Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Tiến bộ nổi bật của khoa học kỹ thuật trên thế giới những năm cuối thế kỷ 20 là ứng dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống. Các nhà khoa học đã thành công trong việc lai tạo ra những giống đậu tương mới năng suất cao, khả năng chống chịu tốt hơn các thế hệ trước đó. Các giống đậu tương mới sử dụng ưu thế lai trong tạo giống có ưu điểm là năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như hạn, rét… Các giống mới phát triển được trong sản xuất phải có độ đồng đều cao, thể hiện các yếu tố di truyền tốt của giống, có khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao, chất lượng tốt và ổn định qua nhiều thế hệ.
Tuy nhiên để phát huy được hiệu quả của giống phải sử dụng phù hợp với điều kiện sinh thái, kinh tế xã hội của từng vùng. Vì vậy, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và chất lượng của một số giống trước khi mở rộng sản xuất là vấn đề cần thiết đặc biệt trong công tác nghiên cứu khoa học. Những nghiên cứu chung về cây đậu tương 1. Nguồn gốc và phân bố của cây đậu tương Một số nhà khoa học cho rằng, cây đậu tương xuất hiện đầu tiên ở lưu vực sông Trường Giang (Trung Quốc), được xếp vào một trong 5 loại cây lấy hạt quan trong là: lúa nước, đậu tương, lúa mì, đại mạch và cao lương, chúng quyết định sự tồn tại của nền văn minh Trung Quốc.
Theo Nogata (2000)[53] cây đậu tương được nhập vào Triều Tiên và Nhật Bản khoảng 200 năm trước và sau công nguyên. Du nhập vào Châu Mỹ từ năm 1804 nhưng mãi đến đầu thế kỷ XX (1924) mới được trồng và phát triển mạnh. Hiện nay cây đậu tương chiếm vị trí thứ 2 sau cây ngô trong nền n 5 sản xuất nông nghiệp Mỹ, chiếm 75% sản lượng thế giới và xuất khẩu hơn 50% sản lượng. Ở Việt Nam, cây đậu tương cũng đã được trồng từ lâu.
Theo “Vân đài loạn ngữ” của Lê Quý Đôn, thế kỷ 18 đậu tương đã được trồng ở một số tỉnh, vùng Đông Bắc nước ta. Tuy đậu tương là loài cây trồng cổ xưa nhất, nhưng đậu tương cũng được xem là loại cây trồng mới nhất. Vì trên thực tế cuối thế kỷ XIX mới chỉ trồng ở Trung Quốc và 30 năm đầu thế kỷ XX sản xuất đậu tương cũng chỉ tập trung ở Viễn Đông như Trung Quốc, Indonexia, Nhật Bản, Triều Tiên. Nhu cầu sinh thái của cây đậu tương 1.
Nhiệt độ Tổng tích ôn của đậu tương thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm của giống. Tổng tích ôn của giống đậu tương chín sớm có thời gian sinh trưởng từ 75-80 ngày cần khoảng 1700-22000C, giống đậu tương chín muộn có thời gian sinh trưởng từ 140- 160 ngày cần khoảng 3200-38000C (Lawn,1987) [54]. Cây đậu tương có thể sinh trưởng phát triển ở khoảng nhiệt độ khá rộng từ 10-400C, nhưng nhiệt độ khoảng 200C là lý tưởng cho cả quá trình. Thời kỳ mọc mầm, hạt đậu tương có thể mọc ở khoảng nhiệt độ từ 5- 400C, nhưng nhiệt độ 300C là thích hợp.
Thời kỳ cây con sau khi đậu tương mọc tới 3 lá kép, cây có thể chịu rét tới 00C. Lá kép phát triển được ở nhiệt độ 120C và hệ số diện tích lá tăng ở nhiệt độ thích hợp từ 18-300C (Lawn, 1985)[52]. Ở thời kỳ cây con, nhiệt độ có ảnh hưởng đến nhóm đậu tương chín sớm và nhiệt độ ít ảnh hưởng đến nhóm đậu tương chín muộn. Chiều cao cây của đậu tương phát triển thuận lợi ở nhiệt độ từ 17-230C.
