Chương 1 - Tổng quan, gồm 29 trang, giới thiệu chung về các vấn đề liên quan đến Luận án như tổng quan về zeolite, trong đó đề cập chi tiết về zeolite A; thành phần, tính chất tro bay nhiệt điện than, các nghiên cứu trong và ngoài nước về tổng hợp zeolite từ tro bay nhiệt điện than cũng như ứng dụng của zeolite trong xử lý NH4+; Chương 2 - Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm, 20 trang, trình bày sơ đồ nghiên cứu, các nội dung và phương pháp nghiên cứu; Chương 3- Kết quả và thảo luận, 46 trang. Giới thiệu chung về zeolite Zeolite là tên chung chỉ một họ vật liệu khoáng vô cơ có cùng thành phần là nhôm silicat, bao gồm ion âm là liên kết Si-O-Al và ion dương thường là Na+, K+ hoặc H+. Zeolite được phân loại theo nguồn gốc (tự nhiên hay tổng hợp), theo đường kính mao quản (lớn, nhỏ, trung bình), theo tỷ lệ Si/Al, trong đó, loại có tỷ lệ Si/Al thấp, từ 1-1,5 có khả năng trao đổi cation rất cao. Nó có mạng lưới anion cứng chắc với các lỗ xốp và các kênh mao quản chạy khắp mạng lưới và giao nhau ở các khoang trống.
Các khoang trống chứa các ion kim loại có thể trao đổi được (Na+, K+) với các phân tử bên ngoài xâm nhập vào. Các khoang trống này có kích thước khoảng 0,2 – 2 nm nên zeolite được xếp vào loại vật liệu vi mao quản [47], [64]. Zeolite, ở dạng bột hoặc viên, có khả năng loại các ion kim loại, amoni, H2S, NO2, NO, và các chất hữu cơ độc hại. Đặc biệt, đối với các ion kim loại nặng (KLN), một số loại zeolite có thể loại các KLN này thông qua khả năng trao đổi ion kết hợp với hấp phụ.
Zeolite thường từ 02 nguồn: tự nhiên và tổng hợp. Tuy nhiên, các nguồn tự nhiên thường có hoạt tính không cao. Zeolite tổng hợp có thể được sản xuất từ các loại đất sét sẵn có tại Việt Nam, cụ thể là từ cao lanh tại Hiệp Tiến, Lâm Đồng, tổng hợp từ hóa chất tinh khiết (Al2O3, SiO2) và đặc biệt là từ tro bay các nhà máy nhiệt điện đốt than. Việc tổng hợp zeolite từ tro bay có nhiều thuận lợi do tại nhà máy nhiệt điện, than được đốt cháy ở nhiệt độ rất cao, có thể lên đến 1.600 oC, phần tro bay sau cháy chứa rất nhiều silic dioxit (SiO2) và nhôm oxit (Al2O3) dạng vô định hình (hay còn gọi nhôm silicat vô định hình).
Tái sử dụng tro bay để chế tạo zeolite cũng góp phần tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Các zeolite A, X, Y, P và Na-P1 là những loại zeolite tổng hợp nổi tiếng từ tro bay vốn có rất nhiều ứng dụng trong công nghiệp so với zeolite tự nhiên [47]. Cấu trúc của zeolite Zeolite hình thành dựa trên những đơn vị cấu trúc cơ bản MO4 là tứ diện silica [SiO4]4- và tứ diện alumina [AlO4]5- liên kết với nhau qua các đỉnh oxi chung. Các đơn vị cấu trúc sơ cấp là giống nhau trong mọi loại zeolite (tâm là Si hoặc Al, đỉnh là O) (Hình 1.
Các tứ diện có thể liên kết qua các đỉnh oxi chung khác nhau tạo nên các đơn vị cấu trúc thứ cấp khác nhau, điều 7 đó làm cho zeolite trở nên đa dạng (Hình 1. Khi tất cả oxi trong tứ diện SiO4 đã được liên kết chung với nhau thì tứ diện silica sẽ trung hòa điện. Sự thay thế Si (IV) bằng Al (III) làm xuất hiện trong cấu trúc zeolite một điện tích âm. Để trung hòa điện tích âm đó, trong zeolite có các cation dương, thường là Na+, K+, Ca2+, Mg2+.
