phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc tôi bố cục bao gồm bốn chƣơng nội dung chính sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Nhận thức về truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc thiểu số: Góc nhìn ngƣời dân Chƣơng 3: Công tác truyền thông từ góc độ “nguồn” Chƣơng 4: Rào cản và thách thức – Bài toán khó cho ngƣời dân và cán bộ truyền thông 10 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Trong số các nghiên cứu về truyền thông phòng chống HIV/AIDS (Grov, 2015; Eggermont, 2014; Kajubi, 2014; Iqbal, 2007; Muturi, 2005; Obregon, 2000), rất nhiều nghiên cứu mang tính đánh giá về hiệu quả của các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS triển khai ở cấp cơ sở (Okidu, 2013; Peltzer, 2012; Karlyn, 2001). Những nghiên cứu này thƣờng đánh giá sự thay đổi nhận thức của ngƣời dân về kiến thức phòng chống HIV/AIDS và sự thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễm trƣớc và sau khi triển khai các chƣơng trình truyền thông cộng đồng, để từ đó xác định đƣợc tầm quan trọng của truyền thông trong cuộc chiến phòng chống đại dịch này.
Nhƣ nghiên cứu của Celeste Farr và cộng sự (2005) đi vào tìm hiểu mức độ hiệu quả của hình thức truyền thông qua đài phát thanh đến việc thay đổi nhận thức của ngƣời dân Ethiopia về giảm thiểu hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV. Hay nhƣ nghiên cứu của William Brown (2009) nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hƣởng của việc các ngôi sao giải trí nổi tiếng tham gia vào hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS đến sự giảm thiểu thực hiện các hành vi có nguy cơ lây nhiễm của ngƣời dân tại miền tây của Hoa Kỳ. Hoặc nhƣ nghiên cứu của Julie Duck (1995) đi vào tìm hiểu sự thay đổi tích cực và tiêu cực trong nhận thức của ngƣời dân Úc sau khi xem các đoạn phim truyền thông ngắn về AIDS và tình dục an toàn. Có thể kể đến nghiên cứu của Janaki Vidanapathirana và cộng sự (2005) nhằm tìm hiểu mức độ tác động của truyền thông đại chúng tới việc khuyến khích ngƣời dân quyết định xét nghiệm HIV.
Các nghiên cứu dạng này thƣờng tập trung vào việc đánh giá hiệu quả các chƣơng trình truyền thông, nhƣng có rất ít học giả đi sâu phân tích các bất cập trong quá trình xây dựng và tổ chức chƣơng trình truyền thông. Đáng chú ý là nghiên cứu của Jane Bertrand và cộng sự (2006) dựa trên 15 chƣơng trình truyền thông đại chúng trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 2004 tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Phi, Mỹ Latinh và châu Á. Nhóm tác giả cho thấy tại nhiều nơi các chƣơng 11 trình truyền thông đại chúng chỉ thay đổi nhận thức và hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV của ngƣời dân ở mức rất thấp (1-2% so với trƣớc khi truyền thông). Nhóm nghiên cứu cũng khẳng định rằng, truyền thông có vai trò tích cực đối với việc thay đổi nhận thức và hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV của ngƣời dân, tuy nhiên cách thực hiện truyền thông nhƣ thế nào mới là yếu tố quyết định.
Bertrand và cộng sự cũng thừa nhận rằng, cần có những đánh giá chi tiết hơn nữa để phân tích một cách toàn diện về tác động của truyền thông đại chúng về phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng. Một hƣớng nghiên cứu thứ hai trên lĩnh vực này là các nhà nghiên cứu (Okidu, 2013; Hasler, 2013) thƣờng đặt ra mục tiêu xây dựng đƣợc một khung chuẩn chung cho các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS. Theo đó nhiều nghiên cứu (Hanan, 2009; Airhihenbuwa, 1999; Arora, 2007) đƣợc tiến hành nhằm phân tích những ƣu điểm, hạn chế từ các chƣơng trình truyền thông đã triển khai và kinh nghiệm từ các bên hữu quan. Nhƣ nghiên cứu của Tisha Wheeler (2003) tổng hợp dữ liệu về các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại Somalia nhằm đƣa ra một khung lý thuyết chung mà các chƣơng trình truyền thông và vận động phòng chống HIV/AIDS tại Somalia thƣờng áp dụng.