Bộ rễ của đậu tương phát triển thuận lợi ở nhiệt độ từ 27- 320C. Quang hợp của cây đậu tương thích hợp ở nhiệt độ từ 25-300C (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [5] Đường Hồng Dật, 2007)[6] (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996)[14]. n 6 Thời gian từ gieo đến ra hoa của đậu tương trung bình từ 35-45 ngày nếu nhiệt độ thường xuyên là 24-260C, khi nhiệt độ thấp hơn 200C thì thời gian từ gieo đến ra hoa có thể kéo dài tới 50 đến 60 ngày. Thời kỳ hình thành quả và quả mẩy của đậu tương nhiệt độ thích hợp từ 28-370C, nhiệt độ thấp hơn 180C hoặc cao hơn 380C ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ đậu quả, khả năng vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt làm cho chất lượng hạt đậu tương kém.
Nhìn chung, thời kỳ ra hoa và làm quả của đậu tương nếu gặp rét tỷ lệ rụng hoa cao và giảm khả năng hình thành quả (Đào Thế Tuấn và cs, 1979 [24] (Lawn, 1985)[52]. Ánh sáng Thời kỳ cây con của đậu tương mẫn cảm nhất với điều kiện ánh sáng ngày ngắn, giảm dần ở giai đoạn nụ và hầu như ngừng ở giai đoạn ra hoa của đậu tương. Điều kiện của ánh sáng ngày ngắn làm rút ngắn thời gian sinh trưởng của đậu tương, giảm chiều cao cây cũng như số đốt và chiều dài của đốt. Kết quả nghiên cứu thời gian nảy mầm đến nở hoa đối với nhóm đậu tương chín sớm: trong điều kiện ngày ngắn là 22,3 ngày, nhưng trong điều kiện ngày dài từ 22,7-37,5 ngày.
Thời gian từ nở hoa đến chín dưới điều kiện ngày ngắn hoặc ngày dài, hai dạng hình sinh trưởng của đậu tương có xu hướng giống nhau: nhóm đậu tương sinh trưởng hữu hạn là 57,7 - 59,7 ngày và nhóm đậu tương sinh trưởng vô hạn là 63,4 - 64,4 ngày (Inouye,1986) [50] (Lawn, 1987) [48]. Cường độ ánh khoảng 20- 30% của cường độ ánh sáng mặt trời ở buổi trưa là đủ cho cây đậu tương có thể sinh trưởng bình thường, do vậy cây đậu tương có thể trồng xen với nhiều loại cây trồng khác. Nhưng khi cường độ ánh sáng giảm 50% so với bình thường sẽ làm giảm số cành, số đốt mang quả và có thể giảm tới 50% năng suất của đậu tương n 7 Chu kỳ chiếu sáng ảnh hưởng đến tỷ lệ phân chia vật chất khô tích lũy về cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh thực, điều kiện ánh sáng ngày dài làm giảm quá trình vận chuyển vật chất khô và tích lũy về hạt, tăng khả năng sinh trưởng sinh dưỡng của đậu tương 1. Nước Hạt đậu tương nảy mầm khi hàm lượng nước đạt 50% khối lượng của hạt và độ ẩm của đất đạt từ 65-75% độ ẩm tối đa đồng ruộng.
Thời kỳ làm quả của đậu tương có nhu cầu nước cao nhất, phần lớn sự biến động về năng suất của đậu tương là do sự biến động về lượng nước cung cấp cho cây ở giai đoạn làm quả. Khi bị hạn trong giai đoạn làm quả thì hạt không hình thành được hoàn chỉnh, bộ lá bị rụng sớm, quá trình vận chuyển dinh dưỡng về hạt bị cản trở và thời gian sinh trưởng của đậu tương bị rút ngắn. Ngoài ra, độ ẩm của không khí có vai trò quan trọng trong quá trình tích lũy chất khô về hạt, độ ẩm không khí ngày/đêm là 47%/45% làm giảm tới 21% năng suất đậu tương so với độ ẩm 81%/84%, nguyên nhân do sự tích lũy chất khô giảm, tỷ lệ rụng hoa và rụng quả tăng. Cây đậu tương ở vùng không có tưới nước nếu lượng mưa 350-600 mm/vụ là đủ cho nhu cầu nước của cây đậu tương.
