Tổng quan luận án

Đới bờ và bãi biển tại các hải đảo ngoài khơi giữ vai trò trọng yếu đối với phát triển kinh tế biển và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, dưới tác động của trường sóng biển trong các đợt gió mùa và bão cực đoan, hiện tượng xói lở, xâm thực bờ biển quanh các đảo diễn ra ngày càng phức tạp. Tại đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận) – hòn đảo lớn nhất trong quần đảo gồm 10 đảo lớn nhỏ thuộc vùng biển Nam Trung Bộ – tình trạng xói lở bờ bãi diễn ra nghiêm trọng, đe dọa các khu dân cư và hạ tầng ven biển. Các nghiên cứu cơ bản về thủy động lực học vùng ven bờ, tương tác sóng - bờ đảo ngoài khơi và biến động hình thái đường bờ tại Việt Nam trước đây còn nhiều hạn chế, chủ yếu tập trung vào dải bờ biển và cửa sông đất liền.

Nhằm bổ sung cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, thiết kế các giải pháp bảo vệ bờ đảo và tôn tạo bãi biển bền vững, nghiên cứu sinh Mai Quang Khoát đã thực hiện luận án tiến sĩ kỹ thuật với đề tài "Nghiên cứu tương tác sóng - đảo Phú Quý và đề xuất giải pháp giảm sóng quanh đảo" (Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thủy, Mã số: 9580202) tại Trường Đại học Thủy lợi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Mai Văn Công và GS.TS. Phạm Ngọc Quý vào năm 2021.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ:

  1. Mô phỏng và xác định trường sóng quanh vùng bờ đảo theo các mùa gió thịnh hành và các hiện tượng tương tác thủy động lực học (khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ, sóng vỡ) giữa trường sóng với đảo Phú Quý.
  2. Đề xuất các giải pháp công trình dạng đê giảm sóng phù hợp nhằm suy giảm năng lượng sóng tác động trực tiếp vào bờ, gia tăng độ ổn định bờ đảo và khôi phục bãi biển ven đảo phục vụ dân sinh, phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vùng bờ biển quanh đảo Phú Quý; quy luật lan truyền sóng từ vùng biển sâu ngoài khơi vào ven bờ và sự tương tác giữa trường sóng với địa hình bờ đảo cùng các công trình giảm sóng.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ vùng ven bờ, đới sóng vỡ và vùng biển bao quanh đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận (tập trung phân tích các phân đoạn bờ Bắc, bờ Đông, bờ Tây, bờ Nam thuộc ba xã: Ngũ Phụng, Tam Thanh và Long Hải).
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Đánh giá biến động đường bờ lịch sử giai đoạn 2000–2020 bằng dữ liệu viễn thám; phân tích dữ liệu quan trắc địa hình bãi giai đoạn 2017–2021; chuỗi số liệu khí tượng - hải văn thống kê 40 năm (1979–2019, 1980–2020); chuỗi đo đạc sóng thực tế cuối năm 2012 đến đầu năm 2013; mô phỏng sóng dưới các điều kiện gió mùa đặc trưng và bão thiết kế (hướng Đông Bắc và Tây Nam).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu quốc tế cho thấy các lý thuyết cơ bản về sóng và tương tác sóng - đảo đã được phát triển qua nhiều giai đoạn:

  • Cơ sở lý thuyết sóng cổ điển và biến đổi sóng: Lý thuyết sóng tuyến tính biên độ nhỏ do Airy đề xuất năm 1845; hiện tượng sóng vỡ và các dạng sóng đơn do Russell quan sát năm 1840; khái niệm khúc xạ sóng do Harrison (1848) và William Morris Davis đề xuất; phương pháp biểu đồ khúc xạ sóng dựa trên Định luật Snell do O'Brien và Mason (1940), Van Dorn (1944), Johnson, O'Brien và Isaacs (1948) phân tích; lý thuyết nhiễu xạ sóng nước dựa trên nghiệm Sommerfeld do Penney và Price (1944), Putnam và Arthur (1948) thiết lập.
  • Nghiên cứu tương tác sóng quanh đảo: Nghiên cứu nền tảng của Arthur (1946, 1951) về sự lan truyền, khúc xạ qua địa hình đáy ngầm và nhiễu xạ sóng vào vùng khuất sau đảo; phương pháp phân tích phổ sóng ngẫu nhiên của Pierson (thập niên 1950); các nghiên cứu biến động bãi biển và bờ biển của Zenkovich (1950), Loginov, Leontriev; đóng góp của Beach Erosion Board (BEB, 1951) do J. Spencer Smith phụ trách và Trung tâm Nghiên cứu Kỹ thuật Bờ biển Quân đội Mỹ (CERC) với Cẩm nang Bảo vệ Bờ biển (Shore Protection Manual - SPM các năm 1975, 1977, 1984).
  • Mô hình toán và quan trắc hiện đại: Sự phát triển của phương trình sóng dốc thoái Mild Slope Equation (Berkhoff, 1972), mô hình RCPWAVE (CERC, 1985), HINDWAVE (Wallingford), bộ mô hình MIKE 21 (DHI), Phatos (Kostensen, 1986), mô hình biến động đường bờ GENESIS (1989), UNIBEST (Delft Hydraulics, 1990), LIPACK (1991), NPM (1993). Các công trình mô phỏng tương tác sóng nội tại quanh đảo san hô Dongsha ở Biển Đông của Chao và cộng sự (2006) cùng Jia và cộng sự (2018) kết hợp ảnh vệ tinh Envisat ASAR và TerraSAR-X.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu thủy động lực học ven bờ và công trình bảo vệ bờ biển đã ghi nhận những đóng góp đáng kể:

  • GS. Lương Phương Hậu và cộng sự (1992) nghiên cứu trường sóng và vận chuyển bùn cát tại các cửa sông Nam Triệu, Phan Thiết, Soài Rạp, Thuận An, Hòa Duân;
  • PGS.TSKH. Nguyễn Văn Cư nghiên cứu phòng chống sa bồi luồng tàu cảng Hải Phòng;
  • PGS. Nguyễn Thọ Sáo (1991–1995) trong đề tài KT-03-14 về trường sóng ven bờ và vận chuyển bùn cát;
  • GS.TS. Phạm Văn Ninh và TS. Nguyễn Mạnh Hùng (Viện Cơ học) chủ trì đề tài cấp nhà nước KHCN 06 về mô hình sóng, dòng chảy và biến động đường bờ;
  • GS. Lê Đức Tố chủ nhiệm đề tài KC09-12 (2001–2005) và đề tài 2000/01 về hệ thống đảo vịnh Bắc Bộ;
  • GS. Nguyễn Hoa Thịnh, PGS. Hoàng Xuân Lượng (Học viện Kỹ thuật Quân sự) nghiên cứu chống xói lở đảo thuộc quần đảo Trường Sa;
  • PGS. Trịnh Việt An (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) khảo sát khí tượng hải văn Trường Sa (1994–1995) và sóng tác động lên dàn khoan DK (1995–1996);
  • TS. Kiều Xuân Tuyển (2013–2015) nghiên cứu biến động cực trị khí tượng thủy văn vùng đảo miền Trung.