Nhờ sự có mặt của các cation này mà zeolite có tính chất trao đổi ion [12], [22]. Tứ diện AlO4/SiO4 Si hay Al Oxy Hình 1. Cấu trúc sơ cấp của Zeolite. [25] Điện tích âm Hình 1.
Cấu trúc thứ cấp của Zeolite. Tính chất của zeolite a. Tính hấp phụ của zeolite Hiện tượng hấp phụ xảy ra chủ yếu trên bề mặt bên trong của zeolite, tức là phân tử hấp phụ phải đi qua được các lỗ rỗng của zeolite. Những phân tử có kích thước nhỏ hơn hay bằng kích thước các lỗ rỗng mới đi vào bên trong zeolite được.
Thông thường trên bề mặt zeolite đã hấp phụ nước và nước lấp đầy khoảng trống bên trong zeolite. Trước khi sử dụng zeolite để hấp phụ các phân tử khác cần tiến hành dehydrate hóa để loại các phân tử nước, thường sử dụng phương pháp sấy trong điều kiện áp suất thấp hay trong điều kiện chân không. Lượng chất bị hấp phụ trên zeolite sẽ tùy thuộc vào nhiệt độ, áp suất, 8 bản chất của chất bị hấp phụ và bản chất của loại zeolite. Quá trình hấp phụ của zeolite là thuận nghịch [16].
Chính nhờ tính chất hấp phụ chọn lọc và thuận nghịch, zeolite được sử dụng rộng rãi để phân tách các hỗn hợp chất lỏng hay chất khí [47]. Tính chất trao đổi ion Thông thường, trong zeolite tự nhiên hay zeolite tổng hợp ban đầu đều có cation bù là Na+. Quá trình trao đổi ion có thể tạo ra các zeolite với cation là K+, Ca2+,. Phản ứng trao đổi ion có thể mô tả như sau : nNa+- Zeol- + Mn+ → Mn+-(Zeol-)n + nNa+ Mn+ là cation kim loại hóa trị n, Zeol- là một điểm mang điện tích âm trên khung zeolite.
Những ion phổ biến nhất đều dễ dàng trao đổi bằng zeolite. Tuy nhiên, zeolite có hệ thống lỗ rỗng với kích thước phân tử đồng đều và xác định nên sự trao đổi ion cũng có tính chọn lọc, gọi là hiệu ứng lưới. Hiệu ứng lưới này chỉ cho các ion có kích thước bé hơn hay bằng kích thước của lỗ rỗng trao đổi qua zeolite. Zeolite A Vòng 12 cạnh Vòng 6 cạnh đôi Vòng 8 Vòng trung tâm của Faujasite Cấu trúc cơ bản của Zeolite A Cấu trúc khung của zeolite họ Faujasite Cấu trúc hình khối của Zeolite A Khối liên kết của zeolite A Hình 1.
Hình thái cấu trúc của Zeolite A. [49] 9 Zeolite A, thuộc họ Faujasite và có công thức hóa học Na12Al12Si12O48.27 H2O, là một trong những loại zeolite được sử dụng phổ biến. Zeolite A cũng là một trong những loại zeolite nổi tiếng được tổng hợp từ tro bay, bên cạnh các zeolite X, Y, Na-P1,… (Bảng 1. Zeolite A là một trong những loại zeolite tổng hợp từ tro bay có dung lượng trao đổi cation (CEC) cao nhất (4,7 meg/g), xấp xỉ với với nhựa trao đổi ion trên thị trường hiện nay (khoảng 4,90 meq/g).
Zeolite A là loại có đường kính mao quản nhỏ (0,35-0,45 Å), có cấu trúc bát diện cụt với 8 mặt lục giác, 6 mặt hình vuông, 24 tâm (Si hoặc Al) và 36 cạnh (48 nguyên tử O), gọi là các đơn vị solidate. Zeolite A có cấu trúc hình khối (Hình 1. Tính chất một số loại zeolite từ tro bay có khả năng trao đổi ion cao [47] CEC Kích cỡ lỗ Thể tích lỗ Trọng lượng Loại zeolite (meq/g) (Å) trống (%) riêng (g/ml) X/Linde X 5 7,3 50 1,93 Clinoptilolite-8R 2,54 3,9-5,4 39 2,16 Laumontite 4,25 4,6-6,0 34 2,20-2,30 Erionite 3,12 3,6-5,2 35 2,02-2,08 Mordenite 8R 2,29 2,6-5,7 28 2,12-2,15 A/Linde A 4,7 4,1 47 1,99 Y 3,12 7,3 - - Na-P1 2,7 3,1x4,5/2,8x4,8 - - Chabazite 3,81 3,7-4,2 47 2,05-2,10 Herschelite 2,1 3,5 - - 1. Đặc trưng của tro bay từ nhà máy nhiệt điện than Tro bay thường có màu xám, có tính mài mòn, chủ yếu là các chất kiềm, và là vật liệu chịu lửa trong tự nhiên.