Ở Việt Nam, cây đậu tương trong vụ Đông có lượng chất khô tích lũy và bốc thoát hơi nước từ lá có tương quan tuyến tính rất chặt (R= 0,89 - 0,98) (Tô Cẩm Tú và cs,1998)[23]. Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học KTNN Việt Nam (1981-1986) [30] cho thấy: Lượng nước cần tưới đáp ứng đủ cho nhu cầu của cây đậu tương khoảng 2200 m3/ha/vụ và năng suất đậu tương không sai khác khi tưới lượng nước 2163 và 2413 m3/ha, nhưng tưới lượng nước 2030 thì có thể giảm 58,4% năng suất. Đất trồng Cây đậu tương trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: Đất sét, đất cát pha, đất thịt, đất đỏ bazan, đất nâu xám, đất nương rẫy vùng đồi núi, đất n 8 sau thu hoạch lúa Xuân, lúa mùa. Trên đất cát cây đậu tương thường cho năng suất không ổn định.
Trên đất thịt nặng cây đậu tương khó mọc nhưng sau khi mọc nó thích ứng tốt hơn so với nhiều loài cây màu khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Năng suất của đậu tương đạt cao nhất khi độ chua pHKCl của đất đạt 6,5 nhưng khi đất có độ chua là 5 năng suất có thể giảm 37%. Vùng có khí hậu nhiệt đới với loại đất có thành phần cơ giới nặng độ chua pHKCl của đất từ 5,5 - 6,5 và loại đất có thành phần cơ giới nhẹ đất độ chua từ 5 - 5,5 là thích hợp cho cây đậu tương. Ở Việt Nam, phần lớn trên các loại đất có độ chua pHKCl từ 5,2 - 7,0 nên đều thích hợp cho cây đậu tương phát triển, hình thành nốt sần.
Nhưng khả năng chịu mặn, chịu chua của cây đậu tương kém hơn so với cây trồng khác, cây đậu tương không sống được trên đất có độ chua pHKCl nhỏ hơn 4 hoặc lớn hơn 9 (Bùi Hiếu và cs, 2004) [11] (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) [14]. Dinh dưỡng Nhu cầu về đạm (N): N thúc đẩy sự sinh trưởng hình thành thân, lá phát triển tế bào và tạo hạt. Thời kỳ cây đậu tương làm hạt đến quả vào chắc có nhu cầu N nhiều nhất, nếu thiếu N lá sẽ bị rụng sớm do N trong lá được di chuyển về cho quá trình phát triển của hạt. Cây đậu tương cần tích lũy 200 - 300 kg N/ha và có khoảng 67 - 75% N được tích lũy trong hạt (Cattelan, 1984) [45] (Watanabe Iwao, 1983)[59].
Nhu cầu về lân (P2O5): Đậu tương cần lân trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển nhưng chủ yếu ở thời kỳ đầu. Thiếu P2O5 sẽ làm chậm sinh trưởng sinh dưỡng, giảm sinh trưởng của rễ, giảm chỉ số diện tích lá, giảm số hạt, giảm kích thước hạt và năng suất của đậu tương giảm. Đặc biệt P2O5 đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nốt sần, thiếu P2O5 sẽ làm chậm quá trình hình thành và phát triển của nốt sần và làm giảm quá trình cố định N của vi khuẩn cộng sinh ở cây đậu tương. n 9 Nhu cầu về kali (K2O): Bón K2O có tác dụng tăng cường khả năng hút P2O5 ở cây đậu tương và làm tăng khả năng tích lũy chất khô, khả năng chống chịu và năng suất.
Nhu cầu nguyên tố vi lượng: Nguyên tố Bo giúp hạn chế tỷ lệ rụng hoa, rụng quả, hạt lép của đậu tương.