Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hóa học các hợp chất dị vòng là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh và chiếm vị trí quan trọng trong hóa học hữu cơ nhờ phạm vi ứng dụng rộng lớn trong y dược, nông nghiệp và kỹ thuật vật liệu. Trong số các hệ dị vòng thơm năm cạnh, dị vòng 1,2,4-triazole thu hút sự quan tâm nghiên cứu lớn về mặt lý thuyết cấu trúc cũng như khả năng tạo ra các hoạt tính sinh học giá trị. Nhiều dẫn xuất chứa nhân 1,2,4-triazole đã được ứng dụng trong nông nghiệp làm chất kháng khuẩn, thuốc diệt nấm, thuốc kích thích hoặc ức chế sinh trưởng cây trồng; trong kỹ thuật làm chất ổn định nhũ tương, chất làm bền chất dẻo và phụ gia chống ăn mòn; trong y học với các đặc tính kìm hãm enzyme cholinesterase hay cản trở quá trình nguyên phân của tế bào. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu phát triển các quy trình tổng hợp mới nhằm tạo ra các dẫn xuất 1,2,4-triazole đa chức năng từ nguồn nguyên liệu ban đầu phổ biến vẫn là một hướng nghiên cứu cần thiết và có giá trị thực tiễn.

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân hóa học của tác giả Đinh Thị Xuân Mai (người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Tiến Công, thực hiện tại Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành vào tháng 05/2007) tập trung giải quyết các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Tổng hợp một số hợp chất chứa dị vòng 1,2,4-triazole từ nguyên liệu ban đầu là o-crezol và m-crezol.
  2. Bước đầu nghiên cứu một số tính chất vật lý cũng như tính chất phổ của các hợp chất tổng hợp được.
  3. Sử dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$), phổ tương quan hai chiều HMBC và HSQC (HMQC) để phân tích và chứng minh vị trí xảy ra sự ngưng tụ tạo hiđrazit N-thế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

  • Đối tượng nghiên cứu: Dãy các hợp chất trung gian và dẫn xuất dị vòng mới bao gồm este tolyloxiaxetat, tolyloxiaxetohiđrazit, 4-amino-5-tolyloximetyl-1,2,4-triazol-3-thiol, este etyl [4-amino-5-tolyloximetyl-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]axetat, [4-amino-5-tolyloximetyl-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]axetohiđrazit và các hiđrazit N-thế ngưng tụ với các anđehit thơm (benzanđehit, 4-metoxibenzanđehit, 4-đimetylaminobenzanđehit, 4-nitrobenzanđehit) hoặc xeton (menthon).
  • Phạm vi thực hiện: Quá trình tổng hợp thực nghiệm và đo nhiệt độ nóng chảy được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Hóa hữu cơ, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Phổ hồng ngoại (FT-IR) được đo tại Phòng máy Trung tâm, Khoa Dược, Trường Đại học Y Dược TP.HCM. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, HMBC, HSQC) được ghi nhận tại Phòng Phổ cộng hưởng từ hạt nhân, Viện Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia Việt Nam (Hà Nội).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của khóa luận dựa trên lý thuyết cấu trúc và cơ chế phản ứng của các hợp chất dị vòng thơm năm cạnh chứa ba nguyên tử nitơ:

  • Cấu trúc và cân bằng hỗ biến: Dị vòng 1,2,4-triazole có cấu trúc phẳng, tạo thành từ 2 nguyên tử cacbon và 3 nguyên tử nitơ ở trạng thái lai hóa $sp^2$, có 6 electron $\pi$ định phi tuân theo quy tắc Hückel ($4n+2$). Vòng tồn tại ở hai dạng cấu trúc hỗ biến $1H$ và $4H$ với năng lượng cộng hưởng trong khoảng $83,7 - 205,9\text{ kJ/mol}$ và $pK_a = 2,19$. Đối với các dẫn xuất 4-amino-3-aryl/ankyl-1,2,4-triazol-5-thiol, tồn tại cân bằng hỗ biến thiol – thion (dạng $-\text{SH}$ và $-\text{C}=\text{S}$).
  • Cơ chế phản ứng hữu cơ: Phản ứng thế nucleophin lưỡng phân tử ($S_N2$) của ion phenolat hoặc mecaptat vào hợp chất etylcloroaxetat; phản ứng cộng – tách nucleophin vào nhóm cacbonyl ($A_N(\text{CO})$) giữa este với hiđrazin hiđrat; phản ứng ngưng tụ đóng vòng tạo dị vòng triazole theo phương pháp của Reid qua muối kali dithiocacbazat trung gian; phản ứng ngưng tụ tạo liên kết azomethine ($-\text{C}=\text{N}-$) giữa nhóm amino bậc một của hiđrazit với các nhóm cacbonyl của anđehit/xeton.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phân tích cấu trúc được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp tổng hợp hữu cơ: Kỹ thuật đun hồi lưu (reflux) có kiểm soát nhiệt độ, khuấy từ liên tục, chiết lỏng – lỏng phân tách pha este, làm khan dung môi bằng $\text{CaCl}_2$, cô quay đuổi dung môi dưới áp suất thấp, kết tinh lại phân đoạn trong các hệ dung môi thích hợp (etanol, benzen, hỗn hợp etanol – nước tỉ lệ 4:1, etanol – đioxan, đioxan).
  • Phương pháp đo hằng số vật lý: Đo nhiệt độ nóng chảy của các chất rắn trên máy đo điểm nóng chảy SMP3.
  • Phương pháp quang phổ học: Phổ hồng ngoại (IR) đo dạng viên nén $\text{KBr}$ trên máy Hyper IR; Phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$) và phổ tương quan hai chiều (HMBC, HSQC/HMQC) ghi trên máy Bruker sử dụng dung môi DMSO-$d_6$ với chất chuẩn nội tetrametylsilan (TMS).

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Tổng quan

Phần Tổng quan hệ thống hóa toàn diện các dữ liệu khoa học về dị vòng 1,2,4-triazole:

  • Cấu trúc, tính chất lý hóa và phổ: Cung cấp thông số cấu trúc phân tử (độ dài liên kết, góc liên kết đo ở $-160^\circ\text{C}$), tính chất thơm, tính bazơ, năng lượng cộng hưởng thực nghiệm so sánh với pyrazole ($112,1 - 173,6\text{ kJ/mol}$) và tetrazole ($231,0 - 264,0\text{ kJ/mol}$). Phân tích các vùng phổ đặc trưng: phổ UV có vân hấp thụ gần $210\text{ nm}$; phổ IR có dao động hóa trị $\text{C}=\text{N}$ thơm trong vùng rộng $1520 - 1630\text{ cm}^{-1}$, dao động $\text{N}-\text{H}$ ở $3100 - 3360\text{ cm}^{-1}$, nhóm $\text{C}=\text{S}$ ở $1180 - 1319\text{ cm}^{-1}$ và nhóm $-\text{SH}$ ở $2500 - 2600\text{ cm}^{-1}$; phổ $^1\text{H-NMR}$ thể hiện tín hiệu proton vòng triazole ở trường yếu hơn proton nhân benzen do độ âm điện lớn của nitơ.
  • Khả năng phản ứng hóa học: Tổng kết các phản ứng thế electrophin vào nhân triazole (nhân trung hòa tương đối trơ do bị khử hoạt tính, nhưng ion triazolat phản ứng thuận lợi); phản ứng alkyl hóa/axyl hóa trên các vị trí $\text{N}-1$, $\text{N}-2$, $\text{N}-4$ hoặc trên nguyên tử lưu huỳnh $\text{S}$; phản ứng thế nucleophin vào cacbon; các phản ứng chuyển hóa nhóm chức trên mạch nhánh (amino, mecapto, cacboxyl, nitro).
  • Các phương pháp tổng hợp: Phân tích các lộ trình đóng vòng từ hợp chất mạch hở (phương pháp dẫn xuất hiđrazin, phương pháp nitrilimin của Huisgen, phương pháp cải tiến của Reid từ axylhiđrazin qua muối dithiocacbazat) và các chuyển hóa từ các hệ dị vòng khác như 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, tetrazine, oxathiađiazine, benzoxazine.
  • Ứng dụng thực tiễn: Trình bày chi tiết vai trò của 1,2,4-triazole trong hóa phân tích (thuốc thử Nitron định lượng $\text{NO}_3^-$, $\text{B}$, $\text{Re}$, $\text{W}$; thuốc thử so màu định lượng $\text{Co}$, $\text{Rh}$, $\text{Pt}$, $\text{Cu}$); xúc tác tổng hợp peptit (tăng tốc độ ngưng tụ glycin thành triglycin lên 10-20 lần); nông nghiệp (thuốc trừ cỏ 3-amino-1,2,4-triazole, thuốc diệt nấm 4-butyl-1,2,4-triazole); chế tạo sợi và màng polymer chịu nhiệt; phụ gia chống oxy hóa và chống ăn mòn cho dầu bôi trơn.