Hay nhƣ nghiên cứu của Travis Hasler (2013) đi vào tìm hiểu những ý kiến của công nhân ở miền Bắc Uganda về các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS mà họ đƣợc tiếp cận nhằm xây dựng một khung truyền thông chiến lƣợc dành cho đối tƣợng này. Cũng nhƣ nghiên cứu của Catherine Medina (2011) tìm hiểu những nhu cầu cơ bản có liên quan đến tình dục của phụ nữ da màu sống tại Mỹ nhằm xây dựng một khung lý thuyết về truyền thông phòng chống HIV/AIDS phù hợp với họ. Những nghiên cứu dạng này có tính ứng dụng cao nhƣng hạn chế khi chỉ có thể áp dụng cho một địa phƣơng hoặc một cộng đồng cụ thể. Truyền thông có sự tham gia của cộng đồng cũng là một hƣớng nghiên cứu đƣợc các nhà nghiên cứu (Arora, 2007; Gill, 2005) quan tâm và tìm hiểu, đặc biệt là với đối tƣợng truyền thông là các nhóm cộng đồng yếu thế và nhạy cảm nhƣ ngƣời lao động tình dục, nam giới có quan hệ tình dục với nam giới, ngƣời nghiện ma túy, 12 dân tộc thiểu số.
Những nghiên cứu dạng này chứng tỏ sự cần thiết của việc khuyến khích đối tƣợng mục tiêu (ngƣời nhận/thụ hƣởng thông tin truyền thông) tham gia vào quá trình truyền thông. Chính vì vậy, mô hình truyền thông có sự tham gia (participatory communication model) đƣợc các tác giả nghiên cứu (Gao, 2007; Basu, 2009) khuyến nghị nhƣ là một mô mình mẫu mực trong công tác truyền thông phòng chống HIV/AIDS ở nhóm đối tƣợng yếu thế và nhạy cảm. Nhƣ nghiên cứu của Ambar Basu (2009) phân tích các câu chuyện đƣợc chia sẻ từ ngƣời lao động tình dục nữ tại thành phố Kolkata (Tây Bengal, Ấn Độ) khi chính bản thân họ tham gia vào hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong mạng lƣới ngƣời lao động tình dục tại đây. Các kết nghiên cứu của Basu cho thấy việc ngƣời lao động tình dục nữ tham gia vào hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong mạng lƣới ngƣời lao động tình dục giúp đối tƣợng truyền thông thay đổi hành vi có nguy cơ lây nhiễm một cách tích cực và bền vững.
Hay nhƣ nghiên cứu của Yun Gao và cộng sự (2007) về mức độ hiệu quả của các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong nhóm nam giới có quan hệ tình dục với nam giới (MSM) tại thành phố Thành Đô (Trung Quốc). Gao và nhóm cộng sự đã phân tích và chỉ ra tính kém hiệu quả của các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS theo phƣơng thức truyền thống vì không thể tiếp cận sâu vào cộng đồng nam giới có quan hệ tình dục với nam giới; đồng thời cho thấy tỷ lệ sử dụng bao cao su trong cộng đồng này tăng lên đáng kể khi có sự tham gia của chính thành viên trong cộng đồng vào hoạt động truyền thông. Một hƣớng nghiên cứu thứ tƣ trên lĩnh vực này là các nhà nghiên cứu (Uwah, 2013; Hayford, 2001; Dutta, 2009; Airhihenbuwa, 2004…) nhấn mạnh yếu tố văn hóa trong thiết kế chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS. Theo đó nhiều nghiên cứu (Webster, 2004; Resnicow, 1999; Matthew Kreuter, 2004; Wilson, 2003…) đƣợc tiến hành nhằm làm rõ sự cần thiết của việc lồng ghép nhiều yếu tố kết hợp với nhau trong một chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt chú trọng đến các yếu tố văn hóa.
