều gai nhọn. Lá hình trứng, dài khoảng 2,5 ÷ 9,0 cm, nhìn giống lá cam. Hoa chanh có đường kính khoảng 2,5 cm, màu trắng ngả sang màu vàng, có gân màu tím nhạt. Cây đơm hoa kết trái quanh năm nhưng ra quả nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 9.

Quả chín sau từ 5 đến 6 tháng khi hoa nở. Quả có vỏ mỏng, nhiều nước, mùi thơm, vị chua và nhiều hạt (Hình 1. Cây chanh giấy (C. aurantifolia Swingle) và chanh không hạt (C.

latifolia Tanaka) (A: cây chanh giấy; B: cây chanh không hạt) (Nguồn: Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây giống học viện nông nghiệp Việt Nam) 5 Chanh không hạt là một giống chanh lai giữa chanh giấy và chanh yên, được trồng rất phổ biến trên thế giới. Ở Việt Nam, chanh không hạt được nhập từ bang California (Mỹ). Cây mọc cao đến 6 m, thân không có gai, tán lá tròn, trái chùm, trái to 6 ÷ 7 quả/kg, không hạt, vỏ mỏng, màu xanh sáng, nhiều nước, vị ít chua có mùi thơm và không có vị đắng như chanh giấy nên được nhiều người ưu chuộng và giá trị xuất khẩu cao. Cây cho trái quanh năm, có thể cho năng suất quả 150 ÷ 200 kg/năm/cây (Hình 1.

Tình hình sản xuất chanh ở Long An Ở phía Nam, cây chanh được trồng chủ yếu ở vùng ĐBSCL (chiếm gần 60% tổng diện tích chanh cả nước). Chanh có 2 vụ/năm, chanh trái vụ (mùa khô) giá chanh tăng từ 35 ÷ 45% so với chính vụ (mùa mưa). Sau khi trồng từ 18 ÷ 20 tháng, chanh bắt đầu thu hoạch, với năng suất vụ đầu đạt khoảng 15 ÷ 20 tấn/ha. Đến năm thứ hai, thứ ba năng suất tăng lên 25 ÷ 35 tấn/ha (có vườn đạt 40 tấn/ha), lãi trung bình từ 150 ÷ 300 triệu đồng/ha.

Trung bình mỗi cây chanh mang 1.000 trái/năm, khoảng 70 ÷ 100 kg/cây/năm. Chanh không hạt trái to, 6 ÷ 7 quả/kg. Chu kỳ sinh trưởng của chanh không hạt có thể trên 10 năm. Trong những năm gần đây, cây chanh là một trong những cây trồng chủ lực trong chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh Long An.

Tỉnh có diện tích chanh lớn nhất trong khu vực ĐBSCL (30% diện tích chanh toàn vùng). Diện tích chanh của tỉnh liên tục gia tăng trong những năm gần đây (Hình 1. Năm 2018, với diện tích chanh toàn tỉnh là 9.438 ha đạt 94,4% kế hoạch (10.000 ha), bằng 105,8% so cùng kỳ năm 2017.374 ha chanh cho trái, tập trung ở các huyện: Bến Lức, Thủ Thừa, Thạnh Hóa, Đức Huệ và Đức Hòa. Theo sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Long An, tỉnh đề ra mục tiêu phát triển diện tích cây chanh lên 11.

Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh theo hướng phát triển kinh tế tập thể, sản xuất theo hướng VietGAP và GlobalGAP nhằm giúp nông dân có đầu ra ổn định, đưa sản phẩm chanh đến với thị trường trong và ngoài nước. Trong đó, Bến Lức là một trong năm huyện trồng chanh lớn của tỉnh, chủ yếu là chanh không hạt, hiện có 5.470 ha đất trồng chanh, tăng 752 ha so với cuối năm 2017, tổng sản lượng đạt 77. Từ cuối năm 2011, huyện Bến Lức đã xây dựng thương hiệu độc quyền chanh Bến Lức. Biểu đồ diện tích chanh tỉnh Long An từ năm 2014 ÷ 2020.

(Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn UBND Tỉnh Long An, 2014, 2016, 2020) Để đạt kế hoạch đề ra, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, Long An tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, quản lý chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; hình thành quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, mô hình chuỗi giá trị, cung ứng sản phẩm chanh an toàn, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững. Sản phẩm chanh tươi Việt Nam đã có mặt trên thị trường của nhiều quốc gia vùng Châu Á, Trung Đông và đặc biệt là cộng đồng Châu Âu (EU) nâng kim ngạch xuất khẩu chanh cả nước trên 3 tỷ USD. Trong đó, Long An đóng góp khoảng 0,5 triệu USD (Hồ Cao Việt, 2016). Tuy nhiên, trước những cơ hội lớn, ngành hàng chanh tỉnh Long An cũng như cả nước còn đang và sẽ đối mặt với rất nhiều thử thách về truy suất nguồn gốc, quản lý chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu, hàng rào kiểm dịch đối với một số loại dịch bệnh trên chanh,….