Phần II: Thực nghiệm

Phần Thực nghiệm mô tả chi tiết quy trình tổng hợp qua 5 giai đoạn liên hoàn và phương pháp phân tích:

  • Giai đoạn 1 (Tổng hợp tolyloxiaxetohiđrazit $A_1, A_2$): Cho $o$-crezol ($16,2\text{ g}$, $\sim 0,15\text{ mol}$) hoặc $m$-crezol phản ứng với etylcloroaxetat ($14,62\text{ ml}$) với sự có mặt của $\text{K}_2\text{CO}_3$ ($30\text{ g}$) trong axeton khan ($160\text{ ml}$), đun hồi lưu và khuấy từ trong 6 giờ. Dịch chiết este lỏng màu đỏ sậm tiếp tục phản ứng với hiđrazin hiđrat $50%$ trong etanol, thu được $13,45\text{ g}$ $o$-tolyloxiaxetohiđrazit $A_1$ (tinh thể hình kim màu trắng, nhiệt độ nóng chảy $121^\circ\text{C}$) và $13,00\text{ g}$ $m$-tolyloxiaxetohiđrazit $A_2$ (tinh thể hình kim màu trắng, nhiệt độ nóng chảy $105^\circ\text{C}$).
  • Giai đoạn 2 (Đóng vòng dị vòng 1,2,4-triazole $B_1, B_2$): Cho hiđrazit $A_1$ ($24,13\text{ g}$, $\sim 0,134\text{ mol}$) hoặc $A_2$ tác dụng với $\text{CS}_2$ ($13,4\text{ ml}$) trong dung dịch $\text{KOH}$ ($7,5\text{ g}$) và etanol ($268\text{ ml}$) ở nhiệt độ phòng trong 30 phút để tạo muối kali cacbazat ($A'_1, A'_2$). Hòa tan muối trong nước ($268\text{ ml}$), thêm hiđrazin hiđrat $50%$ ($40,2\text{ ml}$), đun hồi lưu 8 giờ đến khi dung dịch không màu trong suốt, sau đó axit hóa bằng axit axetic loãng. Thu được $5,87\text{ g}$ 4-amino-5-(o-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-thiol $B_1$ (nóng chảy $161,0 - 161,7^\circ\text{C}$) và $8,09\text{ g}$ 4-amino-5-(m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-thiol $B_2$ (nóng chảy $141,5^\circ\text{C}$).
  • Giai đoạn 3 (S-alkyl hóa tạo este $C_1, C_2$): Cho $B_1$ ($4,72\text{ g}$, $\sim 0,02\text{ mol}$) hoặc $B_2$ phản ứng với etylcloroaxetat ($2\text{ ml}$) khi có mặt $\text{K}_2\text{CO}_3$ ($4\text{ g}$) trong axeton khan ($22\text{ ml}$), đun hồi lưu 6 giờ. Tinh chế thu được $1,88\text{ g}$ este $C_1$ (chất rắn hình kim màu trắng, nóng chảy $103,6^\circ\text{C}$) và $1,76\text{ g}$ este $C_2$ (chất rắn hình kim màu vàng nhạt, nóng chảy $108,5^\circ\text{C}$).
