Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản. Theo từ điển pháp luật hình sự định nghĩa tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý [49, 283].
Theo pháp luật hình sự hiện hành ở nước ta, khái niệm tội phạm được các nhà làm luật ghi nhận trong Điều 8 BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015). Theo đó, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [12, Điều 8]. Trong BLHS Việt Nam, tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173, trong chương XVI các tội xâm phạm sở hữu BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với khách thể trực tiếp của tội phạm là quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức. Là tội phạm có bản chất là tội chiếm đoạt, tức là người có hành vi trộm cắp tài sản đã cố ý chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ người có tài sản sang mình hoặc sang cho người khác mà mình quan tâm đến.
Thủ đoạn của việc chiếm đoạt đó là hành vi được thực hiện một cách lén lút. Ngoài những dấu hiệu pháp lý chung của tội phạm thì tội trộm cắp tài sản còn có một số đặc điểm, dấu hiệu pháp lý riêng, vừa để xác định bản chất pháp lý cơ bản của tội trộm cắp tài sản, vừa để phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản với 7 một số tội có tính chất chiếm đoạt khác. Căn cứ quy định của Điều 173 BLHS năm 2015 và trên cơ sở tổng kết các quan điểm khác nhau trong khoa học luật hình sự, khái niệm tội trộm cắp tài sản được định nghĩa như sau: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý, được thực hiện bởi người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân”. Đặc điểm riêng biệt mang tính đặc thù của tội trộm cắp tài sản là hành vi thực hiện một cách lén lút, không có tính chất lén lút thì không phải là trộm cắp tài sản.
Các nghiên cứu của các nhà khoa học đều coi lén lút là thủ đoạn chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản và đã là hành vi lén lút thì có nghĩa là bí mật, không công khai. Trong tội trộm cắp tài sản, thì hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có đầy đủ những dấu hiệu này, thiếu một trong những dấu hiệu đó sẽ không thể hiện được bản chất của sự lén lút, bởi nếu làm một việc quang minh chính đại thì không bao giờ phải lén lút. Hay nói cách khác, lén lút là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm giấu diếm, vụng trộm và không để lộ cho người khác biết để nhằm mục đích chiếm đoạt trái phép tài sản của họ. Tuy nhiên, nếu tất cả hành vi lén lút của tội trộm cắp tài sản được thực hiện một cách vụng trộm, giấu diếm thì việc nhận biết, đánh giá và việc định tội danh cũng dễ dàng hơn.
Nhưng trong thực tế thì hành vi lén lút có nhiều cách thể hiện khác nhau. Có những hành vi lén lút được thực hiện một cách vụng trộm, giấu diếm đó là trường hợp che giấu toàn bộ sự việc phạm tội, nhưng cũng có những hành vi lén lút lại được người phạm tội thực hiện một cách công khai, không có ý giấu diếm hoặc che đậy, đó là trường hợp người phạm tội chỉ che giấu hành vi phạm tội đối với chủ tài sản mà không che giấu đối với những người xung quanh. Mặc dù tính chất lén lút là trưng cơ bản nổi bật của tội trộm cắp tài sản nhưng không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản mà đi kèm với nó là hành vi chiếm đoạt tài sản. 8 Đối chiếu với đặc trưng nổi bật như vậy, thì quy định của Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới cũng tương tự, ví dụ: * Quy định của Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tội trộm cắp tài sản.
BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 01/7/1979, có hiệu lực từ ngày 01/01/1980 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1997, 1999, 2001, 2002 và 2005. Theo đó, tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 264 trong chương “Tội xâm phạm tài sản” BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như sau: “Người nào có hành vi trộm cắp tài sản của công hoặc tư với số lượng tương đối lớn hoặc trộm cắp nhiều lần thì bị phạt tù đến dưới ba năm, cải tạo lao động hoặc quản chế, kèm theo phạt tiền hoặc chỉ bị phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng lớn hoặc có những tình tiết nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm và bị phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng đặc biệt lớn hoặc có những tình tiết đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ mười năm trở lên hoặc tù chung thân và bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản; nếu có một trong những hành vi dưới đây thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình và bị tịch thu tài sản: 1. Trộm cắp tiền, tài sản với số lượng đặc biệt lớn từ ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác; 2. Trộm cắp di sản quý hiếm, có tình tiết nghiêm trọng” [13, tr168].
Thông qua quy định trên cho thấy điều luật cũng chỉ nêu được tên của hành vi trộm cắp tài sản mà không đưa ra được khái niệm mô tả hành vi thế nào là trộm cắp tài sản. Dấu hiệu bắt buộc được phản ánh trong cấu thành tội phạm của điều luật này là hậu quả thiệt hại về tài sản, đồng thời điều luật cũng không quy định rõ giá trị tài sản bị chiếm đoạt tối thiểu là bao nhiêu mà chỉ sử dụng các thuật ngữ chung chung như “số lượng lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, điều này sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, và quy định như vậy 9 cũng rất khó để xác định được đâu là vi phạm hành chính và đâu là vi phạm hình sự. Về hình phạt bao gồm hình phạt tiền, cải tạo lao động hoặc quản chế, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. So với Bộ luật hình sự Việt Nam, hình phạt cao nhất đối với tội trộm cắp tài sảm là đến 20 năm, còn đối với Luật hình sự Trung Hoa là tử hình.
* Quy định của BLHS Liên bang Nga đối với tội trộm cắp tài sản. Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 158 chương “Các tội xâm phạm quyền sở hữu” của BLHS Liên bang Nga hiện hành, được ban hành năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 2010, như sau: “1. Trộm cắp tài sản nghĩa là bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tiền đến tám mươi nghìn rúp hoặc bừng lương hoặc bằng thu nhập khác của người bị kết án đến sáu tháng, hoặc bị phạt lao động đến một trăm tám mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ sáu tháng đến một năm, hoặc bị hạn chế tự do đến hai năm, hoặc bị phạt giam đến bốn tháng, hoặc bị phạt tù đến hai năm. Hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện: a) Bởi nhóm người có bàn bạc từ trước; b) Kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà hoặc nhà kho khác; c) Kèm theo việc gây ra thiệt hại đáng kể cho công dân; d) Từ quần áo, túi xách hoặc đồ xách tay khác trên người bị hại thì bị phạt tiền đến hai trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm.
Hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện: 10 a) Kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà ở; b) Từ ống dầu mỏ, ống dẫn các sản phẩm dầu mỏ, ống dẫn ga; c) Ở mức độ nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ một trăm nghìn đến năm trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hoặc bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm; 4. Hành vi trộm cắp được thực hiện: a) Bởi nhóm có tổ chức; b) Ở mức độ đặc biệt lớn thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm hoặc không kèm theo bị phạt tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến hai năm”. Theo quy định của Bộ luật hình sự Liên bang Nga cho thấy tại điều luật đã đưa ra được định nghĩa của tội trộm cắp tài sản. Theo đó, hành vi phạm tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản một cách bí mật tài sản của người khác.
Điều luật đã mô tả được thế nào là hành vi trộm cắp, đó là hành vi bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng lại không quy định trị giá tài sản cụ thể là bao nhiêu mà chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị coi là phạm tội trộm cắp và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.