Do đó, việc đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm soát tốt các loại dịch bệnh và đáp ứng nguyên tắc xuất khẩu là điều kiện để nông sản Việt Nam vươn ra thế giới. Tổng quan về bệnh loét do vi khuẩn trên cây chanh 1. Lịch sử và phân bố Theo Fawcett và Jenkins (1933), những vết bệnh được phát hiện trên cây thuộc họ cam quýt lâu đời nhất (C. medica được thu thập từ Ấn Độ vào năm 1827 ÷ 1831 và C.

aurantifolia từ Indonesia vào năm 1842 ÷ 1844) được giữ tại Herbaria của vườn thực vật hoàng gia (Royal Botanic Gardens) ở Kew, Anh. Do đó, bệnh loét có thể xuất hiện lần đầu tiên và có nguồn gốc ở các khu vực nhiệt đới châu Á, như Nam Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ, nguồn gốc của cây có múi. Năm 1912, tại Florida, Hoa kỳ, bệnh loét được chú ý lần đầu tiên, bệnh gây hại nghiêm trọng và lan rộng khắp Florida trên cây giống nhập khẩu từ Nhật Bản. Năm 1933, bệnh được loại bỏ thông qua việc kiểm tra nghiêm ngặt, loại bỏ các cây bị bệnh một cách triệt để.

Năm 1986, bệnh lại xuất hiện và bùng phát thành dịch ở Manatee, Florida, phía nam vịnh (Stall và Civerolo, 1991). Sau đó, mầm bệnh xuất hiện phổ biến khắp châu Á và sau đó đến Nam Phi (Doidge, 1916), Châu Đại Dương, Nam Mỹ (Rossetti, 1977) và Úc, (Garnsey và ctv, 1979). Ở Iran bệnh loét do vi khuẩn được báo cáo đầu tiên trên chanh Mexico, vùng Kahnouj, tỉnh Kerman (Alizadeh và Rahimian, 1990). Ở Kouli-koro, Mali (Tây Phi), tỷ lệ bệnh loét trên chanh chiếm 50% (Traore và ctv, 2008).

Bệnh loét do vi khuẩn đã có mặt ở hầu hết các quốc gia trồng cây có múi trên thế giới (Sharma và Sharma, 2009) (Hình 1. Bảng đồ phân bố của bệnh loét trên cây có múi do vi khuẩn X. citri (Nguồn: Cabi. org) 8 Ở Việt nam, bệnh loét trên cây có múi được báo cáo đầu tiên bởi Whittle (1992).

Vi khuẩn gây bệnh là X. Theo báo cáo của Bui và ctv (2009), vi khuẩn gây bệnh loét trên cây chanh Mexico thu nhận từ 14 tỉnh ở cả hai miền Bắc và Nam là X. citri dạng loét A. Hiện nay, bệnh loét là một trong những bệnh hại phổ biến và gây hại nghiêm trọng ở hầu hết các vùng trồng cây có múi trong nước, làm ảnh hưởng lớn tới nguồn hàng xuất khẩu.

Bệnh phát sinh và phát triển mạnh ở điều kiện ẩm độ cao và nhiệt độ 26 ÷ 35°C, lây lan rất nhanh gây hại trên tất cả các giống chanh (Nguyễn Văn Nga và Cao Văn Chí, 2013). Triệu chứng bệnh và thiệt hại về kinh tế Theo Sharma và Sharma (2009), bệnh loét trên cây có múi gây ra bởi nhiều chủng Xanthomonas khác nhau về đặc điểm sinh học và cây ký chủ nhưng các triệu chứng và dấu hiệu bệnh là như nhau. Ở lá non, ban đầu vết bệnh là những chấm tròn có đường kính trên dưới 1mm, màu trong vàng, sũng ướt, thường thấy ở mặt dưới của lá, sau đó vết bệnh mở rộng và phá vỡ biểu bì mặt dưới lá, màu trắng nhạt hoặc nâu nhạt. Xung quanh vết bệnh có quầng tròn dạng giọt dầu màu vàng hoặc xanh tối.

Khi vết bệnh già rắn lại nổi gờ giống như ghẻ, loét, sần sùi, mặt dưới xù xì, mặt trên nứt nẻ màu xám tro, mọc nhô lên mặt lá (Hình 1. Vết bệnh có thể nhìn thấy khoảng 7 đến 10 ngày sau khi nhiễm bệnh ở mặt dưới của lá và sau đó nhìn thấy rõ ở mặt trên. Lá bị nhiễm bệnh nặng, rụng sớm dẫn đến cành trơ trụi. Vết bệnh ở quả cũng tương tự như ở lá: vết bệnh xù xì màu nâu hơn, mép ngoài có gờ nổi lên, ở giữa vết bệnh mô chết rạn nứt trên vỏ quả.

Bệnh nặng có thể làm cho quả biến dạng, ít nước, khô sớm, dễ rụng. Bệnh loét làm ảnh hưởng đến giá trị thẩm mỹ của quả, không đạt tiêu chuẩn chất lượng để xuất khẩu (Hình 1. Vết bệnh trên cành và thân cây con cũng giống như ở trên lá nhưng sùi lên tương đối rõ ràng. Đặc biệt có trường hợp, vết loét ở thân kéo dài tới 15 cm và ở cành tới 5 ÷ 7 cm (Hình 1.

Triệu chứng bệnh loét do vi khuẩn X.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ức chế vi khuẩn Xanthomonas gây bệnh loét trên cây chanh bằng cao chiết Euphorbia Tirucalli là một tài liệu quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trong việc quản lý bệnh hại cây trồng. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng cao chiết từ cây Euphorbia Tirucalli để kiểm soát vi khuẩn Xanthomonas, nguyên nhân chính gây bệnh loét trên cây chanh. Kết quả cho thấy cao chiết này có tiềm năng lớn trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn, mang lại giải pháp sinh học an toàn và hiệu quả cho nông dân. Điều này không chỉ giúp bảo vệ cây trồng mà còn góp phần giảm thiểu việc sử dụng hóa chất độc hại trong canh tác.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, hoặc tìm hiểu thêm về các phương pháp bón phân hiệu quả qua Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk. Ngoài ra, Luận án ts quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của hộ nông dân tại vùng trung du miền núi phía bắc cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững.