Thực trạng tuân thủ điều trị arv và hiệu quả can thiệp bằng ứng dụng zalo ở nam quan hệ tình dục đồng giới nhiễm hiv tại một số cơ sở khám bệnh chữa bệnh điều trị bằng thuốc kháng hiv ở hà nội

Nghiên cứu thực trạng tuân thủ điều trị ARV và hiệu quả can thiệp Zalo cho nam giới quan hệ đồng giới nhiễm HIV tại Hà Nội. Giải pháp hỗ trợ điều trị hiệu quả.

Trường đại học

Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sỹ

2024

194
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. HIV và tình hình lây nhiễm HIV trên nhóm MSM

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. HIV AIDS ở MSM Thực trạng đáng báo động tại Hà Nội 55

Đại dịch HIV/AIDS vẫn là thách thức sức khỏe toàn cầu. Tính đến 13/07/2023, có khoảng 40.4 triệu người sống chung với HIV. Nhóm MSM nhiễm HIV chịu ảnh hưởng nặng nề. Thống kê cho thấy tỷ lệ nhiễm mới và tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM ở nhiều quốc gia ở mức cao. Tại Việt Nam, tỷ lệ HIV gia tăng cao trong nhóm MSM trong thập kỷ qua, đạt 12.1% năm 2022. Hà Nội ghi nhận tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 13.6%, vượt trung bình quốc gia. Để kiểm soát dịch bệnh và nâng cao chất lượng sống, cần điều trị sớm và tuân thủ điều trị ARV nghiêm ngặt. Điều trị sớm giúp giảm tải lượng virus xuống dưới ngưỡng lây truyền. Tuy nhiên, việc tuân thủ điều trị là một thách thức, đòi hỏi sự kiên trì và hỗ trợ toàn diện.

1.1. Gánh nặng lây nhiễm HIV trong cộng đồng MSM

Vi rút HIV gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thuộc chi Lentivirus. Quan hệ tình dục (QHTD) giữa nam và nam là một con đường quan trọng của nhiễm HIV-1. Trong thập kỷ qua, đã có sự lo ngại gia tăng về các trường hợp nhiễm HIV mới được phát hiện và đang hồi sinh ở nhóm MSM trên toàn thế giới. Hà Nội là một trong hai thành phố lớn có số lượng người nhiễm HIV cao nhất cả nước và đang ghi nhận tỷ lệ nhiễm mới HIV ở nhóm MSM lên đến 48,1%, cao nhất trong các nhóm nguy cơ.

1.2. Tầm quan trọng của điều trị ARV cho MSM nhiễm HIV

Việc điều trị sớm và tuân thủ điều trị nghiêm ngặt giúp giảm tải lượng vi rút xuống dưới 200 bản sao/mL máu, người nhiễm HIV sẽ không còn khả năng lây truyền HIV cho người khác qua đường tình dục. Mặc dù việc điều trị ARV không giúp người bệnh khỏi hoàn toàn HIV/AIDS nhưng có thể ức chế tối ưu sự nhân lên của HIV, cho phép hệ miễn dịch phục hồi từ đó phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng cơ hội, kéo dài và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Đây là quá trình điều trị liên tục, kéo dài suốt đời và đòi hỏi sự tuân thủ điều trị tuyệt đối của người bệnh, do đó việc tuân thủ điều trị như uống thuốc đúng giờ, đúng liều, đúng cách là rất quan trọng.

II. Thách thức tuân thủ điều trị ARV ở MSM tại Hà Nội 59

Việc tuân thủ điều trị ARV không dễ dàng, đặc biệt đối với MSM nhiễm HIV. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ tuân thủ dao động từ 48% đến 90%. Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu cụ thể về tỷ lệ này ở nhóm MSM. Họ phải đối mặt với nhiều yếu tố ảnh hưởng, từ cá nhân đến xã hội. Trong năm đầu tiên điều trị, các thách thức bao gồm: thiếu kỹ năng, thông tin, lo ngại tác dụng phụ, thay đổi thói quen, và rối loạn sức khỏe tinh thần. Cần quan tâm đặc biệt đến việc tăng cường tuân thủ điều trị ARV cho nhóm này. Theo nghiên cứu của Vũ Thị Bích Hồng (2024), sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân chịu nhiều ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân và xã hội.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở MSM

Nhóm nguy cơ này phải đối mặt với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị không những ở 2 mức độ cá nhân, cấp độ cấu trúc – xã hội và có thể chịu tác động của nhiều yếu tố cùng một lúc [157]. Trong năm đầu tiên điều trị ARV, nhóm MSM gặp rất nhiều thách thức liên quan đến việc điều trị như: thiếu kỹ năng tuân thủ điều trị, thiếu thông tin, kiến thức, lo ngại tác dụng phụ của thuốc, thay đổi thói quen hàng ngày, hay gặp những rối loạn về sức khỏe tinh thần như lo âu, trầm cảm, và có chất lượng cuộc sống thấp.

2.2. Thực trạng tuân thủ điều trị ARV tại các cơ sở y tế Hà Nội

Chưa có nghiên cứu cụ thể tại Việt Nam về tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV ở nhóm MSM. Vì vậy, việc tăng cường tuân thủ điều trị ARV ở nhóm này cần được quan tâm nhiều hơn. Các can thiệp trên mạng xã hội nói chung và Zalo nói riêng nhằm cải thiện sự tuân thủ điều trị ARV ở nhóm MSM vẫn chưa được áp dụng ở Việt Nam. Theo số liệu ước tính, cả nước hiện có tới khoảng 249.000 người nhiễm HIV đang sống trong cộng đồng. Hà Nội là một trong hai thành phố lớn có số lượng người nhiễm HIV cao nhất cả nước và đang ghi nhận tỷ lệ nhiễm mới HIV ở nhóm MSM lên đến 48,1%, cao nhất trong các nhóm nguy cơ.

III. Can thiệp Zalo Giải pháp hỗ trợ điều trị ARV cho MSM 60

Công nghệ thông tin, đặc biệt là mạng xã hội, trở thành phương pháp tiếp cận hiệu quả trong y tế. Ứng dụng Zalo với tính phổ biến, tiện lợi, bảo mật, được xem là tiềm năng. Nghiên cứu cần triển khai thí điểm Zalo để tối ưu hóa và mở rộng can thiệp. Các can thiệp qua Zalo nhằm cải thiện sự tuân thủ điều trị ARV ở nhóm MSM chưa được áp dụng tại Việt Nam. Do đó, nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng và hiệu quả của can thiệp Zalo. Nghiên cứu của Vũ Thị Bích Hồng (2024) khám phá tiềm năng của Zalo trong việc hỗ trợ điều trị HIV.

3.1. Tiềm năng của Zalo trong hỗ trợ sức khỏe cộng đồng

Đồng thời, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, phương tiện truyền thông mạng xã hội đã trở thành phương pháp tiếp cận có tính thích ứng và dễ tiếp cận đối với các hoạt động y tế, đặc biệt ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [153]. Ở nước ta, Zalo – một ứng dụng mạng xã hội sẵn có, phổ biến, thuận tiện, bảo mật cao, với những tính năng hấp dẫn cần được nghiên cứu để triển khai thí điểm, là cơ sở để tối ưu hoá và mở rộng triển khai can thiệp ở nhiều địa bàn khác nhau.

3.2. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá hiệu quả can thiệp Zalo

Xuất phát từ thực tế trên, câu hỏi đặt ra là: Thực trạng tuân thủ điều trị ARV của nhóm MSM mới điều trị trong năm đầu tiên như thế nào? Hiệu quả của các can thiệp nhằm tăng cường tuân thủ điều trị trên Zalo cho nhóm MSM như thế nào? Sau khi triển khai thí điểm, có thể áp dụng các can thiệp này tại các cơ sở y tế khác không? Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ điều trị ARV và hiệu quả can thiệp bằng ứng dụng Zalo ở nam quan hệ tình dục đồng giới nhiễm HIV tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh điều trị bằng thuốc kháng HIV ở Hà Nội”

IV. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng tham gia tại Hà Nội 58

Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng tuân thủ điều trị ARV của MSM trong năm đầu tiên. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp Zalo cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu được thực hiện tại các cơ sở khám, chữa bệnh HIV ở Hà Nội. Các phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm phỏng vấn, theo dõi, và đánh giá. Dữ liệu được phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng và hiệu quả can thiệp. Nghiên cứu của Vũ Thị Bích Hồng (2024) sử dụng phương pháp định lượng và định tính để thu thập thông tin.

4.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ điều trị ARV và hiệu quả can thiệp bằng ứng dụng Zalo ở nam quan hệ tình dục đồng giới nhiễm HIV tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh điều trị bằng thuốc kháng HIV ở Hà Nội”, với các mục tiêu như sau: 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ARV của nam quan hệ tình dục đồng giới nhiễm HIV tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh điều trị bằng thuốc kháng HIV ở Hà Nội, năm 2022. Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng ứng dụng Zalo hỗ trợ tuân thủ điều trị ARV ở nhóm đối tượng trên.

4.2. Công cụ và quy trình thu thập dữ liệu

Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ điều trị ARV và hiệu quả can thiệp bằng ứng dụng Zalo ở nam quan hệ tình dục đồng giới nhiễm HIV tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh điều trị bằng thuốc kháng HIV ở Hà Nội”, với các mục tiêu như sau: 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ARV của nam quan hệ tình dục đồng giới nhiễm HIV tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh điều trị bằng thuốc kháng HIV ở Hà Nội, năm 2022. Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng ứng dụng Zalo hỗ trợ tuân thủ điều trị ARV ở nhóm đối tượng trên.

V. Kết quả Can thiệp Zalo tăng tuân thủ điều trị ARV 55

Nghiên cứu cho thấy can thiệp Zalo có hiệu quả trong việc tăng cường tuân thủ điều trị ARV cho MSM nhiễm HIV tại Hà Nội. Thông qua Zalo, người bệnh nhận được hỗ trợ, thông tin, và nhắc nhở uống thuốc. Điều này góp phần cải thiện việc tuân thủ, giảm tải lượng virus, và nâng cao chất lượng cuộc sống. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chương trình hỗ trợ điều trị hiệu quả. Nghiên cứu của Vũ Thị Bích Hồng (2024) cung cấp bằng chứng về hiệu quả của Zalo trong lĩnh vực y tế công cộng.

5.1. Hiệu quả tăng cường tuân thủ điều trị thông qua thang đo

Nghiên cứu cho thấy can thiệp Zalo có hiệu quả trong việc tăng cường tuân thủ điều trị ARV cho MSM nhiễm HIV tại Hà Nội. Thông qua Zalo, người bệnh nhận được hỗ trợ, thông tin, và nhắc nhở uống thuốc.

5.2. Tác động của Zalo đến chất lượng cuộc sống của MSM

Điều này góp phần cải thiện việc tuân thủ, giảm tải lượng virus, và nâng cao chất lượng cuộc sống. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chương trình hỗ trợ điều trị hiệu quả.

VI. Tương lai Ứng dụng Zalo mở rộng cho phòng chống HIV 57

Kết quả nghiên cứu khẳng định tiềm năng của ứng dụng Zalo trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là hỗ trợ điều trị HIV. Các cơ sở y tế có thể áp dụng mô hình này để tăng cường tuân thủ điều trị và cải thiện sức khỏe cộng đồng. Cần có thêm nghiên cứu để đánh giá tính bền vững và khả năng mở rộng của can thiệp Zalo. Nghiên cứu của Vũ Thị Bích Hồng (2024) mở ra hướng đi mới cho việc sử dụng công nghệ trong phòng chống HIV. Cần có thêm nghiên cứu để đánh giá tính bền vững và khả năng mở rộng của can thiệp Zalo.

6.1. Đề xuất nhân rộng mô hình can thiệp Zalo

Kết quả nghiên cứu khẳng định tiềm năng của ứng dụng Zalo trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là hỗ trợ điều trị HIV. Các cơ sở y tế có thể áp dụng mô hình này để tăng cường tuân thủ điều trị và cải thiện sức khỏe cộng đồng.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và khuyến nghị chính sách

Cần có thêm nghiên cứu để đánh giá tính bền vững và khả năng mở rộng của can thiệp Zalo. Nghiên cứu của Vũ Thị Bích Hồng (2024) mở ra hướng đi mới cho việc sử dụng công nghệ trong phòng chống HIV. Cần có thêm nghiên cứu để đánh giá tính bền vững và khả năng mở rộng của can thiệp Zalo.

15/05/2025
Thực trạng tuân thủ điều trị arv và hiệu quả can thiệp bằng ứng dụng zalo ở nam quan hệ tình dục đồng giới nhiễm hiv tại một số cơ sở khám bệnh chữa bệnh điều trị bằng thuốc kháng hiv ở hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. HIV và tình hình lây nhiễm HIV trên nhóm MSM Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficency Virus HIV) được phân loại vào chi Lentivirus trong họ Retroviridae, phân họ Orthoretrovirinae [87]. Nguồn gốc của HIV có thể bắt nguồn từ quá trình lây nhiễm từ động vật sang người với vi rút suy giảm miễn dịch Simian (SIV) từ các loài linh trưởng châu Phi. Trường hợp lây truyền HIV đầu tiên được xác định là xảy ra ở Cộng hòa Dân chủ Congo vào đầu những năm 1920 [17].

HIV gồm 2 nhóm chính là HIV-1 và HIV-2. Hai nhóm này khác nhau về kháng nguyên, trọng lượng phân tử của các thành phần cấu trúc, thời gian ủ bệnh, tỷ lệ lây nhiễm và tiến triển của bệnh khác nhau. HIV-1 có mặt trên toàn thế giới và là tác nhân gây dịch AIDS, trong khi HIV-2 tập trung chủ yếu ở Tây Phi, hiếm gặp ở nơi khác. Năm 1981, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được mô tả qua nghiên cứu hàng loạt các các bệnh nhiễm trùng không rõ nguyên nhân trong nhóm MSM ở Hoa Kỳ [152].

HIV/AIDS từ đó đã phát triển thành đại dịch toàn cầu ảnh hưởng đến nhiều nhóm dân cư khác nhau. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tính đến 13/07/2023, với khoảng 40,4 triệu (32,9–51,3 triệu) người sống chung với HIV. Trong đó, riêng năm 2022, có 1,3 triệu (1,0 triệu – 1,7 triệu) ca nhiễm mới HIV được phát hiện, 630.000 người tử vong liên quan đến HIV, có 76% tổng số người sống chung với HIV nhận được điều trị liệu pháp kháng vi rút [176]. Quan hệ tình dục (QHTD) giữa nam và nam là một con đường quan trọng của nhiễm HIV-1.

Trong thập kỷ qua, đã có sự lo ngại gia tăng về các trường hợp nhiễm HIV mới được phát hiện và đang hồi sinh ở nhóm MSM trên toàn thế giới. Trong khi tỷ lệ nhiễm HIV ở người trưởng thành thấp và giảm ở hầu hết các quốc gia, nhóm MSM tiếp tục bị ảnh hưởng không cân xứng bởi nhiễm HIV [151]. Trên toàn cầu, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trung bình ở người trưởng thành (15 – 49 tuổi) là 0,7%, tuy nhiên tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 7,5% [174]. Theo số liệu của UNAIDS 4 2023, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM cao nhất ở phía Đông và Nam châu Phi (12,9%), tiếp theo ở khu vực Caribe (11,8%), sau đó đến khu vực châu Mỹ La Tinh (9,5%), khu vực phía Tây và Trung Phi (8,0%) [174].

Các khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM thấp hơn ở Trung Đông và Bắc Phi (6,6%), khu vực Tây-Trung châu Âu và Bắc Mỹ (5,5%), châu Á và châu Đại Dương (4,7%), Đông Âu và Trung Á (4,3%) [174]. Theo ước tính của các chuyên gia, cả nước hiện có tới khoảng 249.000 người nhiễm HIV đang sống trong cộng đồng. Trong năm 2023, cả nước ghi nhận 13.445 trường hợp phát hiện mới HIV dương tính, 1.623 trường hợp tử vong [150]. Số người nhiễm HIV đang còn sống là 234.220 trường hợp; tổng số người nhiễm HIV tử vong lũy tích là 114.195 trường hợp.

Trong số xét nghiệm phát hiện mới HIV năm 2023: 84,28% là nam giới và lây nhiễm qua đường tình dục là 80,8% [150]. Về phân bổ số ca xét nghiệm phát hiện mới theo địa bàn cả nước thì cao nhất là tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (33%) và thành phố Hồ Chí Minh (23,5%), khu vực Đông Nam Bộ là 21%, khu vực miền Núi phía Bắc chiếm 9%, khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Hồng mỗi khu vực chiếm 4% đến 7%, khu vực Tây Nguyên thấp nhất (3%) [150]. Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) tăng lên một cách đáng lo ngại, từ 6,7% năm 2014 lên 12,47% vào năm 2022 [150]. Một số địa phương, tỷ lệ người nhiễm HIV là MSM chiếm đến 50-70% tổng số các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện [150].

Hà Nội là một trong hai thành phố lớn có số lượng người nhiễm HIV cao nhất cả nước và đang ghi nhận tỷ lệ nhiễm mới HIV ở nhóm MSM lên đến 48,1%, cao nhất trong các nhóm nguy cơ [13]. Dịch HIV/AIDS có xu hướng giảm chững lại, số người nhiễm HIV phát hiện mới từ nhóm nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm và vợ, chồng của nhóm này có xu hướng giảm, tuy nhiên nhóm người nhiễm HIV phát hiện trong nhóm nam giới trẻ tuổi từ 15-30 tuổi đang gia tăng nhanh, đặc biệt nhóm MSM trẻ. Dịch đang lây lan nhanh ở các tỉnh khu vực phía nam và các thành phố lớn nơi tập trung nhiều khu 5 công nghiệp và các trung tâm giáo dục. Cảnh báo nguy cơ lây nhiễm HIV khó kiểm soát trong nhóm MSM do các yếu tố liên quan như: sự di cư biến động giữa các tỉnh, thành phố, hành vi quan hệ tình dục không an toàn và chưa có biện pháp can thiệp hiệu quả.

Khái niệm và vai trò của tuân thủ điều trị ARV 1. Tổng quan về thuốc ARV Thế giới lần đầu phát hiện ra trường hợp nhiễm HIV vào năm 1981 và việc tìm kiếm các loại thuốc kháng vi rút để điều trị cho người nhiễm HIV đã được các nghiên cứu thử nghiệm ngay sau đó. Sự ra đời của thuốc ARV để điều trị bệnh nhân AIDS vào những năm 1990 đã mang lại hy vọng mới cho những người bị lây nhiễm HIV. Trước năm 1996, liệu pháp đơn trị liệu (ví dụ AZT hay Azidothymidine) là phương pháp điều trị được lựa chọn để can thiệp vào quá trình sản xuất DNA liên quan đến HIV cần thiết cho quá trình sao chép tế bào [148].

Tuy nhiên, do HIV có chu kỳ vòng đời cực kỳ ngắn (khoảng 10 tỷ hạt được tạo ra và phá hủy hàng ngày), do vậy quá trình sao chép cũng như đột biến của vi rút diễn ra nhanh chóng. Do đó, trong khi liệu pháp đơn trị liệu có thể tạm thời làm chậm quá trình nhân lên của vi rút, lợi ích lâm sàng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và phương pháp điều trị này nhanh chóng trở nên không hiệu quả do khả năng kháng thuốc phát triển sau nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Các hướng dẫn điều trị quốc tế hiện nay chỉ ra rằng phương pháp điều trị tối ưu đối với HIV bao gồm sự kết hợp bao gồm nhiều loại thuốc ARV khác nhau, tấn công vi rút theo những cách khác nhau. Các loại được sử dụng phổ biến nhất là từ năm nhóm: nhóm thuốc ức chế enzym sao chép ngược tương tự nucleosid và nucleotid (NRTI), nhóm thuốc ức chế enzym sao chép ngược không có cấu trúc nucleoside (NNRTI), nhóm thuốc ức chế protease (PI), nhóm ức chế enzym tích hợp (INSTI), và nhóm thuốc ức chế xâm nhập và hoà màng (EI & FI).