Khoảng trống nghiên cứu: Phần lớn các công trình trong nước chỉ tập trung vào dải ven bờ lục địa hoặc nghiên cứu mang tính định tính, khảo sát tổng thể kinh tế - sinh thái đảo. Vấn đề tương tác chi tiết của trường sóng biển với đảo độc lập ngoài khơi có địa hình phức tạp, tính toán tiêu hao năng lượng sóng qua đê giảm sóng phân đoạn bằng mô hình giải tích pha phi tuyến (Boussinesq) và ứng dụng viễn thám lượng hóa biến động đường bờ đảo Phú Quý chưa được giải quyết một cách có hệ thống. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết sóng tuyến tính Airy (1845): Mô tả chuyển động sóng điều hòa biên độ nhỏ trong chất lỏng lý tưởng hai chiều, xác định mối liên hệ tán sắc: $$\frac{c}{c_0} = \tanh(kh) = \frac{L}{L_0}$$
  • Lý thuyết biến đổi sóng ven bờ:
    • Khúc xạ sóng: Hiện tượng bẻ cong tia sóng do vận tốc pha giảm khi vào vùng nước nông theo công thức $\sin\alpha / \sin\alpha_0 = \tanh(kh)$.
    • Phản xạ và tạo sóng đứng: Xảy ra khi sóng va đập vào các công trình chắn sóng dạng đứng hoặc mái dốc đứng.
    • Nhiễu xạ sóng: Sự lan truyền và phân tán năng lượng sóng vòng qua các mũi nhô hoặc đầu công trình đê chắn sóng ngắt quãng.
    • Sóng vỡ: Xác định theo tiêu chí giới hạn độ dốc sóng ($H/L < 1/7$) và tiêu chí độ sâu tương đối ($\gamma = H/h = 0{,}78$, thực tế dao động từ 0,4 đến 1,2 tùy độ dốc đáy bãi), phân loại thành sóng nhao, sóng đổ và sóng nổ (vỡ dốc).
  • Cơ chế thủy động lực và cân bằng bùn cát ven bờ: Phân tích dòng chảy ven bờ do sóng vỡ tạo ra, gradient vận chuyển trầm tích bãi biển và sự dịch chuyển vị trí đường bờ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp viễn thám và GIS: Xử lý chuỗi ảnh vệ tinh Landsat (2000–2020) trên nền tảng điện toán đám mây Google Earth Engine (GEE), kết hợp chỉ số nước cải tiến mNDWI (modified Normalized Difference Water Index) và chỉ số tần suất nước WFI (Water Frequency Index). Sử dụng phần mềm DSAS (Digital Shoreline Analysis System) để tính toán tốc độ biến động đường bờ qua các chỉ số thống kê: tốc độ điểm đầu - điểm cuối (EPR), tốc độ hồi quy tuyến tính (LRR), sai số tiêu chuẩn (LSE) và khoảng tin cậy 90% (LCI90).
  • Phương pháp quan trắc địa hình bãi: Khảo sát, đo vẽ bình đồ và trích xuất mặt cắt ngang bãi biển quanh đảo trên 24 mặt cắt đặc trưng (ký hiệu MC1 đến MC24) để đánh giá độ dốc và diễn biến xói lở.
  • Phương pháp mô hình toán số trị:
    • MIKE 21-SW (Spectral Wave): Mô hình sóng phổ phi cấu trúc dùng để tính toán lan truyền sóng, phát triển sóng do gió và biến đổi sóng từ ngoài khơi biển sâu vào đới ven đảo Phú Quý.
    • MIKE 21-BW (Boussinesq Wave): Mô hình sóng Boussinesq 2D giải tích pha phi tuyến dựa trên thuật toán ẩn luân hướng ADI và lưới so le, mô phỏng chi tiết các quá trình sóng nước nông, sóng cuộn bề mặt, nhiễu xạ, phản xạ và tiêu tán năng lượng sóng qua hệ thống đê giảm sóng.
    • Tham khảo mô hình X-Beach trong đánh giá sóng dài và biến động hình thái.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Số liệu đo đạc sóng thực địa tại vị trí trạm P1 ngoài khơi đảo Phú Quý từ ngày 18/12/2012 đến ngày 03/01/2013 dùng cho hiệu chỉnh và kiểm định mô hình MIKE 21-SW.
  • Chuỗi số liệu khí tượng, gió, áp thấp nhiệt đới và bão tại trạm Khí tượng Thủy văn Phú Quý thống kê 40 năm (1979–2019 và 1980–2020).
  • Chuỗi ảnh viễn thám Landsat giai đoạn 2000–2020.
  • Bản đồ địa hình đáy biển, tài liệu địa chất, thủy văn và hồ sơ kỹ thuật các dự án công trình kè, cảng, khu neo đậu hiện hữu trên đảo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu tương tác giữa sóng và bờ đảo

Chương này hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về sóng biển, các quá trình lan truyền, biến đổi năng lượng sóng (khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ, sóng đứng, sóng vỡ) và các hướng tiếp cận mô hình toán thủy động lực học bờ biển trên thế giới và Việt Nam.

