ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của Tổ chức y tế Thế giới (WHO, 2012), trên thế giới có khoảng 14,1 triệu trường hợp mới mắc bệnh và 8,2 triệu trường hợp tử vong do mắc các bệnh ung thư khác nhau. Ung thư cổ tử cung xếp hàng thứ tư trong nhóm bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ trên thế giới (WHO, 2012). Theo báo cáo của tổ chức Internation Agency for Research on Cancer (IARC, 2012), trên thế giới có khoảng 266.000 người tử vong và 528.000 trường hợp mới mắc bệnh ung thư cổ tử cung. Theo công bố khoa học của Eileen và cộng sự (2011), Human papillomavirus (HPV) là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến bệnh ung thư cổ tử cung[18].
Bên cạnh đó, công bố khoa học của Richard và cộng sự (2010) ghi nhận tính chất methyl hóa vượt mức trên các gen có chức năng đè nén u liên quan đến sự hình thành và diễn tiến các loại ung thư, điển hình là ung thư cổ tử cung. Sự methyl hóa vượt mức trên đảo CpG thuộc vùng promoter của gen APC dẫn đến sự bất hoạt chức năng của gen này[48]. Do vậy, việc xác định tần số methyl hóa vượt mức trên gen APC trong bộ mẫu không nhiễm hoặc nhiễm HPV (type nguy cơ cao/type nguy cơ thấp) có ý nghĩa thực tiễn trong việc tìm ra mối tương quan giữa tính chất methyl hóa bất thường trên các gen này và yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ung thư cổ tử cung. Từ đó, hướng đến việc xác định dấu chứng sinh học tiềm năng trong tiên lượng, chẩn đoán sớm bệnh ung thư cổ tử cung.
Ở Việt Nam, cho đến thời điểm này có rất ít công trình nghiên cứu tính chất methyl hóa vượt mức trên vùng promoter gen APC trong ung thư cổ tử cung và bộ mẫu có tính SVTT: Lâm Thị Thanh Tâm Trang 1 Khóa Luận Tốt Nghiệp HPV (type nguy cơ cao/type nguy cơ thấp) ở người bệnh Việt Nam. Do vậy, chúng tôi thực hiện chuyên đề khóa luận tốt nghiệp: “Khảo sát sự tương quan giữa tính chất methyl hóa bất thường trên gen APC với tính chất nhiễm HPV trên bệnh nhân người Việt Nam” Mục tiêu Khảo sát tính chất methyl hóa DNA vượt mức của gen APC liên quan đến bệnh ung thư cổ tử cung, cụ thể là mối liên quan giữa tính chất methyl hóa DNA gen APC và yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh UTCTC - tính chất nhiễm HPV (type nguy cơ cao/type nguy cơ thấp), nhằm hướng đến phát triển phương pháp không xâm lấn (non invation) để tiên lượng và chẩn đoán sớm bệnh UTCTC. Nội dung nghiên cứu: Khảo sát bộ dữ liệu về tính chất methyl hóa vùng promoter gen APC liên quan đến bệnh ung thư cổ tử cung và tính chất nhiễm HPV/không nhiễm HPV, tính chất nhiễm HPV type nguy cơ cao/type HPV nguy cơ thấp. Khảo sát cặp mồi phù hợp với phương pháp sinh học phân tử (MSP, Nested-MSP) phù hợp nhằm khảo sát tính chất methyl hóa trên các gen APC trên bộ mẫu có tính chất không nhiễm HPV (mẫu lành)/nhiễm HPV type nguy cơ thấp hoặc HPV type nguy cơ cao.
Khảo sát thực nghiệm dựa vào phương pháp Nested-MSP nhằm khảo sát tính chất methyl hóa gen APC trên bộ mẫu có tính chất không nhiễm HPV (mẫu lành)/nhiễm HPV type nguy cơ thấp hoặc HPV type nguy cơ cao. SVTT: Lâm Thị Thanh Tâm Trang 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp PHẦN I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU I. Tổng quan về ung thư I.
Khái niệm ung thư Ung thư là một thuật ngữ chung chỉ một nhóm các bệnh lý có thể ảnh hưởng đến bất kì phần nào của cơ thể. Ung thư khởi phát từ sự tăng trưởng không kiểm soát của các tế bào, có thể xâm nhập và di căn đến các vị trí khác của cơ thể thông qua hệ thống mạch máu hay mạch bạch huyết[77]. Diễn tiến quá trình sinh ung[76] I. Yếu tố nguy cơ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ung thư khởi phát từ một tế bào duy nhất trải qua nhiều giai đoạn, thường là từ một sự tổn thương tiền ung thư đến các khối u ác tính.
Những thay đổi này là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố di truyền của cơ thể với các loại tác nhân bên ngoài như tác nhân vật lý, hóa học, sinh học: − Tác nhân vật lý: tia cực tím và bức xạ ion hóa[106]. − Tác nhân hóa học: khói thuốc lá, thạch tín, amiang, các thành phần của khói thuốc lá, aflatoxin (chất gây nhiễm bẩn thực phẩm)[106]. − Tác nhân sinh học: nhiễm trùng từ virus, vi khuẩn hay kí sinh trùng[106]. SVTT: Lâm Thị Thanh Tâm Trang 3 Khóa Luận Tốt Nghiệp I.
Phân loại ung thư − Ung thư biểu mô (carcinoma): ung thư khởi phát ở da hoặc trong các mô lót hay lớp biểu mô phủ bên trong các cơ quan nội tạng. Có một số dạng ung thư biểu mô như sau: ung thư tuyến, ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp[97]. − Ung thư mô liên kết (sarcoma): ung thư khởi phát trong các mô liên kết hoặc trong xương, sụn, mỡ, cơ, mạch máu[97]. − Bệnh bạch cầu (leukaemia): ung thư khởi phát trong máu hình thành mô như tủy xương và tạo ra một số lượng lớn các tế bào máu bất thường và đi vào máu[97].
− U lympho bào, u tủy (lyphoma, myeloma): ung thư khởi phát từ các tế bào lympho của hệ thống miễn dịch[97]. − Ung thư hệ thống thần kinh trung ương: ung thư khởi phát trong các tế bào não hoặc tủy sống[97]. Ung thư cổ tử cung Ung thư cổ tử cung là một bệnh ung thư ác tính. Hình thành trong lớp lót bên trong cổ tử cung, đường giao nhau của âm đạo và tử cung[35].
Quá trình khởi phát ung thư cổ tử cung bắt đầu trong các tế bào xung quanh cổ tử cung. Bao gồm quá trình tạo u trong biểu mô tử cung (Cervical Intraepithelial Neoplasia - CIN), sự tổn thương trong biểu mô của các tế bào hình vảy (Squamous Intraepithelial Lesion - SIL) và sự loạn sản (dysplasia )[35]. Theo hệ thống phân loại của Tổ chức y tế Thế giới (WHO), mức độ loạn sản và tạo u ở tầng biểu mô cổ tử cung (Cervical Intaepithelial Neoplasia - CIN) được chia thành các cấp độ[106]: SVTT: Lâm Thị Thanh Tâm Trang 4 Khóa Luận Tốt Nghiệp − CIN1: sự loạn sản ở mức độ nhẹ. − CIN2: sự loạn sản ở mức độ vừa.
− CIN3: sự loạn sản ở mức độ nghiêm trọng. Trong hệ thống phân loại của Bethesda, mức độ tổn thương biểu mô và diễn tiến hình thành ung thư cổ tử cung được chia thành các cấp độ: − LSIL (Low - grade Squamous Intraepithelial Lesion): sự tổn thương bên trong biểu mô hình thành vảy cấp độ thấp, tương ứng CIN1[108]. ⮚ Các giai đoạn phát triển ung thư cổ tử cung − Giai đoạn I: ung thư khởi phát tại các tế bào cổ tử cung. Dựa vào số lượng tế bào ung thư được tìm thấy, ung thư cổ tử cung gồm các giai đoạn IA, IB[95].
− Giai đoạn II: ung thư đã lan rộng ra ngoài cổ tử cung nhưng chưa xâm lấn vào vùng xương chậu hoặc phần phía dưới của âm đạo[95]. + Giai đoạn IIA: ung thư đã di cư ra khỏi vùng cổ tử cung đến khoảng 2/3 phía trên của âm đạo[95]. + Giai đoạn IIB: ung thư đã lan tràn ra ngoài cổ tử cung đến các mô xung quanh nhưng chưa lan đến xương chậu[95]. − Giai đoạn III: ung thư đã lan rộng đến phần dưới của âm đạo và có thể lan rộng đến vùng xương chậu[95].
+ Giai đoạn IIIA: ung thư đã lan rộng đến phần dưới của âm đạo nhưng chưa lan rộng đến phần xương chậu[95]. + Giai đoạn IIIB: Ung thư đã lan rộng đến xương chậu, khối u đã đủ lớn để ngăn cản các ống niệu quản (ống nối thận đến bàng quang) [95]. SVTT: Lâm Thị Thanh Tâm Trang 5 Khóa Luận Tốt Nghiệp − Giai đoạn IV: ung thư đã lan rộng ra ngoài vùng xương chậu, có thể tìm thấy tế bào ung thư trong niêm mạc bàng quang, trực tràng hoặc đã lan rộng đến các bộ phận khác của cơ thể[95]. + Giai đoạn IVA: các tế bào ung thư di căn đến vùng mô, cơ quan lân cận: bàng quang hoặc trực tràng[95].
+ Giai đoạn IVB: các tế bào ung thư di căn đến vùng mô, cơ quan khác ở xa trên cơ thể: gan, ruột, phổi hoặc xương[95]. Tình hình ung thư cổ tử cung ở trên thế giới Theo số liệu thống kê của Globocan (2012), ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ tư trên Thế giới.000 trường hợp mới, 266.000 trường hợp tử vong, chiếm 7,5% số ca tử vong do ung thư ở phụ nữ. Ở các vùng chưa phát triển, số trường hợp tử vong do ung thư xấp xỉ khoảng 87,0%. Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư xảy ra phổ biến nhất ở phụ nữ thuộc khu vực Đông Phi và Trung Phi[105].
Tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh ung thư cổ tử cung trên thế giới (Globocan, 2012)[104] SVTT: Lâm Thị Thanh Tâm Trang 6 Khóa Luận Tốt Nghiệp Hình 1. Tỷ lệ số trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung ở phụ nữ trên thế giới (Globocan, 2012)[104] I. Tình hình ung thư cổ tử cung ở Việt Nam Theo Globocan 2012, ung thư cổ tử cung thuộc nhóm ung thư thường gặp ở phụ nữ Việt Nam, trong nhóm bệnh lý này còn có ung thư vú, ung thư phổi, ung thư gan và ung thư dạ dày.146 trường hợp mắc bệnh ung thư cổ cung (9,4%). Số trường hợp tử vong là 2.
Tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh ung thư cổ tử cung ở Việt Nam (Globocan, 2012)[104] SVTT: Lâm Thị Thanh Tâm Trang 7 Khóa Luận Tốt Nghiệp Hình 1. Tỷ lệ số trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung của phụ nữ ở Việt Nam (Globocan, 2012)[100] I. Virus HPV Human papillomavirus (HPV) là virus gây u nhú ở người, thuộc nhóm tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục ở cả nam giới và nữ giới trên Thế giới[18]. Dựa vào sự tương quan giữa kiểu gen HPV với sự xâm nhiễm, gây tổn thương cổ tử cung và cơ chế sinh ung, HPV có thể được chia thành các nhóm như sau: − Nhóm HPV type nguy cơ thấp (Low - risk type): 6, 11, 40, 42, 43, 44, 54, 61, 70, 72, 81, 89[79].
− Nhóm HPV type nguy cơ cao (High - risk type): 16, 18, 31, 33, 34, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 68, và 73[8]. Theo báo cáo khoa học của Hausen và cộng sự (1966), nhóm HPV type nguy cơ cao có khả năng gây ra sự tăng sinh mất kiểm soát dẫn đến hình thành các khối u ác tính ngay khi hiện diện với một lượng (nồng độ) thấp trong cơ thể ký chủ[38].