Ví dụ nhƣ nghiên cứu của Chijioke Uwah (2013) đi vào tìm hiểu các thiết kế chƣơng trình truyền thông phòng 13 chống HIV/AIDS ở KwaZulu Natal – tỉnh có số ngƣời nhiễm HIV/AIDS cao nhất của Nam Phi. Bằng những phân tích của mình, Uwah đã cho thấy sự lặp lại rập khuôn trong các bản thiết kế những chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại đây mà không chú ý tới các yếu tố văn hóa ở địa phƣơng, dẫn đến tính kém hiệu quả các các chƣơng trình truyền thông này. Hay nhƣ nghiên cứu của Collins Airhihenbuwa (2004) đi vào tìm hiểu vai trò của văn hóa trong truyền thông thay đổi hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV của ngƣời dân ở châu Phi. Các kết quả nghiên cứu của Airhihenbuwa cho thấy các chƣơng trình truyền thông tác động đến những giá trị văn hóa có liên quan đến tình dục làm thay đổi tích cực các hành vi tình dục không an toàn của ngƣời dân.
Từ đó, Airhihenbuwa đƣa ra kết luận về sự cần thiết của việc xây dựng mô hình truyền thông chú trọng tới yếu tố văn hóa ở mỗi địa phƣơng tại châu Phi. Hay nhƣ nghiên cứu của Muturi (2005) nhằm tìm hiểu sự ảnh hƣởng của các niềm tin văn hóa đến quyết định sử dụng biện pháp tránh thai của phụ nữ ở vùng nông thôn của Kenya nhằm xác định các yếu tố văn hóa cần lƣu ý khi tiến hành truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại đây. Các kết quả nghiên cứu của Muturi ngoài việc cho thấy mức độ ảnh hƣởng sâu sắc của những niềm tin văn hóa tới việc quyết định sử dụng các biện pháp tránh thai còn chứng minh tính thất bại của các chƣơng trình truyền thông tại Kenya vì không thiết lập đƣợc mối quan hệ với ngƣời dân do tính không phù hợp với những đặc trƣng văn hóa của họ. Vấn đề truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc thiểu số cũng là một hƣớng nghiên cứu thứ năm đƣợc nhiều nhà nghiên cứu (Stevens, 2010; Patton, 2009; Cargill & Stone, 2005…) quan tâm và tìm hiểu.
Các nghiên cứu dạng này chủ yếu chứng minh tính bất bình đẳng khi ngƣời dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ truyền thông hoặc xác định những rào cản mà họ gặp phải. Ví dụ nhƣ nghiên cứu của Valerie Stone (2003) đi vào đo lƣờng mức độ hài lòng của cộng đồng ngƣời di cƣ gốc Phi cùng các cộng đồng ngƣời dân tộc thiểu số khác sinh sống tại Mỹ khi tiếp cận những dịch vụ chăm sóc sức khỏe có liên quan đến HIV/AIDS nhằm xác định tính cần thiết của việc đẩy mạnh hơn nữa hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong nhóm đối tƣợng này. Bằng những cứ liệu thuyết 14 phục, Stone chứng minh tình trạng kém hài lòng của cộng đồng ngƣời di cƣ gốc Phi cùng các cộng đồng ngƣời dân tộc thiểu số khác sinh sống tại Mỹ khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có liên quan đến HIV/AIDS. Stone đề xuất một mô hình truyền thông phòng chống HIV/AIDS đƣợc lồng ghép vào điều trị y tế; trong đó, tăng cƣờng sự giao tiếp của các bác sĩ với bệnh nhân là ngƣời dân tộc thiểu số, xóa bỏ sự bất bình đẳng và kỳ thị đối với họ.