Tác giả phân tích hiện trạng sạt lở và đánh giá các dự án công trình bảo vệ bờ đã và đang triển khai tại đảo Phú Quý:

  • Tình hình sạt lở bờ đảo: Tổng chiều dài sạt lở trên đảo là 5.685 m (chiếm khoảng 1/4 chu vi đảo). Điển hình tại thôn 4 và thôn 5 xã Tam Thanh, từ năm 1978 đến nay biển đã phá hủy hoàn toàn con đường giao thông dài 2 km và cuốn trôi hơn 100 ngôi nhà. Bão số 9 năm 2006 gây thiệt hại nghiêm trọng: 25 người chết, 3.090 căn nhà bị sập hoặc tốc mái, 104 phòng học hư hỏng, 739 tàu cá bị hỏng, 700 m bờ biển bị phá hủy.
  • Tổng hợp các dự án công trình bảo vệ bờ và cảng tại Phú Quý:
Tên dự án Thời gian Tổng mức đầu tư Quy mô kết cấu chính Đánh giá ưu / nhược điểm
Kè chống xâm thực ổn định bờ biển Phú Quý - Giai đoạn 1 2008–2010 107 tỷ đồng Dài 1.443 m (đoạn DC thôn 5: 395 m; đoạn BL Bãi Lăng: 1.038 m). Mái lát cấu kiện TSC178 dày 33 cm, chân khay ống buy lục lăng đổ đá hộc, tường đỉnh BTCT M300 hắt sóng. Ưu điểm: Ổn định tốt qua hơn 10 năm khai thác, chi phí thấp.
Nhược điểm: Bảo vệ trực tiếp, phá vỡ bãi tắm và cảnh quan du lịch.
Kè chống xâm thực ổn định bờ biển Phú Quý - Giai đoạn 2 2012–2020 596 tỷ đồng Dài 2.999 m kè (4 phân đoạn) và 1.097,7 m đê chắn sóng khu neo đậu (đê Tây 148,9 m; đê Đông 948,8 m). Đê lõi đá đổ, khối phủ Tetrapod 3T. Ưu điểm: Bảo vệ bờ kết hợp khu neo đậu tàu nhỏ, phát huy đa mục tiêu.
Nhược điểm: Đê chắn sóng chỉ áp dụng cho vùng nước nông.
Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá huyện Phú Quý 2011–2020 498 tỷ đồng Diện tích 38 ha, phục vụ tàu đến 1000 CV. 02 tuyến đê dài 1.277 m (đê Tây 542 m, đê Đông 735 m). Đoạn gần bờ: đê đá đổ + Tetrapod; Đoạn xa bờ: thùng chìm BTCT lõi cát (20m x 8m). Ưu điểm: Kết cấu thùng chìm ổn định cao ở vùng nước sâu, tiết kiệm diện tích mặt cắt.
Nhược điểm: Yêu cầu thiết bị và kỹ thuật thi công phức tạp, chính xác cao.
Cải tạo đê chắn sóng cảng Phú Quý 2016–nay 341 tỷ đồng Dài 334 m (đê Tây 267 m, đê Đông 67 m), luồng tàu cho tàu 2000 CV. Thùng chìm BTCT lõi cát (kích thước 15x9x8m và 15x9x6,8m) + khối Tetrapod 10T hộ chân. Ưu điểm: Nâng cao an toàn luồng chạy tàu và dung tích bể cảng.
Nhược điểm: Kỹ thuật thi công đặc thù, phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện thời tiết biển.
  • Dự báo mức độ mất đất do xâm thực biển theo các mốc thời gian:
    • Sau 20 năm: Mất 0,4% diện tích toàn đảo, biển lấn sâu trung bình 5,8 m.
    • Sau 30 năm: Mất 0,745 km² (chiếm 4,43% diện tích đảo), biển lấn sâu 8,5 m.
    • Sau 50 năm: Mất 0,754 km² (chiếm 4,49% diện tích đảo), biển lấn sâu 15,8 m.
    • Sau 100 năm: Mất 0,810 km² (chiếm 4,82% diện tích đảo), biển lấn sâu 47,5 m.

