MỞ ĐẦU Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần nâng cao cuộc sống vật chất tinh thần của con ngƣời nhƣng cũng tác động đến toàn bộ môi trƣờng tự nhiên của hành tinh chúng ta. Việc phát triển quá nhanh sẽ dẫn đến hệ lụy là cạn kiệt các nguồn tài nguyên, giảm sút chất lƣợng môi trƣờng sống và ảnh hƣởng đến cuộc sống, sức khỏe con ngƣời và cả hệ sinh thái. Môi trƣờng chất lƣợng nƣớc đƣợc xem là nguồn sống đang bị tác đông mạnh mẽ do sự phát triển kinh tế không bền vững, đặc biệt do các chất độc hại do nền công nghiệp tạo ra. Điển hình nhƣ các ngành công nghiệp cao su, hóa chất, công nghiệp thực phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, y dƣợc, luyện kim, xi mạ, giấy, đặc biệt là ngành dệt nhuộm đang phát triển mạnh mẽ và chiếm kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam.
Ngành dệt nhuộm đã phát triển từ rất lâu trên thế giới nhƣng nó chỉ mới hình thành và phát triển hơn 100 năm nay ở nƣớc ta. Ngành dệt may thu hút nhiều lao động góp phần giải quyết việc làm và phù hợp với những nƣớc đang phát triển không có nền công nghiệp nặng phát triển mạnh nhƣ nƣớc ta. Hầu hết các nhà máy xí nghiệp dệt nhuộm ở nƣớc ta đã có hệ thống xử lý nƣớc thải tuy nhiên nƣớc thải sau khi xử lý thì độ màu vẫn chƣa đạt QCVN 13: 2008/BTNMT loại A dƣới 50 Pt-Co đối với nhà máy xây dựng cũ và dƣới 20 Pt-Co đối với nhà máy mới. Nguyên nhân do trong thành phần thuốc nhuộm chứa một số hợp chất hữu cơ bền khó phân hủy sinh học POPs nên hiệu quả xử lý không triệt để.
Nghiên cứu, xử lý nƣớc thải có chứa phầm nhuộm hữu cơ khó phân hủy là một vấn đề rất quan trọng nhằm loại bỏ hết các chất này trƣớc khi xả ra môi trƣờng, bảo vệ con ngƣời và môi trƣờng sinh thái. Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu và sử dụng các phƣơng pháp khác nhau nhằm xử lý các hợp chất hữu cơ độc hại trong nƣớc thải nhƣ: phƣơng pháp vật lý, phƣơng pháp sinh học, phƣơng pháp hoá học, phƣơng pháp điện hoá. Hấp phụ là một trong những phƣơng pháp hóa lý phổ biến và hiệu quả để khử màu nhuộm. Nhiều loại chất hấp phụ khác nhau đƣợc biết đến trong ứng 1 dụng này nhƣ than hoạt tính, zeolit, tro than, chitin và chitosan, v.
Một trong số chất hấp phụ đƣợc dùng nhiều nhất là than hoạt tính bởi nó có dung lƣợng hấp phụ chất hữu cơ cao. ật thể ở kích thƣớc nano có những tính chất không thể tin đƣợc.các kim loại đƣợc xem nhƣ trơ nhất trong các kim loại lại có những tính chất không thể ngh đến, đặc biệt khi phân bố trên các chất mang là oxit kim loại Khi đạt đến kích cỡ nano,các kim loại chuyển tiếp có khả năng hoạt động rất mạnh. Những hoạt tính ở kích cỡ thông thƣờng kim loại không thể hiện, nhƣ khả năng diệt khuẩn, xúc tác ở nhiệt độ thƣờng. Từ quan điểm này chúng ta hƣớng tới đề tài “nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano BiFeO3 trên nền than hoạt tính để xử lý phẩm màu hữu cơ trong nƣớc thải dệt nhuộm.” 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về ngành dệt nhuộm 1. Thuốc nhuộm Thuốc nhuộm là những chất hữu cơ có màu, hấp thụ mạnh một phần nhất định của quang phổ ánh sáng nhìn thấy và có khả năng gắn kết vào vật liệu dệt trong những điều kiện quy định (tính gắn màu). Thuốc nhuộm có thể có nguồn gốc thiên nhiên hoặc tổng hợp. Hiện nay con ngƣời hầu nhƣ chỉ sử dụng thuốc nhuộm tổng hợp.