  • Giai đoạn 4 (Tổng hợp axetohiđrazit $D_1, D_2$): Chuyển hóa este $C_1, C_2$ bằng phản ứng với hiđrazin hiđrat $50%$ tạo các hợp chất [4-amino-5-(o/m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]axetohiđrazit $D_1, D_2$.
  • Giai đoạn 5 (Tổng hợp các hiđrazit N-thế $E_1 \rightarrow E_7, F$): Ngưng tụ hiđrazit $D_1$ hoặc $D_2$ với các anđehit thơm (đun hồi lưu trong etanol 4 giờ) hoặc menthon (đun hồi lưu trong etanol 6 giờ) không cần chất xúc tác:
    • $E_1$: Ngưng tụ $D_1$ ($0,2\text{ g}$) với benzanđehit ($0,07\text{ ml}$), thu được $0,15\text{ g}$ chất rắn màu trắng, nhiệt độ nóng chảy $162,2 - 163,5^\circ\text{C}$.
    • $E_2$: Ngưng tụ $D_1$ ($0,2\text{ g}$) với 4-metoxibenzanđehit ($0,08\text{ ml}$), thu được $0,14\text{ g}$ chất rắn màu trắng, nhiệt độ nóng chảy $166,4 - 167,9^\circ\text{C}$.
    • $E_4$: Ngưng tụ $D_2$ ($0,2\text{ g}$) với benzanđehit ($0,07\text{ ml}$), thu được $0,16\text{ g}$ tinh thể hình kim màu trắng.
    • $E_5$: Ngưng tụ $D_2$ ($0,25\text{ g}$) với 4-metoxibenzanđehit ($0,1\text{ ml}$), thu được $0,34\text{ g}$ tinh thể hình kim màu trắng, nhiệt độ nóng chảy $178,8 - 179,8^\circ\text{C}$.
    • $E_6$: Ngưng tụ $D_2$ ($0,18\text{ g}$) với 4-đimetylaminobenzanđehit ($0,09\text{ g}$), thu được $0,16\text{ g}$ tinh thể hình kim màu vàng chanh, nhiệt độ nóng chảy $176,2 - 177,8^\circ\text{C}$.
    • $E_7$: Ngưng tụ $D_2$ ($0,2\text{ g}$) với 4-nitrobenzanđehit ($0,1\text{ g}$), thu được $0,10\text{ g}$ chất rắn màu vàng nhạt, nhiệt độ nóng chảy $186,0^\circ\text{C}$.
    • $F$: Ngưng tụ $D_1$ ($0,2\text{ g}$) với menthon ($0,1\text{ ml}$, $d = 0,894\text{ g/ml}$), thu được $0,16\text{ g}$ tinh thể hình kim màu trắng, nhiệt độ nóng chảy $167,0 - 168,0^\circ\text{C}$.

Phần III: Kết quả và thảo luận

Tác giả biện luận chi tiết cơ chế phản ứng, các yếu tố ảnh hưởng và dữ liệu phổ chứng minh cấu trúc:

  • Biện luận phản ứng tạo tolyloxiaxetohiđrazit ($A_1, A_2$): Phản ứng tạo este là phản ứng dị thể nên cần khuấy từ liên tục và đun hồi lưu 6 giờ; axeton là dung môi thích hợp nhất do dễ loại bỏ và tránh thủy phân este. Hiđrazin hiđrat được chia nhỏ làm nhiều đợt để tránh tạo môi trường quá kiềm gây thủy phân este. Nhiệt độ nóng chảy của $A_1$ ($121^\circ\text{C}$) và $A_2$ ($105^\circ\text{C}$) tăng vọt so với este ban đầu ở dạng lỏng.
  • Biện luận phản ứng khép vòng triazole ($B_1, B_2$): Phản ứng gồm 2 giai đoạn: tạo muối kali cacbazat (cộng nucleophin vào $\text{C}=\text{S}$ trong môi trường kiềm) và khép vòng khi đun với hiđrazin hiđrat (thế oxy của nhóm cacbonyl bằng nitơ theo cơ chế cộng – tách, đồng thời đóng vòng tách $\text{H}2\text{O}$ và $\text{KHS}$). Phổ IR của $B_1, B_2$ biến mất hoàn toàn vân hấp thụ $\text{C}=\text{O}$, xuất hiện dao động $\text{C}=\text{N}$ và $\text{C}=\text{C}{\text{thơm}}$ ở $1628 - 1580\text{ cm}^{-1}$. Đồng thời, sự xuất hiện đồng thời của vân $\text{N}-\text{H}$ ($3302 - 3150\text{ cm}^{-1}$), vân $\text{C}=\text{S}$ mạnh ($1311 - 1290\text{ cm}^{-1}$) và vân $\text{S}-\text{H}$ yếu ($2687 - 2550\text{ cm}^{-1}$) chứng minh $B_1, B_2$ tồn tại ở hai dạng hỗ biến thiol – thion.
  • Biện luận phản ứng S-alkyl hóa ($C_1, C_2$): Phản ứng tuân theo cơ chế thế nucleophin lưỡng phân tử $S_N2$. Sử dụng $\text{K}_2\text{CO}_3$ nhằm tạo môi trường bazơ và tăng tính nucleophin của ion mecaptat (do cation $\text{K}^+$ có bán kính lớn, mật độ điện tích nhỏ, làm liên kết $\text{Het-S}^-\text{K}^+$ phân ly tốt hơn $\text{Na}^+$ và $\text{Li}^+$). Phổ IR của $C_1, C_2$ cho thấy pic $-\text{SH}$ biến mất và xuất hiện vân hấp thụ $\text{C}=\text{O}$ este rất mạnh ở $1738 - 1736\text{ cm}^{-1}$, nhóm $-\text{NH}_2$ xuất hiện ở $3348 - 3128\text{ cm}^{-1}$.
  • Biện luận phản ứng tạo axetohiđrazit ($D_1, D_2$): Phản ứng $A_N(\text{CO})$ qua giai đoạn cộng $\text{NH}_2\text{NH}_2$ vào $\text{C}=\text{O}$ este rồi tách $\text{C}_2\text{H}_5\text{OH}$. Phổ IR cho thấy vân $\text{C}=\text{O}$ giảm mạnh về tần số thấp hơn ($1649 - 1624\text{ cm}^{-1}$) do tạo nhóm amide, xuất hiện vân sắc nhọn của nhóm $\text{N}-\text{H}$ ở $3325 - 3204\text{ cm}^{-1}$.
  • Biện luận phản ứng tạo hiđrazit N-thế ($E_1 \rightarrow E_7, F$): Phản ứng ngưng tụ cộng nucleophin vào nhóm cacbonyl của anđehit/xeton kèm tách nước. Phản ứng tự diễn ra thuận lợi mà không cần xúc tác axit/bazơ khi kéo dài thời gian phản ứng (4 giờ với anđehit, 6 giờ với menthon), đạt hiệu suất từ $40,0%$ đến $97,1%$. Trên phổ IR, pic $\text{C}=\text{O}$ dịch chuyển về vùng tần số cao hơn ($1705 - 1647\text{ cm}^{-1}$) do sự liên hợp của hệ phân tử mới.
  • Xác định vị trí ngưng tụ bằng phổ NMR: Do phân tử hiđrazit trung gian ($D_1, D_2$) chứa đồng thời hai nhóm có khả năng phản ứng là nhóm amino gắn trực tiếp trên nhân triazole ($4\text{-NH}_2$) và nhóm amino đầu mạch axetohiđrazit ($-\text{CONHNH}_2$), tác giả đã sử dụng phổ $^1\text{H-NMR}$ (đối với $E_3, E_4, E_5$) và phổ $^{13}\text{C-NMR}$, HMBC, HSQC/HMQC (đối với hợp chất $F$) để chứng minh phản ứng ngưng tụ chỉ xảy ra chọn lọc tại nhóm $-\text{CONHNH}_2$ tạo liên kết $-\text{CONHN}=\text{C}-$, trong khi nhóm $4\text{-NH}_2$ trên vòng triazole vẫn được giữ nguyên.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và đặc trưng đầy đủ tính chất của 14 hợp chất hữu cơ thuộc dãy dẫn xuất 1,2,4-triazole và các tiền chất trung gian.

Ký hiệu Tên hợp chất Nguyên liệu ban đầu Trạng thái, màu sắc Nhiệt độ nóng chảy ($^\circ\text{C}$)
$A_1$ o-Tolyloxiaxetohiđrazit o-Crezol Tinh thể hình kim màu trắng $121,0$
$A_2$ m-Tolyloxiaxetohiđrazit m-Crezol Tinh thể hình kim màu trắng $105,0$
$B_1$ 4-Amino-5-(o-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-thiol $A_1$ Tinh thể hình kim màu trắng $161,0 - 161,7$
$B_2$ 4-Amino-5-(m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-thiol $A_2$ Tinh thể hình kim màu trắng $141,5$
$C_1$ Este etyl [4-amino-5-(o-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]axetat $B_1$ Dạng rắn hình kim màu trắng $103,6$
$C_2$ Este etyl [4-amino-5-(m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]axetat $B_2$ Dạng rắn hình kim màu vàng nhạt $108,5$
$D_1$ [4-Amino-5-(o-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]axetohiđrazit $C_1$ Dạng rắn màu trắng Đã xác định phổ IR
$D_2$ [4-Amino-5-(m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]axetohiđrazit $C_2$ Dạng rắn màu trắng Đã xác định phổ IR
$E_1$ [4-Amino-5-(o-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]-$N'$-benzylidenaxetohiđrazit $D_1$ + Benzanđehit Dạng rắn màu trắng $162,2 - 163,5$
$E_2$ [4-Amino-5-(o-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]-$N'$-(4-metoxibenzyliden)axetohiđrazit $D_1$ + 4-Metoxibenzanđehit Dạng rắn màu trắng $166,4 - 167,9$
$E_4$ [4-Amino-5-(m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]-$N'$-benzylidenaxetohiđrazit $D_2$ + Benzanđehit Tinh thể hình kim màu trắng Đã xác định phổ IR, NMR
$E_5$ [4-Amino-5-(m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]-$N'$-(4-metoxibenzyliden)axetohiđrazit $D_2$ + 4-Metoxibenzanđehit Tinh thể hình kim màu trắng $178,8 - 179,8$
$E_6$ [4-Amino-5-(m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]-$N'$-(4-đimetylaminobenzyliden)axetohiđrazit $D_2$ + 4-Đimetylaminobenzanđehit Tinh thể hình kim màu vàng chanh $176,2 - 177,8$
$E_7$ [4-Amino-5-(m-tolyloximetyl)-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]-$N'$-(4-nitrobenzyliden)axetohiđrazit $D_2$ + 4-Nitrobenzanđehit Dạng rắn màu vàng nhạt $186,0$
$F$ Hiđrazit N-thế tạo từ $D_1$ và menthon $D_1$ + Menthon Tinh thể hình kim màu trắng $167,0 - 168,0$

Các đóng góp chính của công trình:

  • Đã xây dựng hoàn chỉnh quy trình thực nghiệm 5 bước điều chế dãy dẫn xuất chứa dị vòng 1,2,4-triazole đi từ nguyên liệu sẵn có trong nước (o-crezol và m-crezol).
  • Xác định điều kiện tối ưu để phản ứng ngưng tụ giữa axetohiđrazit mang nhân triazole với các hợp chất cacbonyl diễn ra thuận lợi mà không cần dùng xúc tác axit/bazơ, đạt hiệu suất cao ($40,0 - 97,1%$).
  • Sử dụng kết hợp các kỹ thuật phổ hiện đại ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, HMBC, HSQC/HMQC) để chứng minh vị trí phản ứng ngưng tụ xảy ra chọn lọc trên nhóm chức axetohiđrazit thay vì nhóm $4\text{-NH}_2$ của nhân triazole.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài (dựa trên phạm vi thực tế được trình bày trong văn bản):

  • Đề tài mới dừng lại ở bước tổng hợp hữu cơ thực nghiệm và xác định cấu trúc lý hóa; chưa tiến hành thử nghiệm đánh giá hoạt tính sinh học thực tế (kháng nấm, kháng khuẩn, ức chế enzyme hoặc thử nghiệm điều hòa sinh trưởng thực vật) của các sản phẩm tạo thành.
  • Do điều kiện phân tích, phổ hai chiều (HMBC, HSQC) mới chỉ được thực hiện trên hợp chất đại diện $F$ và phổ $^1\text{H-NMR}$ trên một số chất đại diện ($E_3, E_4, E_5$), chưa đo phổ NMR cho toàn bộ các dẫn xuất còn lại.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học và hoạt tính bảo vệ thực vật của các dẫn xuất hiđrazit N-thế ($E_1 \rightarrow E_7, F$) và dẫn xuất triazole-thiol ($B_1, B_2$).
  • Tiếp tục mở rộng tổng hợp các dẫn xuất mới với các anđehit dị vòng khác hoặc các hợp chất xeton tự nhiên nhằm làm phong phú ngân hàng cấu trúc.
  • Khảo sát khả năng tạo phức phối trí của các phối tử chứa dị vòng 1,2,4-triazole-3-thiol với các ion kim loại chuyển tiếp phục vụ nghiên cứu hóa học phức chất và phân tích.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa Dược và Công nghệ Tổng hợp Hóa học.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Quy trình thực nghiệm chi tiết về phản ứng đóng vòng tạo dị vòng 1,2,4-triazole-3-thiol theo phương pháp Reid cải tiến.
    • Phương pháp kiểm soát phản ứng thế nucleophin chọn lọc trên nguyên tử lưu huỳnh ($S\text{-alkyl hóa}$) và kỹ thuật điều chế este/hiđrazit trong môi trường kiểm soát dung môi nghiêm ngặt.
    • Phương pháp luận quy kết và phân tích dữ liệu phổ hồng ngoại (IR), phổ cộng hưởng từ hạt nhân đa chiều (HMBC, HSQC) để giải quyết bài toán chọn lọc vị trí phản ứng (regioselectivity) giữa hai nhóm amino cạnh tranh trong cùng một phân tử.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài sử dụng nguyên liệu khởi đầu nào và trải qua mấy giai đoạn để tổng hợp các dẫn xuất hiđrazit N-thế chứa dị vòng 1,2,4-triazole?
Khóa luận sử dụng nguyên liệu ban đầu là o-crezol và m-crezol, trải qua chuỗi chuyển hóa 5 giai đoạn liên tiếp: (1) Tổng hợp este tolyloxiaxetat và chuyển thành tolyloxiaxetohiđrazit ($A_1, A_2$); (2) Đóng vòng tạo 4-amino-5-tolyloximetyl-1,2,4-triazol-3-thiol ($B_1, B_2$); (3) $S\text{-alkyl hóa}$ tạo este etyl [4-amino-5-tolyloximetyl-1,2,4-triazol-3-ylsunfanyl]axetat ($C_1, C_2$); (4) Hiđrazin phân tạo axetohiđrazit ($D_1, D_2$); (5) Ngưng tụ với các anđehit thơm hoặc menthon tạo các hiđrazit N-thế ($E_1 \rightarrow E_7, F$).

2. Phổ hồng ngoại (IR) đã cung cấp bằng chứng nào chứng minh dạng hỗ biến của hợp chất 4-amino-5-tolyloximetyl-1,2,4-triazol-3-thiol ($B_1, B_2$)?
Trên phổ IR của $B_1, B_2$, sự biến mất hoàn toàn của pic $\text{C}=\text{O}$ cùng với sự xuất hiện đồng thời của vân $\text{N}-\text{H}$ ($3302 - 3150\text{ cm}^{-1}$), vân $\text{C}=\text{S}$ cường độ mạnh ($1311 - 1290\text{ cm}^{-1}$) và vân $\text{S}-\text{H}$ cường độ yếu ở vùng $2687 - 2550\text{ cm}^{-1}$ chứng minh các hợp chất này tồn tại ở cả hai dạng hỗ biến thiol ($-\text{SH}$) và thion ($-\text{C}=\text{S}$).

3. Vì sao phản ứng S-alkyl hóa tạo este $C_1, C_2$ sử dụng $\text{K}_2\text{CO}_3$ trong dung môi axeton khan?
$\text{K}_2\text{CO}_3$ được dùng để tạo môi trường kiềm nhằm chuyển nhóm mecapto thành anion mecaptat ($\text{Het-S}^-$), làm tăng tính nucleophin. Cation $\text{K}^+$ có bán kính lớn hơn $\text{Li}^+$ và $\text{Na}^+$, mật độ điện tích nhỏ nên liên kết $\text{Het-S}^-\text{K}^+$ kém bền, giúp nồng độ tác nhân nucleophin tự do trong dung dịch cao hơn. Axeton khan được chọn làm dung môi vì có độ phân cực lớn giúp tăng phân ly ion, tan tốt trong nước giúp dễ dàng tinh chế loại bỏ sau phản ứng, đồng thời tránh sự có mặt của nước gây thủy phân este.

4. Dựa vào cơ sở nào tác giả khẳng định phản ứng ngưng tụ với anđehit/xeton chỉ xảy ra ở nhóm $-\text{CONHNH}_2$ mà không xảy ra ở nhóm $4\text{-NH}_2$ của nhân triazole?
Tác giả sử dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân $^1\text{H-NMR}$ (trên các chất $E_3, E_4, E_5$) và phổ $^{13}\text{C-NMR}$, HMBC, HSQC/HMQC (trên hợp chất phức tạp $F$). Các tín hiệu tương quan trên phổ 2 chiều chứng minh vị trí tạo liên kết azomethine ($-\text{CONHN}=\text{C}-$) nằm trên chuỗi axetohiđrazit, trong khi tín hiệu của nhóm amino bậc một ($4\text{-NH}_2$) gắn trực tiếp trên nhân triazole vẫn được bảo toàn nguyên vẹn.

5. Hiệu suất tổng hợp các dẫn xuất hiđrazit N-thế đạt bao nhiêu và phản ứng có cần chất xúc tác không?
Các phản ứng ngưng tụ tạo hiđrazit N-thế ($E_1 \rightarrow E_7, F$) đạt hiệu suất từ $40,0%$ đến $97,1%$. Tác giả đã kéo dài thời gian phản ứng lên 4 giờ (đối với anđehit thơm) và 6 giờ (đối với menthon) trong dung môi etanol đun hồi lưu, giúp phản ứng diễn ra thuận lợi mà không cần bổ sung bất kỳ chất xúc tác axit hay bazơ nào.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Thị Xuân Mai đã tổng hợp thành công dãy 14 hợp chất trung gian và dẫn xuất chứa dị vòng 1,2,4-triazole đi từ nguồn nguyên liệu ban đầu là o-crezol và m-crezol qua chuỗi 5 giai đoạn phản ứng liên hoàn. Cấu trúc hóa học và các hằng số vật lý của toàn bộ các sản phẩm đã được xác định và chứng minh rõ ràng thông qua nhiệt độ nóng chảy, phổ hồng ngoại (FT-IR) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân đa chiều ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, HMBC, HSQC/HMQC). Công trình cung cấp quy trình thực nghiệm chi tiết, giải quyết bài toán chọn lọc vị trí phản ứng giữa các nhóm chức amino cạnh tranh và đóng góp tư liệu thực nghiệm có giá trị cho lĩnh vực tổng hợp hóa học dị vòng hữu cơ.