Chương 2: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng biến động đường bờ dưới tác động của trường sóng quanh đảo Phú Quý

Chương 2 tập trung phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên khí tượng thủy văn, địa hình, địa chất và lượng hóa diễn biến bồi xói bờ biển đảo Phú Quý.

  • Đặc trưng khí tượng - hải văn: Chế độ gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt: gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tốc độ gió mạnh nhất) và gió mùa Tây Nam (từ tháng 5 đến tháng 9). Sóng biển ngoài khơi có chiều cao cực đại $H_{max}$ và hướng sóng thịnh hành tương ứng theo hai mùa gió.
  • Phân vùng đường bờ đảo theo tính chất bãi biển:
    • Bờ Bắc: Khu vực nền đá, rạn san hô, có các hầm nuôi cá mú thôn Đông Hải; chịu tác động trực tiếp của sóng mùa Đông Bắc.
    • Bờ Đông: Địa hình bãi biển xen kẽ vách đá, khu vực đặt lồng bè nuôi trồng thủy sản; xói lở mạnh trong mùa gió Đông Bắc.
    • Bờ Tây: Khu vực Bãi Lăng, bãi cát thoải xen kẽ đá ngầm, chịu tác động của sóng hướng Tây và Tây Nam; đã được xây dựng kè bảo vệ.
    • Bờ Nam / Tây Nam: Khu vực vịnh Triều Dương, Bến cảng Phú Quý và Khu neo đậu tránh trú bão tàu cá.
  • Kết quả giải đoán viễn thám giai đoạn 2000–2020 bằng phần mềm DSAS:
    • Lượng hóa tốc độ xói lở và bồi tụ tại 3 xã (Ngũ Phụng, Tam Thanh, Long Hải) thông qua tương quan giữa hai chỉ số EPR (End Point Rate) và LRR (Linear Regression Rate).
    • Kết quả chỉ ra rằng các cung bờ Đông Bắc, Đông và Tây Nam xảy ra xói lở liên tục với tốc độ lấn sâu cục bộ lớn, trong khi một số khu vực khuất sóng có hiện tượng bồi tụ nhẹ hoặc ổn định nhờ công trình kè bảo vệ.
  • Phân tích số liệu quan trắc địa hình bãi biển (24 mặt cắt MC1–MC24):
    • So sánh diễn biến mặt cắt ngang 1-1 (bờ Tây) giữa năm 2017 và 2021 cho thấy sự dịch chuyển của chân bãi và thay đổi độ dốc bãi trung bình dưới tác động sóng mùa Tây Nam.
    • Mặt cắt 5-5 (bờ Đông) và các mặt cắt bờ Bắc phản ánh hiện tượng hạ thấp cao trình bãi ngập triều, dịch chuyển đường mép nước vào sâu trong đất liền sau các đợt bão.
  • Nguyên nhân gây biến động bờ đảo: Xác định gồm 3 nhóm nguyên nhân chính: (1) Năng lượng trường sóng cực đoan trong bão và gió mùa tập trung cao; (2) Cấu tạo địa chất bờ đảo là hỗn hợp đá bazan phong hóa và cát san hô dễ bị xói trôi; (3) Tác động của các hoạt động nhân sinh (xây dựng các tuyến kè đứng, hoạt động đắp hầm nuôi thủy sản làm thay đổi dòng chảy ven bờ).

Chương 3: Cơ sở khoa học mô phỏng sóng lan truyền vào vùng bờ đảo và sự tương tác sóng với đảo Phú Quý

Chương 3 xây dựng khung mô hình số trị tính toán trường sóng lan truyền và tương tác quanh đảo.