Đặc điểm nổi bật của các loại thuốc nhuộm là độ bền màu và tính chất không bị phân hủy. Màu sắc của thuốc nhuộm có đƣợc là do cấu trúc hóa học: một cách chung nhất, cấu trúc thuốc nhuộm bao gồm nhóm mang màu và nhóm trợ màu. Nhóm mang màu là những nhóm chứa các nối đôi liên hợp với hệ điện tử không cố định nhƣ: >C = C C = N -, -N = N -, -NO2 … Nhóm trợ màu là những nhóm thế cho hoặc nhận điện tử nhƣ: -NH2, -COOH, - SO3H, -OH…đóng vai trò tăng cƣờng màu của nhóm mang màu bằng cách dịch chuyển năng lƣợng của hệ điện tử. Khái quát về một số loại thuốc nhuộm Thuốc nhuộm rất đa dạng về thành phần hóa học, màu sắc, phạm vi sử dụng.
Có 2 cách phân biệt thuốc nhuộm cơ bản: - Theo cấu tạo hóa học: Thuốc nhuộm azo, thuốc nhuộm antraquinon, thuốc nhuộm polymetyn, thuốc nhuộm inđigoit, thuốc nhuộm lƣu huỳnh, thuốc nhuộm arylmetan. - Theo cách thức sử dụng: thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm hoạt tính, thuốc nhuộm bazơ – cation. Để hiểu rõ hơn về thuốc nhuộm chúng tôi xin trình một vài loại thuốc nhuộm cơ bản: Thuốc nhuộm azo: trong phân tử thuốc nhuộm này có một hoặc nhiều nhóm azo (-N=N-).Và phân tử thuốc nhuộm có một nhóm azo là monaazo, có hai nhóm azo là diazo và có nhiều nhóm azo là tri và polyazo. 3 Thuốc nhuộm azo đƣợc sản xuất nhiều, chiếm 50% tổng sản lƣợng thuộc nhuộm.
Thuốc nhuộm trực tiếp: Là loại thuốc nhuộm anion có dạng tổng quát Ar – SO3Na. Khi hoà tan trong nƣớc nó phân ly cho về dạng anion thuốc nhuộm và bắt màu vào sợi trực tiếp nhờ các lực hấp phụ trong môi trƣờng trung tính hoặc môi trƣờng kiềm. Trong tổng số thuốc nhuộm trực tiếp thì có 92% thuốc nhuộm azo. Thuốc nhuộm phân ly: Ar-SO3Na Ar-SO3- + Na+ (1.1) Thuốc nhuộm bazơ cation: Các thuốc nhuộm bazơ dễ nhuộm tơ tằm, bông cầm màu bằng tananh.
Là các muối clorua, oxalat hoặc muối kép của bazơ hữu cơ chúng dễ tan trong nƣớc, khi hòa tan phân ly thành cation là các ion mang màu, còn anion là các ion không mang màu. Trong các màu 7 thuốc nhuộm bazơ, các lớp hoá học đƣợc phân bố: azo (43%), metin (17%), triazylmetan (11%), arycydin (7%), antriquinon (5%) và các loại khác. Thuốc nhuộm axit: là muối của axit mạnh và bazơ mạnh nên khi hòa tan vào nƣớc thì phân ly thành các ion: Ar-SO3Na Ar-SO3 - + Na+ Các ion mang màu của thuốc nhuộm tích điện âm (Ar-SO3-) sẽ hấp phụ vào các tâm tích điện dƣơng của vật liệu. Thuốc nhuộm axit có khả năng tự nhuộm màu xơ sợi protein (len, tơ tằm, polyamit) trong môi trƣờng axit.
Xét về cấu tạo hóa học có tới 79% là thuốc nhuộm azo, 10% antraquimon, 5% là triarylmetan và 6% là các loại khác. Chúng tôi giới thiệu về những loại thuốc nhuộm sử dụng trong bài báo cáo: Methylen Xanh Công thức phân tử: C16H18N3ClS (M= 373,9g/mol) Methylen xanh là chất đƣợc ứng dụng trong nhiều l nh vực khác nhau, nhất là trong sinh học và hóa học. Tinh thể methylen xanh có màu xanh lá cây thẫm có ánh đồng đỏ hoặc bột nhỏ màu xanh lá cây thẫm. Khó tan trong nƣớc lạnh và rƣợu etylic, khi đun nóng thì tan dễ hơn.
Ở nhiệt độ phòng, nó tồn tại ở 4 dạng rắn không mùi, màu xanh đen, khi hòa tan vào nƣớc hình thành dung dịch màu xanh lam, methylen xanh hấp thụ cực đại ở bƣớc sóng 660nm. Methylen xanh là một phẩm nhuộm mang màu trong đó cƣờng độ màu tỷ lệ với nồng độ của chất này trong dung dịch. Trong nghiên cứu này, methylen xanh đƣợc chọn nhƣ một hợp chất gây ô nhiễm nguồn nƣớc để khảo sát khả năng quang hóa xúc tác chính. Congo đỏ Công thức phân tử: C32H22N6Na2O6S2 (M= 696,6g/mol) Congo đỏ là thuốc nhuộm diazo.
Congo đỏ tan trong nƣớc và tốt hơn trong các dung môi hữu cơ nhƣ ethanol… Thay đổi màu sắc theo pH, ở pH dƣới 3 dung dịch congo đỏ có màu xanh và ở pH trên 5.2 dung dịch có màu đỏ. Bƣớc sóng hấp thu cực đại là 498nm. Orange cam Công thức phân tử: C16H10N2Na2O7S2 (M=452,3g/mol) Orange cam là thuốc nhuộm monoazo đƣợc sử dụng nhuộm vật liệu sinh học, giấy, gỗ… Bƣớc sóng hấp thu cực đại là 482nm. Nƣớc thải dệt nhuộm 1.
Nguồn phát sinh nước thải dệt nhuộm Các chất ô nhiễm chủ yếu có trong nƣớc thải dệt nhuộm là thuốc nhuộm, chất hoạt động bề mặt, các hợp chất halogen hữu cơ, muối trung tính làm tăng tổng hàm lƣợng chất rắn, nhiệt độ cao và pH của nƣớc thải cao do lƣợng kiềm lớn. Trong đó, thuốc nhuộm là thành phần khó xử lý nhất, chứa các hợp chất hữu cơ khó phân hủy. Thuốc nhuộm là những chất hữu cơ có màu, hấp thụ mạnh một phần nhất định của quang phổ ánh sáng nhìn thấy và có khả năng gắn kết vào vật liệu dệt trong những điều kiện nhất định (tính gắn màu). Thuốc nhuộm có thể có nguồn gốc thiên nhiên hoặc tổng hợp.
Hiện nay, con ngƣời hầu nhƣ chỉ sử dụng thuốc nhuộm tổng hợp. Đặc điểm nổi bật của các loại thuốc nhuộm là độ bền màu - tính chất không bị phân hủy bởi những điều 5 kiện, tác động khác nhau của môi trƣờng, đây vừa là yêu cầu với thuốc nhuộm, vừa là thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, nhƣng cũng là vấn đề với xử lý nƣớc thải dệt nhuộm. Màu sắc của thuốc nhuộm có đƣợc là do cấu trúc hóa học của nó: một cách chung nhất, cấu trúc thuốc nhuộm bao gồm nhóm mang màu và nhóm trợ màu. Nhóm mang màu là những nhóm chứa các nối đôi liên hợp với hệ điện tử π linh động nhƣ >C=CC=N- , >C=O, -N=N-.
Nhóm trợ màu là những nhóm thế cho hoặc nhận điện tử, nhƣ - SO¬H, -COOH, -OH, NH2., đóng vai trò tăng cƣờng màu của nhóm mang màu bằng cách dịch chuyển năng lƣợng của hệ điện tử. [3,7] Thông thƣờng, các chất màu có trong thuốc nhuộm không bám dính hết vào sợi vải trong quá trình nhuộm mà còn lại một lƣợng dƣ nhất định tồn tại trong nƣớc thải. Lƣợng thuốc nhuộm dƣ sau công đoạn nhuộm có thể lên đến 50 % tổng lƣợng thuốc nhuộm đƣợc sử dụng ban đầu. Đây chính là nguyên nhân làm cho nƣớc thải dệt nhuộm có độ màu cao và nồng độ chất ô nhiễm lớn.
Thành phần, đặc điểm nước thải dệt nhuộm Nƣớc thải dệt nhuộm là sự tổng hợp nƣớc thải phát sinh từ tất cả các công đoạn hồ sợi, nấu tẩy, tẩy trắng, làm bóng sợi, nhuộm in và hoàn tất. Theo phân tích của các chuyên gia, trung bình, một nhà máy dệt nhuộm sử dụng một lƣợng nƣớc đáng kể, trong đó, lƣợng nƣớc đƣợc sử dụng trong các công đoạn sản xuất chiếm 72,3%, chủ yếu là trong công đoạn nhuộm và hoàn tất sản phẩm. Xét hai yếu tố là lƣợng nƣớc thải và thành phần các chất ô nhiễm trong nƣớc thải, ngành dệt nhuộm đƣợc đánh giá là ô nhiễm nhất trong số các ngành công nghiệp .