CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIEN TRONG TRUYEN THONG VE CHÍNH SÁCH THUONG BINH LIET SĨ VÀ NGƯỜI CÓ CONG TREN BAO CHÍ 1. Hệ thống khái niệm co bản liên quan đến dé tai 111. Thương bình Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm kha năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thầm quyền cấp “Giay chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chiu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, đề lại thương tích thực thể; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; đũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân. Lam nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Liệt sĩ Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tô quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Thương bình hoặc người hưởng chính sách như thương binh quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này chết vì vết thương tái phát. Người có công Trong Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM đã đưa ra những quy định chung như sau về NCC: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người 16 hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 10 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng (BMVNAH); Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; Thân nhân của NCCVCM. Chính sách Mặc dù đã có rất nhiều các nghiên cứu, đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất chung. Qua tham khảo, so sánh cho thấy, ranh giới phân biệt giữa chính sách và chính sách công, cũng như các định nghĩa về nó, là rất tương đối.
Thêm nữa, sự phân biệt giữa chính sách công và chính sách tư nhiều khi cũng không rõ ràng và khó xác định. Bởi vì, theo Considine (1994), lĩnh vực công và tư là liên quan và đan xen lẫn nhau ở mọi cấp độ, bất cứ đâu. Qua nhiều phân tích có thé tổng quan về khái niệm chính sách như sau: “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thé nhằm dat được những mục đích nhất định, được dé ra dựa vào đường lỗi chính trị và tình hình thực tẾ”. “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thé dé thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, van hóa. Chính sách công Chính sách công còn được hiểu là thuật ngữ khái niệm để chỉ những chính sách do Nhà nước ban hành khác biệt với chính sách tự do của các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân ban hành và thực thi trong phạm vi quyền hạn của tổ chức, doanh nghiệp tư nhân và không trái với Hiến pháp và pháp luật. Ở các nước khác nhau thì cơ cau tô chức hệ thống chính trị và các cơ chế vận hành của các tổ chức chính trị trong hệ thong cũng có những khác biệt nhất định.
Do 17 vậy, các quan niệm khác nhau về chính sách công trong giới học thuật cũng còn những khác biệt nhất định là điều dễ hiểu. Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phô biến. Có thể nêu ra một số quan niệm sau: Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành. (Peter Aucoin, 1971) Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp dé đạt các mục tiêu đó.
(William Jenkin, 1978) Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm. (Thomas R Dye, 1984) Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nha nước có anh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân. Guy Peter, 1990) Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra. Dunn, 1992) Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội.
Cochran and Eloise F. Malone, 1995) Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của Chính phủ, chính quyên, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sông của người dân. Guy Peters, 1999) Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của Chính phủ/ chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền dé ai giành được cái gì. Cochran, etal, 1999) Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền đề đáp lại một vấn đề công cộng.
Nó được kết hợp với các cách thức, cũng như 18 các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình. (Kraft and Furlong, 2004) Chính sách công là hành động ứng xử của Nhà nước với các van đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thé hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đây xã hội phát triển. (Học viện Hành chính Quốc gia 2006) Như trên chúng ta thấy, các giới học thuật và chính trị gia cũng chưa thống nhất về quan niệm chính sách công, bởi lẽ mỗi người đều nhìn nhận chính sách công ở góc độ của mình và ở các thiết chế chính trị hay hién pháp quốc gia khác nhau cũng ảnh hưởng đến cách tiếp cận về chính sách công khác nhau. Ở Việt Nam, dé hiểu đúng quan niệm về chính sách công chúng ta cần định vị được vị trí, vai trò của chính sách trong đời sống xã hội, chúng ta cần xuất phát từ nguyên lý, chức năng nhiệm vụ, phương thức lãnh đạo của từng tổ chức trong hệ thống chính trị.
Những tổ chức rất quan trọng liên quan mật thiết đến các quá trình chính sách ở nước ta là: Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ, Cơ quan Tư pháp.17-20] Có thé tổng kết một quan diém chung về chính sách công, đó là: Chính sách công là thuật ngữ dùng dé chỉ “Một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một van dé chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định. Chính sách thương bình liệt sĩ và người có công Cũng như đối với nhiều cộng đồng dân cư trên thế giới, lịch sử dân tộc Việt Nam bắt đầu ngay khi con người xuất hiện và xã hội hình thành. Trong quá trình dựng nước và giữ nước trải qua hàng nghìn năm, quần chúng nhân dân luôn là người làm chủ, sáng tao moi giá tri tinh than va vat chat, song vai trò của cá nhân, đặc biệt của những người có công lao to lớn trong lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc cũng rất to lớn. Ngay sau Cách mạng tháng tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông báo về việc nhận con cái liệt sĩ làm con nuôi đê thay mặt Tô quôc, thay mặt đông bào va 19 Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mạng cho nên tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà.
Với tình cảm tha thiết, lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chi Minh, Dang và Chính phủ đã lay ngày 27/7/1947 làm “Ngày thương binh toàn quốc”. Từ năm 1955, ngày 27/7 đôi thành “Ngày thương binh liệt sĩ”, được tô chức hàng năm ở miền Bắc. Từ năm 1975, ngày thương binh liệt sĩ được tô chức thống nhất trong cả nước.9] Sinh thời, cứ mỗi năm đến ngày thương binh liệt si, Bác Hồ đều gửi thư cho Bộ chức năng chăm lo công việc này. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, chăm nom giúp đỡ thương binh và gia đình thương binh, liệt sĩ của nhân dân ta đã được tiến hành sôi nổi có kết quả tốt, thé hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”.
Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM (Số: 26/2005/PL-UBTVQH11) quy định về đối tượng, phạm vi, điều kiện, tiêu chuẩn, các chế độ ưu đãi NCCVCM và thân nhân của họ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi NCCVCM và thân nhân của họ. Cụ thé, các quy định như sau: Các chế độ ưu đãi NCCVCM và thân nhân của họ được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Hàng năm Nhà nước dành phần ngân sách bảo đảm thực hiện các chế độ ưu đãi NCCVCM và thân nhân của họ. NCCVCM và thân nhân của họ được Nhà nước, cộng đồng quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và tùy từng đối tượng được hưởng các chế độ ưu đãi sau đây: Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần.
Chính phủ quy định mức trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng đối với NCCVCM và thân nhân của họ bảo đảm tương ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội; Các chế độ ưu đãi khác.