  • Thiết lập mô hình lan truyền sóng nước sâu MIKE 21-SW:
    • Miền tính toán bao trùm vùng biển rộng ngoài khơi đảo Phú Quý nhằm mô phỏng phổ sóng truyền từ biển sâu vào đới chuyển tiếp.
    • Thiết lập lưới phi cấu trúc tam giác linh hoạt, tăng dày độ phân giải lưới tại khu vực xung quanh đảo.
    • Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình bằng chuỗi số liệu sóng đo đạc thực tế tại điểm P1 (18/12/2012 đến 03/01/2013) và đối sánh với chuỗi hoa sóng 40 năm (1979–2019), cho thấy mô hình đạt độ tin cậy và phản ánh chính xác chiều cao sóng có ý nghĩa $H_s$ cũng như chu kỳ sóng đỉnh phổ $T_p$.
  • Thiết lập mô hình sóng chi tiết phân giải pha MIKE 21-BW:
    • Xây dựng miền tính toán thu hẹp bao quanh đảo Phú Quý với hệ lưới so le chữ nhật ô vuông độ phân giải cao.
    • Tích hợp phương trình Boussinesq hai chiều phi tuyến, mô phỏng đầy đủ các hiệu ứng sóng cuộn bề mặt, sóng vỡ, hiện tượng khúc xạ, nhiễu xạ quanh mũi đảo và phản xạ sóng từ địa hình dốc cũng như công trình bảo vệ.
    • Bố trí lớp đệm (sponge layer) hấp thụ sóng tại các biên tính nhằm triệt tiêu sóng phản xạ ngược ra biên ngoài.
    • Thiết lập các kịch bản sóng đầu vào dựa trên kết quả trích xuất từ MIKE 21-SW để làm biên truyền vào mô hình MIKE 21-BW.

Chương 4: Mô phỏng sóng trong bão thiết kế tương tác với đảo Phú Quý và đề xuất giải pháp giảm sóng phù hợp

Chương 4 thực hiện mô phỏng trường sóng trong các trận bão thiết kế cực đoan và nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các phương án công trình đê giảm sóng.

  • Mô phỏng trường sóng hiện trạng (HT00) dưới tác động của bão thiết kế:

    • Kịch bản bão hướng Đông Bắc: Sử dụng thông số tương đương trận bão lịch sử ngày 16–18/12/1993 ($H_s = 2{,}5\text{ m}$; $T_p = 8\text{ s}$). Sóng tập trung năng lượng cao đánh trực diện vào bờ Bắc và bờ Đông, chiều cao sóng tại các mặt cắt ven bờ duy trì ở mức lớn trước khi vỡ.
    • Kịch bản bão hướng Tây Nam: Tương đương điều kiện thời tiết cực đoan với chu kỳ lặp tần suất $P = 2%$. Năng lượng sóng tấn công mạnh vào bờ Tây và Tây Nam đảo.
    • Mô phỏng chỉ ra sự hình thành vùng khuất sóng phía sau đảo và các vùng hội tụ năng lượng sóng tại các mũi nhô quanh đảo do hiện tượng khúc xạ và nhiễu xạ kết hợp.
  • Đề xuất giải pháp bố trí công trình đê giảm sóng:

    • Nghiên cứu đề xuất 2 phương án bố trí mặt bằng công trình:
      1. Phương án HT01: Hệ thống đê ngầm giảm sóng bố trí chạy dài liên tục bọc quanh các phân đoạn bờ xung yếu.
      2. Phương án HT02: Hệ thống gồm 11 đoạn đê giảm sóng bố trí gián đoạn (phân đoạn) cách bờ một khoảng cách hợp lý.
    • Nghiên cứu kết cấu và thông số kỹ thuật đê giảm sóng:
      • Phân tích cao trình đỉnh đê $Z_đ$: So sánh phương án đê nổi/đê nhô ($Z_đ = +3{,}00\text{ m}$) và đê ngầm ($Z_đ = +0{,}00\text{ m}$). Xác định hệ số truyền sóng $K_t$ qua đê.
      • Cấu tạo mặt cắt ngang điển hình: Lõi đê đá đổ mái nghiêng, lớp phủ bảo vệ mái bằng khối bê tông Haro định hình (Phụ lục 3), khối Tetrapod, kết hợp tầng đệm đá dăm và cơ chân đê chống xói chân công trình.
      • Bảng đánh giá đa tiêu chí lựa chọn phương án cao trình đỉnh đê dựa trên hiệu quả tiêu tán năng lượng sóng, ổn định công trình, cảnh quan môi trường và chi phí xây dựng.
  • Kết quả mô phỏng so sánh hiệu quả giảm sóng (HT00, HT01, HT02):