Thành phần hóa học của tro như tỷ lệ silic dioxit (SiO2) cao, từ 60–65 %, nhôm oxit (Al2O3) từ 25-30 %, magnetit (Fe3O4) và hematit (Fe2O3) từ 6–15 % cho phép sử dụng tổng hợp zeolite, phèn và silic kết tủa. Các đặc tính hóa lý quan trọng khác của tro bay, như 10 mật độ khối lượng lớn, kích thước hạt, độ xốp, khả năng giữ nước và diện tích bề mặt làm cho nó phù hợp để sử dụng làm chất hấp phụ. Tro bay được phân thành 2 loại: C và F [21]. Tro bay loại C là sản phẩm của quá trình đốt cháy than subbitum (hay còn gọi là than á bitum, than non, than nâu) có tổng hàm lượng các silic dioxit, nhôm oxit và sắt oxit lớn hơn 50 %, trong khi đó tro bay loại F là sản phẩm của quá trình đốt cháy than bitum (than mỡ) với tổng hàm lượng các oxit này chiếm hơn 70 %.
Thông thường tro bay loại C chứa 20–50 % SiO2, 15–20 % Al2O3, 5–10 % Fe2O3. Trong khi đó, tro bay loại F chứa khoảng 45–65 % SiO2, 20–30 % Al2O3, 4– 20 % Fe2O3 [18-19], [61-62]. Các thành phần trên trong tro bay phần lớn tồn tại ở pha vô định hình, ngoài ra, chúng còn nằm trong bốn loại khoáng là quartz, mullite, magnetit, and hematit. Kết quả phân tích thành phần pha của một số loại tro bay được trình bày trong Bảng 1.
Thành phần pha của một số loại tro bay Nguồn tro Loại Thành phần pha (%) bay than* Thủy Quartz Mullite Magnetit Hematit LOI** tinh (%) 1 B 72,1 4,0 12,6 6,2 1,6 3,5 4 B 70,1 3,2 3,3 17,2 4,7 1,5 5 B 55,6 6,2 19,8 5,6 3,1 9,7 6 B 54,2 8,3 23,5 4,4 2,1 7,5 7 SB 90,2 2,9 6,1 - - 0,8 8 SB 83,9 4,1 10,2 - 1,4 0,4 9 SB 79,8 8,7 11,5 - - 0,8 10 L 94,5 4,6 - - - 0,9 *: B, than bitum; SB, than á bitum; L, than lignite **: LOI: hàm lượng mất khi nung (loss on ignition) Than sử dụng tại các nhà máy điện than (NMĐT) tại Việt Nam chủ yếu gồm 02 loại: Than antraxit nội địa (cám 5a, 5b và 6a, 6b) và than nhập từ Indonesia, Úc (hỗn hợp than bitum và á bitum). Đặc trưng tro bay phát sinh từ 11 một số NMĐT tại Việt Nam được trình bày ở Bảng 1. Thành phần SiO2 + Al2O3 + Fe2O3 (%) trong các loại tro này cho thấy đây đều là tro bay loại F. Thành phần của một số loại tro bay từ các NMĐT tại Việt Nam NMĐT NMĐT NMĐT NMĐT NMĐT DH3 Tên chỉ tiêu Vĩnh Tân Phả Lại Phả Lại DH1 [11] [11] 2 [10] [7] [7] Than bitum và á Cám 6a Cám 5 nội Cám 6a Cám 5 Loại than bitum, nhập từ nội địa địa nội địa nội địa Indonesia SiO2 (%) 58,61 62,75 55,7 46,4 53,2 Al2O3 (%) 26,61 13,20 23,1 22 24,2 Fe2O3 (%) 6,55 3,23 6,1 15,6 6,38 SiO2 + Al2O3 + 86,5 79,2 84,9 84,0 83,8 Fe2O3 (%) Bảng 1.