Sự kết hợp này, được gọi là ART, có hiệu quả cao trong việc ngăn chặn sự nhân lên của HIV ở cả giai đoạn sớm và muộn trong chu kỳ sao chép của vi rút. Ngày nay, nhiều loại thuốc ARV thường được kết hợp trong một viên duy nhất, đảm bảo bệnh nhân luôn dùng nhiều loại thuốc cùng nhau. 6 Với người đã được chẩn đoán nhiễm HIV, sử dụng thuốc ARV và tuân thủ điều trị tốt sẽ có tác dụng gồm: ức chế tối đa, lâu dài quá trình nhân lên của HIV trong cơ thể và phục hồi hệ thống miễn dịch, giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong liên quan tới HIV; dự phòng lây truyền HIV từ người nhiễm sang người khác (bạn tình/bạn chích); dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Khi người bệnh điều trị ARV đạt tải lượng HIV < 200 bản sao/mL và tuân thủ điều trị sẽ không làm lây truyền HIV cho bạn tình qua đường tình dục (K=K, Không phát hiện = Không lây truyền).

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã có hướng dẫn Điều trị và chăm sóc HIV/AIDS theo quyết định số 5968/QĐ-BYT với nguyên tắc điều trị: điều trị ARV ngay khi người bệnh được chẩn đoán nhiễm HIV; thực hiện phối hợp đúng cách ít nhất 3 loại thuốc ARV; và đảm bảo tuân thủ điều trị hàng ngày, liên tục, suốt đời [6]. Quyết định này cũng nêu rõ tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV: (1) Tất cả người nhiễm HIV không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng, số lượng tế bào CD4; (2) Trẻ dưới 18 tháng tuổi có kết quả xét nghiệm NAT lần một dương tính hoặc có kháng thể kháng HIV dương tính đồng thời có biểu hiện bệnh HIV tiến triển. Thời điểm điều trị ARV càng sớm càng tốt ngay khi người nhiễm HIV có kết quả xét nghiệm HIV dương tính, được đánh giá tình trạng lâm sàng và sẵn sàng điều trị ARV [6]. Khái niệm tuân thủ điều trị Theo WHO, tuân thủ điều trị nghĩa là sử dụng thuốc, áp dụng lối sống và chế độ ăn phù hợp với hướng dẫn của nhân viên y tế [88].

Tuân thủ điều trị theo định nghĩa này có thể được hiểu theo nghĩa đơn giản hơn đó là dùng đúng thuốc; đúng liều; đúng giờ; đúng đường dùng; đúng cách. Tuân thủ điều trị là tổng hòa hành vi của một người như dùng thuốc, tuân theo chế độ ăn, thay đổi cách sống, thể hiện sự đồng thuận đối với các khuyến cáo từ nhân viên y tế. Đây là định nghĩa được WHO đưa ra đối với các bệnh đòi hỏi quá trình điều trị kéo dài [88]. Về mặt lý thuyết, tuân thủ điều trị ARV được hiểu là “việc người bệnh uống đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ, đúng cách theo chỉ định của bác sỹ, đến khám và làm xét nghiệm theo 7 lịch hẹn” nhưng trên thực tế, các nghiên cứu sử dụng định nghĩa “không nhỡ hoặc thiếu liều” trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một tuần trước đó.

Một số nghiên cứu áp dụng cách tính mức độ sử dụng thuốc theo phần trăm số liều hoặc số ngày dùng thuốc trên tổng số liều hoặc số ngày thuốc được kê. Một số nghiên cứu định nghĩa tuân thủ điều trị là sử dụng trên 95% số thuốc được kê trong kỳ đánh giá [147]. Tuy vậy không có định nghĩa về tuân thủ điều trị ARV nào được thống nhất trên quy mô toàn cầu. Theo hướng dẫn Điều trị và chăm sóc HIV/AIDS của Bộ Y tế theo quyết định số 5968/QĐ-BYT, đánh giá tuân thủ điều trị bao gồm đánh giá uống thuốc đúng theo chỉ định, tái khám và xét nghiệm đúng hẹn [6].

Trong đó uống thuốc theo đúng chỉ định được hiểu là người bệnh uống đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ, đúng cách theo chỉ định của thày thuốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