    • Mô hình MIKE 21-BW mô phỏng trường sóng, đường mặt nước, chiều cao sóng có ý nghĩa $H_s$ và chu kỳ sóng tại 24 mặt cắt quanh đảo (đặc biệt tại MC13, MC14 bờ Đông Bắc).
    • So sánh kết quả: Cả hai phương án HT01 và HT02 đều làm suy giảm đáng kể chiều cao sóng truyền vào dải bờ ven đảo. Tuy nhiên, phương án đê giảm sóng phân đoạn HT02 thể hiện ưu thế vượt trội nhờ khả năng lưu thông trao đổi nước biển, hạn chế bồi lắng ứ đọng môi trường trong đầm nước sau đê, duy trì bãi cát bồi tụ tự nhiên và giảm thiểu chi phí đầu tư so với đê liên tục HT01.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học (Lý luận)

  1. Xác lập quy trình công nghệ và phương pháp luận tích hợp mô hình viễn thám số trị (GEE, DSAS) với bộ mô hình toán thủy động lực hai cấp (MIKE 21-SW kết hợp mô hình sóng Boussinesq MIKE 21-BW) để mô phỏng tương tác trường sóng 2D phân giải pha quanh đảo độc lập ngoài khơi.
  2. Làm rõ cơ chế thủy động lực học biến đổi sóng (khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ, sóng vỡ) và xác định định lượng quy luật biến động hình thái đường bờ đảo Phú Quý dưới tác động của các hướng sóng mùa thịnh hành và sóng bão cực đoan.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Lượng hóa chính xác tốc độ bồi xói và xác định các khu vực bờ đảo xung yếu có nguy cơ xâm thực nặng nhất tại huyện đảo Phú Quý giai đoạn 2000–2020 và dự báo đến 100 năm.
  2. Đề xuất giải pháp quy hoạch và thiết kế hệ thống 11 đoạn đê giảm sóng ngắt quãng (HT02) sử dụng kết cấu mái nghiêng khối phủ Haro kết hợp đá đổ, chứng minh hiệu quả giảm sóng cao, giữ vững ổn định bờ đảo, bảo vệ công trình dân sinh, tạo điều kiện bồi tụ khôi phục bãi tắm phục vụ phát triển du lịch và kinh tế biển bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Chuỗi dữ liệu đo đạc sóng thực nghiệm trực tiếp tại hiện trường ngoài khơi đảo Phú Quý (điểm P1) còn hạn chế về mặt thời gian (chỉ có số liệu đo đạc ngắn ngày từ 18/12/2012 đến 03/01/2013).
    • Chưa tích hợp đầy đủ mô hình toán 3D mô phỏng động lực học vận chuyển bùn cát và biến động đáy biển dài hạn sau khi xây dựng hệ thống đê giảm sóng phân đoạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục tổ chức các đợt quan trắc hải văn đồng bộ dài hạn tại nhiều vị trí xung quanh đảo để nâng cao độ chính xác kiểm định mô hình.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về diễn biến hình thái bãi bồi nhân tạo và quá trình hình thành doi cát dạng Tombolo phía sau các đoạn đê giảm sóng phân đoạn HT02 trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Cơ quan quản lý và quy hoạch: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, các cơ quan ban ngành huyện đảo Phú Quý trong việc lập quy hoạch công trình bảo vệ bờ biển, quy hoạch phát triển không gian kinh tế biển và an ninh quốc phòng.
  • Tư vấn thiết kế công trình thủy: Các kỹ sư công trình biển, cảng và công trình bảo vệ bờ trong việc lựa chọn giải pháp kết cấu đê giảm sóng phân đoạn, tính toán ổn định khối phủ Haro, Tetrapod và tối ưu hóa cao trình đỉnh đê.
  • Nghiên cứu và đào tạo: Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng công trình thủy, Kỹ thuật bờ biển, Hải dương học tại các trường đại học (Đại học Thủy lợi, Đại học Xây dựng, Đại học Khoa học Tự nhiên) và các viện nghiên cứu chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi sạt lở và mức độ thiệt hại bờ biển tại đảo Phú Quý được thống kê trong luận án như thế nào?
Tổng chiều dài bờ biển bị sạt lở trên toàn đảo Phú Quý là 5.685 m (chiếm khoảng 1/4 chu vi đảo). Xâm thực biển từ năm 1978 tại thôn 4 và thôn 5 xã Tam Thanh đã làm sụp đổ hơn 100 ngôi nhà và phá hủy 2 km đường ven biển. Bão số 9 năm 2006 làm chết 25 người, phá hỏng 739 tàu cá và phá hủy 700 m bờ biển. Dự báo sau 100 năm, đảo có thể mất 0,81 km² đất (chiếm 4,82% diện tích) và biển lấn sâu trung bình 47,5 m nếu không có công trình can thiệp.

2. Luận án đã sử dụng những công cụ và mô hình toán nào để mô phỏng trường sóng quanh đảo?
Luận án sử dụng bộ mô hình toán thủy động lực hai cấp gồm: mô hình sóng phổ MIKE 21-SW để mô phỏng lan truyền sóng từ vùng nước sâu ngoài khơi vào ven bờ, và mô hình sóng Boussinesq MIKE 21-BW giải tích pha phi tuyến trên lưới so le chữ nhật độ phân giải cao để mô phỏng chi tiết các quá trình khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ, sóng vỡ và sóng truyền qua công trình đê giảm sóng quanh đảo.

3. Phương pháp viễn thám nào được tác giả ứng dụng để phân tích biến động đường bờ lịch sử?
Tác giả đã thu thập chuỗi ảnh vệ tinh Landsat giai đoạn 2000–2020, xử lý trên nền tảng Google Earth Engine (GEE) bằng cách trích xuất ranh giới mặt nước qua chỉ số nước mNDWI và chỉ số tần suất nước WFI, sau đó dùng công cụ DSAS để tính toán tốc độ biến động đường bờ qua các chỉ số EPR, LRR, sai số LSE và khoảng tin cậy LCI90 tại ba xã Ngũ Phụng, Tam Thanh và Long Hải.

4. Giải pháp công trình giảm sóng nào được luận án đề xuất là tối ưu cho đảo Phú Quý?
Luận án đề xuất giải pháp hệ thống 11 đoạn đê giảm sóng phân đoạn bố trí cách bờ (phương án HT02) với kết cấu mái nghiêng phủ khối bê tông Haro/Tetrapod kết hợp lõi đá đổ. Phương án này tối ưu hơn đê liên tục (HT01) nhờ khả năng tiêu tán năng lượng sóng hiệu quả, bảo vệ đường bờ, duy trì cảnh quan bãi tắm và bảo đảm trao đổi lưu thông nước biển, tránh ô nhiễm môi trường ven bờ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kỹ thuật của tác giả Mai Quang Khoát đã giải quyết trọn vẹn bài toán khoa học và thực tiễn về tương tác thủy động lực học giữa trường sóng biển và bờ đảo ngoài khơi tại khu vực đảo Phú Quý. Bằng cách kết hợp phân tích viễn thám đa thời gian, số liệu đo đạc thực tế và bộ mô hình toán số trị MIKE 21 (SW và BW), nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ chế xói lở bờ biển và lượng hóa sự suy giảm năng lượng sóng qua các dạng công trình bảo vệ. Kết quả đề xuất hệ thống 11 đoạn đê giảm sóng ngắt quãng cung cấp cơ sở khoa học và kỹ thuật phục vụ phòng chống thiên tai, ổn định bờ đảo và phát triển bền vững kinh tế biển đảo Phú Quý.